Lê Quỳnh Anh, 
Tồn tại mờ ảo, Collagraph, 2024. 
Giải Nhất
Lê Quỳnh Anh, Tồn tại mờ ảo, Collagraph, 2024. Giải Nhất

Ngày 10/7/2026, Lễ Khai mạc và trao giải Festival Mỹ thuật Trẻ lần thứ 8 diễn ra tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA), Hà Nội, do Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, Bộ VHTTDL tổ chức. Festival lần này có sự tham gia của 585 tác giả thuộc thế hệ nghệ sĩ từ 18 đến 35 tuổi. Có 866 tác phẩm thuộc các loại hình hội họa, đồ họa, điêu khắc, sắp đặt và video art. Hội đồng Nghệ thuật tuyển chọn được 211 tác phẩm của 185 tác giả để trưng bày, đồng thời đề cử và trao 31 giải thưởng gồm: 3 giải Nhất, 5 giải Nhì, 9 giải Ba, 11 giải Khuyến khích và 3 giải Đồ án Tốt nghiệp. Triển lãm mở cửa phục vụ công chúng đến hết ngày 15/9/2026.

PGS,TS Ngô Tuấn Phong, Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Phó Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật đánh giá chất lượng Festival năm nay có bước tiến rõ rệt so với mùa trước, đặc biệt về sức sống và dấu ấn sáng tạo của các tác phẩm.

Nhìn vào hệ thống tác phẩm gửi tham dự gồm: 689 tác phẩm hội họa, 64 tác phẩm đồ họa, 93 tác phẩm điêu khắc, 17 tác phẩm nghệ thuật sắp đặt và 3 tác phẩm video art, chúng ta có thể dễ nhận ra một đặc điểm cấu trúc nhất quán: hội họa vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo, và trong nhóm hội họa, các chất liệu truyền thống như sơn mài và lụa tiếp tục là những lựa chọn được sử dụng phổ biến nhất. Các loại hình phi truyền thống như sắp đặt và art video có mặt nhưng với số lượng còn hạn chế so với tổng thể. Đây là bức tranh phản ánh rộng hơn tình trạng của hệ thống đào tạo và thực hành mỹ thuật hiện nay, không phải chỉ của riêng kỳ Festival. Hội đồng Nghệ thuật năm nay lựa chọn không tập trung giải thưởng vào một chuyên ngành hay khuynh hướng duy nhất, mà ghi nhận sự phong phú trên diện rộng: từ điêu khắc, sơn mài, đồ họa cho đến sắp đặt đa chất liệu, in khắc gỗ phá bản, xé dán bao bì nhựa và gốm nung quy mô lớn - phản ánh quan điểm coi sự đa dạng ngôn ngữ tạo hình đương đại là điều kiện cần được ghi nhận và khuyến khích.

Ngài Marco della Seta, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Italia tại Việt Nam, tới tham quan triển lãm.
 Ảnh: VCCA
Ngài Marco della Seta, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Italia tại Việt Nam, tới tham quan triển lãm. - Ảnh: VCCA

Di sản như diễn ngôn tạo hình đương đại

Một trong những điểm được giới chuyên môn đánh giá tích cực nhất tại Festival lần thứ 8 này là cách tiếp cận di sản văn hóa của một bộ phận đáng kể tác giả tham dự. Nếu ở các kỳ Festival trước, di sản thường được khai thác chủ yếu như nguồn tư liệu chủ đề tức là chọn một hình tượng truyền thống và tái hiện lại bằng kỹ thuật quen thuộc thì ở lần tổ chức thứ 8, có thể nhận thấy một xu hướng khác: nhiều nghệ sĩ trẻ sử dụng di sản như hệ ngôn ngữ tạo hình để tiếp cận các hiện trạng của đời sống đương đại. Nghệ thuật dân gian, văn hóa tộc người, tín ngưỡng bản địa, ký ức cộng đồng… Những nguồn tư liệu này xuất hiện trong tác phẩm không như đối tượng tôn vinh mà như lăng kính để nhìn vào đô thị hóa, biến đổi bản sắc, hay sự dịch chuyển của ký ức địa phương trước áp lực hiện đại hóa.

Sự chuyển dịch này có ý nghĩa quan trọng về mặt tư duy tạo hình. Khi di sản trở thành điểm xuất phát thay vì điểm đến, người nghệ sĩ buộc phải hiểu kỹ thuật và ngữ nghĩa của di sản đủ sâu để có thể đặt câu hỏi với nó, mở rộng nó hoặc tạo ra sự căng thẳng giữa nó và ngữ cảnh đương đại. Đây là đòi hỏi cao hơn nhiều so với việc chỉ thuần thục kỹ thuật. Và khi đạt được, nó tạo ra những tác phẩm có chiều sâu ý niệm mà không đánh mất kết nối với truyền thống - điều mà mỹ thuật Việt Nam có lợi thế thực sự so với nhiều nền mỹ thuật khác trong bối cảnh nghệ thuật thế giới.

Cần nhấn mạnh rằng việc tiếp tục lựa chọn sơn mài, lụa hay gốm không tự thân là lối mòn, và không nên soi xét với góc nhìn như vậy. Đây là những chất liệu đòi hỏi thời gian làm chủ thực sự và có độ khó kỹ thuật cao. Sơn mài truyền thống yêu cầu nhiều tháng thực hiện, với nhiều lớp sơn xen kẽ theo quy trình nghiêm ngặt; gốm nung quy mô lớn đặt ra thách thức kiểm soát nhiệt độ và tỉ lệ co ngót mà ngay cả những người thợ có kinh nghiệm lâu năm cũng phải thận trọng. Khi nghệ sĩ trẻ đầu tư thời gian và công sức để làm chủ những kỹ thuật đó đến mức hoàn thiện về mặt chế tác, đó là kế thừa có chiều sâu và là nền tảng không thể thiếu cho bất kỳ sự đổi mới nào về sau. Vấn đề đặt ra không phải là chất liệu, mà là việc kết hợp giữa kỹ nghệ sử dụng chất liệu và tư duy sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ.

Nguyễn Ngọc Long, Hành trình vững bước, gốm, 2024. 
Giải Nhì
Nguyễn Ngọc Long, Hành trình vững bước, gốm, 2024. Giải Nhì

Những giới hạn trong tư duy sáng tạo và nguyên nhân cấu trúc

Bên cạnh những chuyển biến tích cực, giới chuyên môn cũng ghi nhận rằng nhiều tác phẩm trong Festival lần này vẫn chưa phản ánh trực diện và mạnh mẽ những vấn đề của đời sống xã hội đương đại. Trong khi một số tác phẩm có chiều sâu khai thác ký ức văn hóa và bản sắc cộng đồng, những đề tài có tính thời đại rõ hơn như chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, hay những dịch chuyển xã hội trong kỷ nguyên toàn cầu hóa vẫn còn xuất hiện ở mức thưa thớt. Phần lớn tác phẩm vẫn nằm trong một phổ chủ đề tương đối quen thuộc, và ngôn ngữ tạo hình, dù có đổi mới về hình thức, chưa nhiều trường hợp tạo ra những đột phá thực sự về tư duy biểu đạt.

Điều này có thể được lý giải từ một số nguyên nhân có tính hệ thống. Chương trình đào tạo mỹ thuật ở bậc đại học ở nước ta hiện nay vẫn đặt trọng tâm vào kỹ năng, kỹ thuật và khai thác chủ đề di sản, trong khi lý luận phê bình nghệ thuật đương đại, lịch sử mỹ thuật quốc tế và tư duy giám tuyển - những công cụ cho phép nghệ sĩ đặt tác phẩm của mình vào đối thoại với bối cảnh rộng hơn - chưa được tích hợp đầy đủ vào hầu hết các chương trình. Khi thiếu những nền tảng lý luận đó, người học sẽ có xu hướng vận hành trong phạm vi những gì đã được công nhận, vì đây là con đường ít rủi ro nhất trong môi trường đào tạo và thi cử. Xu hướng này tiếp tục kéo dài sang giai đoạn thực hành sáng tác sau khi ra trường.

Cơ chế giải thưởng của Festival, dù không phải yếu tố duy nhất, cũng có tác động nhất định đến tư duy sáng tác của nghệ sĩ trẻ tham dự. Qua nhiều lần tổ chức, người tham dự rút ra những quan sát về loại tác phẩm nào được ghi nhận, từ những quan sát đó ảnh hưởng đến lựa chọn đề tài, chất liệu và cách xử lý trong chu kỳ sáng tác tiếp theo. Đây là một vòng phản xạ tự nhiên của bất kỳ hệ thống giải thưởng nào, và không nhất thiết là tiêu cực nếu những tín hiệu được gửi đi là đúng hướng. Câu hỏi được đặt ra là liệu cơ cấu giải thưởng hiện tại đã tạo đủ không gian để ghi nhận các thử nghiệm chưa hoàn chỉnh nhưng có tư duy mới hay chưa và nếu chưa, điều đó ảnh hưởng như thế nào đến môi trường sáng tạo của không

Cũng cần đặt câu hỏi về tính đại diện địa lý của Festival. Dù mở cửa cho toàn bộ nghệ sĩ trẻ trên cả nước, điều kiện tiếp cận thực tế thông tin, khả năng vận chuyển tác phẩm, tiếp cận cơ sở đào tạo chất lượng, và tiếp xúc với xu hướng nghệ thuật đương đại - không đồng đều giữa các khu vực. Điều này ảnh hưởng đến cơ cấu tác giả tham dự và được ghi nhận, và nếu không được tính đến trong thiết kế của festival, có thể vô tình tạo ra sự tập trung nguồn lực và sự chú ý vào một nhóm tác giả đã có lợi thế sẵn có.

Nguyễn Hải Yến, Dòng chảy S’tiêng, sơn mài, 2025. 
Giải Nhất
Nguyễn Hải Yến, Dòng chảy S’tiêng, sơn mài, 2025. Giải Nhất

“Sân chơi” cần thiết cho mỹ thuật trẻ

Nhìn từ góc độ phát triển dài hạn, Festival Mỹ thuật Trẻ đang đứng trước một câu hỏi có tính chiến lược: sự kiện hai năm một lần có thể làm được gì, và những gì nằm ngoài khả năng của nó cần được giải quyết bằng những cơ chế nào khác? Đây là câu hỏi quan trọng, bởi kỳ vọng đặt vào Festival đôi khi lớn hơn những gì một sự kiện định kỳ có thể đảm nhiệm. Festival có thể tạo ra không gian gặp gỡ, khảo sát diện mạo và ghi nhận thành tựu; nhưng nó không thể thay thế những cơ chế phát triển dài hạn mà mỹ thuật trẻ cần để thực sự trưởng thành.

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Tạ Quang Đông, Trưởng Ban Chỉ đạo Festival, đã nhấn mạnh tại Lễ Khai mạc sự cần thiết phải xây dựng một hệ sinh thái mỹ thuật đồng bộ, bao gồm đào tạo, lý luận phê bình, giám tuyển, bảo tàng, triển lãm, thị trường nghệ thuật và các chương trình giao lưu quốc tế. Đây là nhận định phản ánh đúng những gì thực tế đang thiếu hụt: phần lớn nghệ sĩ trẻ Việt Nam hiện nay hoạt động trong điều kiện thiếu tiếp cận với lý luận phê bình nghệ thuật nghiêm túc, thiếu mạng lưới giám tuyển chuyên nghiệp, thiếu không gian thực nghiệm được hỗ trợ và thiếu các chương trình trao đổi quốc tế có chiều sâu. Khi những mắt xích đó còn thiếu, những gì được kích thích qua Festival sẽ khó chuyển hóa thành định hướng sáng tác bền vững giữa các kỳ tổ chức.

Thị trường nghệ thuật là một trong những mắt xích quan trọng nhưng ít được thảo luận công khai nhất trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam. Khi thị trường không có cấu trúc đủ minh bạch và không sự đối thoại giữa nhu cầu của khách hàng và tác giả, nghệ sĩ trẻ thiếu đi một kênh điều chỉnh quan trọng bên cạnh hệ thống giải thưởng. Trong khi đó, các chương trình giao lưu quốc tế, triển lãm ở nước ngoài, hợp tác với giám tuyển quốc tế hiện nay phần lớn phụ thuộc vào quan hệ cá nhân và nguồn lực tự thân của từng nghệ sĩ, thay vì được hỗ trợ bởi các chương trình có cơ cấu. Sự thiếu hụt này trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng của nghệ sĩ trẻ Việt Nam trong việc định vị tác phẩm của mình trong bối cảnh nghệ thuật khu vực và quốc tế.

Nguyễn Thành Nhân, 
Dinh Ông Thượng, 
sơn mài, 2025. 
Giải Nhì
Nguyễn Thành Nhân, Dinh Ông Thượng, sơn mài, 2025. Giải Nhì

Kế thừa và đổi mới trong bối cảnh công nghiệp văn hóa

Đặt Festival Mỹ thuật Trẻ trong bối cảnh rộng hơn của chính sách phát triển công nghiệp văn hóa mà Việt Nam đang thúc đẩy, câu hỏi về mối quan hệ giữa di sản và đổi mới mang thêm một chiều kích mới. Thứ trưởng Tạ Quang Đông nhấn mạnh vai trò của mỹ thuật trẻ trong việc gắn kết sáng tạo nghệ thuật với công nghiệp văn hóa, du lịch và các ngành kinh tế sáng tạo. Điều này đặt ra yêu cầu với nghệ sĩ trẻ không chỉ trong vai trò người sáng tạo thuần túy mà còn trong vai trò những người đóng góp vào quá trình xây dựng hình ảnh văn hóa quốc gia và phát triển nền kinh tế sáng tạo. Trong bối cảnh đó, câu hỏi về mối quan hệ giữa di sản và đổi mới không đơn thuần là câu hỏi thẩm mỹ mà còn là câu hỏi chiến lược.

Di sản mỹ thuật Việt Nam, với hệ chất liệu đặc thù như sơn mài, lụa, gốm cùng truyền thống tạo hình hình thành từ thời kỳ Đông Dương qua các thế hệ là lợi thế cạnh tranh có thực trong bối cảnh nghệ thuật toàn cầu, nơi những thực hành khái niệm thuần túy ngày càng trở nên khó phân biệt về nguồn gốc địa lý và văn hóa. Sự kết hợp giữa tri thức kỹ thuật chất liệu truyền thống và tư duy tạo hình đương đại là điều mà mỹ thuật Việt Nam có thể làm theo cách khác biệt nếu được phát triển có định hướng. Đây không phải là lý do để cố thủ trong truyền thống, mà là lý do để đầu tư vào sự hiểu biết sâu về truyền thống như điều kiện của đổi mới thực chất.

Festival Mỹ thuật Trẻ lần thứ 8 cho thấy một thế hệ nghệ sĩ có kỹ thuật được đầu tư nghiêm túc, có ý thức về bản sắc văn hóa và đang tìm kiếm những cách thức mới để đặt di sản vào đối thoại với đời sống đương đại. Những chuyển biến trong tư duy tiếp cận di sản là có thực và đáng ghi nhận. Song để những chuyển biến đó phát triển thành những đóng góp định hình diện mạo mỹ thuật trẻ Việt Nam theo nghĩa dài hạn, câu hỏi không chỉ dừng lại ở chất lượng nghệ thuật của từng kỳ Festival, mà còn ở việc những điều kiện phát triển nào đang được xây dựng trong khoảng thời gian giữa các kỳ tổ chức. Thứ còn cần không phải là thêm một giải thưởng, mà là một hệ sinh thái đủ đồng bộ để những gì Festival phát hiện ra có đất tiếp tục sinh trưởng.

HẢI ANH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 653, tháng 8/2026