
Xây dựng nền tảng hợp tác dài hạn giữa sơn mài Việt Nam và Wajima-nuri
Nghệ thuật sơn mài Việt Nam, với gốc cốt lõi là nhựa cây sơn ta (Toxicodendron succedaneum), sở hữu đặc tính dẻo, tạo khả năng chồng nhiều lớp màu và mài phẳng để làm hiển lộ các lớp họa tiết ẩn sâu dưới bề mặt. Đây là sự chuyển hóa mang tính bước ngoặt từ thủ công mỹ nghệ sang hội họa sơn mài vào đầu thế kỷ XX. Ngược lại, Wajima-nuri – biểu tượng sơn mài lâu đời của Nhật Bản – sử dụng nhựa cây urushi (Toxicodendron vernicifluum), lại có độ bền cơ học cao thông qua kỹ thuật gia cố bằng bột đá diatomite (jinoko) đặc trưng của vùng Wajima, kết hợp với quy trình phân công lao động nghiêm ngặt và tính chuẩn xác tuyệt đối trong phom dáng vật dụng.
Mặc dù khác biệt về ngôn ngữ thẩm mỹ và quy trình kỹ thuật, cả hai nền nghệ thuật này đang đối diện với những biến động giống nhau trong bối cảnh hiện đại: sự đứt gãy trong chuỗi truyền thừa thế hệ, sự thu hẹp của thị trường tiêu dùng truyền thống và áp lực tự định vị lại giá trị trong không gian nghệ thuật đương đại. Do đó, việc xây dựng một nền tảng mang tính dài hạn là giải pháp cần thiết.
So sánh với các dự án văn hóa từng có tại Việt Nam, ví dụ như “Con đường gốm sứ ven sông Hồng”, có thể thấy sự khác biệt rõ rệt. Dự án “Con đường gốm sứ” thiên về xu hướng nghệ thuật công cộng mang tính biểu tượng vật thể đại chúng, sử dụng chất liệu truyền thống để cải tạo không gian kiến trúc đô thị trên quy mô lớn. Ngược lại, “Con đường Sơn mài Việt – Nhật” tập trung vào chiều sâu học thuật, đi sâu vào cấu trúc vi mô của kỹ nghệ và mối quan hệ tương tác giữa các chủ thể sáng tạo. Định dạng này gần gũi hơn với các dự án hợp tác nghiên cứu bảo tồn di sản phi vật thể phức hợp, tương tự như các chương trình nghiên cứu tu bổ kiến trúc gỗ cổ truyền giữa chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản tại Hội An hay Huế. Tính dài hạn của dự án sơn mài này được bảo chứng bởi hệ thống hoạt động đa diện, từ hợp tác học thuật, công bố nghiên cứu tại Hội Khoa học Thiết kế Nhật Bản (Japanese Society for the Science of Design), cho đến việc lưu trữ và xây dựng kho tư liệu số. Đây là phương thức tiếp cận mang tính hệ thống, đảm bảo di sản được tiếp cận như một đối tượng khoa học sống động chứ không chỉ là sản phẩm mỹ nghệ trưng bày.



Không gian đối thoại đương đại và vai trò của các chủ thể sáng tạo
Mục tiêu thứ hai của dự án là thiết lập một không gian đối thoại đa chiều. Trong mô hình truyền thống, nghệ nhân thường vận hành theo cơ chế bảo tồn nghiêm ngặt tính nguyên bản của kỹ thuật, trong khi nghệ sĩ đương đại có xu hướng phá vỡ các quy tắc vật liệu để tìm kiếm ngôn ngữ biểu đạt mới. Không gian đối thoại của dự án hướng tới việc dung hợp hai cực này, biến chất liệu sơn mài thành một phương tiện tư duy đương đại. Việc cân bằng giữa nguyên bản và tự do sáng tạo được tách bạch hai lớp – phần “ghi chép để bảo tồn” (thuộc về cộng đồng, được bảo vệ) và phần “chất liệu cho đối thoại sáng tạo” (ngôn ngữ hình thức, tinh thần, câu chuyện – thứ nghệ sĩ đương đại có thể diễn giải tự do, với điều kiện ghi nhận nguồn gốc). Ranh giới này không cố định mà được thương lượng theo từng trường hợp cụ thể cùng nghệ nhân, thay vì áp một quy tắc chung cho mọi kỹ nghệ.
Theo đó, Hợp phần 1 của dự án, diễn ra vào tháng 9/2026, đưa ba nghệ sĩ và nhà nghiên cứu sơn mài Việt Nam đến thành phố Wajima, tỉnh Ishikawa. Nghệ sĩ Trương Hoàng Hải - Nhà nghiên cứu sơn mài là người có năng lực chuyên sâu trong việc giải phẫu kỹ thuật và khảo cứu lịch sử vật liệu. Sở trường của anh nằm ở việc kết hợp giữa thực hành sáng tác và tư duy học thuật luận chứng. Anh đóng vai trò kết nối ngôn ngữ kỹ thuật, giúp phân tích các tương đồng và dị biệt mang tính khoa học giữa sơn ta và urushi, từ đó đặt nền móng cho các công trình nghiên cứu chung.
Nghệ sĩ điêu khắc – Sơn mài Đinh Công Đạt là một trong những nghệ sĩ có đóng góp quan trọng trong việc dịch chuyển giới hạn của sơn mài từ mặt phẳng hội họa sang không gian ba chiều của điêu khắc và nghệ thuật sắp đặt. Với tư duy hình khối sắc sảo và khả năng xử lý bề mặt linh hoạt, sở trường của ông là phá vỡ các định kiến về công năng mang tính trang trí thông thường của chất liệu. Tại Wajima, sự cọ xát của Đinh Công Đạt với kỹ nghệ tạo phom dáng chuẩn mực của Nhật Bản được kỳ vọng sẽ mở ra những thử nghiệm cấu trúc mới cho điêu khắc sơn mài đương đại.

Mang nhãn quan của một nhà thiết kế thị giác và định hướng thực hành liên ngành, Nghệ sĩ thị giác – Founder Collective Sonson Trần Thảo Miên có thế mạnh trong việc kết nối nghệ thuật thủ công với tư duy thiết kế ứng dụng đương đại và chất liệu bền vững. Đóng góp của cô thông qua Collective Sonson cho thấy năng lực tổ chức cộng đồng và khả năng chuyển hóa các giá trị di sản thành ngôn ngữ thiết kế có tính tương tác cao với đời sống hiện đại. Vai trò của cô trong dự án là thúc đẩy sự đối thoại giữa tính thẩm mỹ nguyên bản và nhu cầu tiêu dùng của thế hệ mới.
Là đơn vị điều phối phía Việt Nam, Giám đốc Hanoi Grapevine Nguyễn Vũ Tú Hằng cho biết: “Các hợp phần diễn ra trong năm 2026 – chương trình nghiên cứu tại Wajima và phần trưng bày tại Hà Nội – được Ban tổ chức xác định là giai đoạn khởi động. Để “Con đường Sơn mài” có thể tự vận hành sau đó, chúng tôi xây dựng ba cơ chế song song: Thứ nhất là kho lưu trữ số, ghi lại quá trình sáng tác, đối thoại và cả tri thức truyền nghề dưới dạng tư liệu ảnh, video và văn bản. Điều quan trọng là kho lưu trữ này được phân tầng: có một lớp mở, phục vụ công chúng và nghiên cứu, và một lớp giới hạn hơn, chỉ dành cho cộng đồng nghệ nhân, do chính họ quyết định phần nào được chia sẻ ra ngoài. Thứ hai là công bố học thuật – việc trình bày tại các diễn đàn như Hội Khoa học Thiết kế Nhật Bản và các bài viết đồng tác giả giúp tri thức dự án tồn tại độc lập với chu kỳ tài trợ, đồng thời tạo cơ sở để xin thêm nguồn lực cho các giai đoạn tiếp theo. Thứ ba là mentoring – chúng tôi chủ đích kết nối nghệ sĩ/nghệ nhân trẻ ngay từ đầu, để mạng lưới không phụ thuộc vào thế hệ sáng lập mà có thể tự tái sinh qua các cặp mentor–mentee mới, kể cả khi Hanoi Grapevine và TAKI không còn trực tiếp điều phối.”

Bảo tồn tri thức truyền thống và kiến tạo tương lai
Giai đoạn 2 của dự án, dự kiến diễn ra vào tháng 11/2026 thông qua việc tham gia Lễ hội Thiết kế Sáng tạo tại Hà Nội. Tại đây, các thành quả sáng tác chung và sản phẩm sơn mài từ Wajima sẽ được giới thiệu trong khuôn khổ triển lãm thuộc dự án “Đình trong phố” do nghệ sĩ Nguyễn Thế Sơn giám tuyển. Về mặt xã hội, hoạt động này đóng góp lớn vào việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị kinh tế sáng tạo dựa trên nền tảng di sản. Công chúng không chỉ thưởng thức tác phẩm như những hiện vật tĩnh trong bảo tàng, mà được tham gia vào các chương trình giáo dục, trò chuyện, tương tác với các nghệ sĩ và nhà nghiên cứu. Điều này kích thích niềm tự hào văn hóa bản địa, đồng thời tạo ra một góc nhìn khách quan về vị thế của thủ công truyền thống Việt Nam trong tương quan quốc tế.
Bà Nguyễn Vũ Tú Hằng cho biết, có ba hướng tác động cụ thể mà dự án hướng tới. Một là thay đổi nhận thức của cư dân đô thị về sơn mài – từ một di sản trong bảo tàng thành một thực hành sống. Vì vậy dự án chủ đích đưa phần trưng bày vào khuôn khổ “Đình trong phố” – nằm trong không gian đô thị thường nhật của Hà Nội. Hai là mở đường kinh tế sáng tạo cho người trẻ: cho thấy nghề thủ công truyền thống có thể là một con đường sự nghiệp khả thi – kết hợp giữa nghệ sĩ, nhà nghiên cứu và nhà thiết kế – chứ không chỉ là di sản cần gìn giữ một cách thụ động. Về lâu dài,kho tư liệu và mạng lưới nghệ nhân–nhà thiết kế hình thành từ dự án có thể trở thành điểm kết nối cho các hợp tác thương mại hoặc đơn đặt hàng thiết kế sau này, vượt ra ngoài khuôn khổ dự án. Ba là bài học phục hồi cộng đồng từ trường hợp Wajima. Việc thành phố Wajima dùng nghề sơn mài làm điểm tựa để phục hồi kinh tế – văn hóa sau thiên tai có thể tham chiếu cho các làng nghề sơn mài Việt Nam đang đối diện với suy giảm thị trường và đứt gãy truyền nghề, dù không phải do thiên tai.
Bà khẳng định: “Đây là những mục tiêu chiến lược cho giai đoạn đầu, không phải cam kết đã hoàn thành. Thành công thực sự sẽ được đo không chỉ bằng phản hồi thẩm mỹ tại triển lãm, mà bằng việc bao nhiêu nghệ nhân tiếp tục tham gia sau khi hợp phần 2026 kết thúc, bao nhiêu hợp tác thiết kế/thương mại nảy sinh từ mạng lưới này, và liệu tri thức được ghi chép có thực sự được cộng đồng nghệ nhân sử dụng lại hay không!”.
Bài: Nguyễn Kim Dung; Ảnh: Hằng Nguyễn
Nguồn: Tạp chí VHNT số 653, tháng 8/2026