Di sản đình làng - Nguồn lực nội sinh văn hóa Việt. Kỳ 2: “Đình bao nhiêu ngói, thương đình bấy nhiêu”

Mái đình Chu Quyến, Hà Nội - Ảnh: NĐB.jpg
 Mái đình Chu Quyến, Hà Nội - Ảnh: NĐB

Làng quê biến đổi và vị thế của không gian sân đình

Đình làng từ bao đời nay không chỉ là một công trình tín ngưỡng phục vụ việc thờ cúng Thành hoàng làng, mà còn là trung tâm hành chính, văn hóa và xã hội của cộng đồng cư dân nông thôn. Nơi đây là không gian hội tụ, lưu giữ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống, đại diện cho cốt cách và “phần hồn” của làng xã Việt Nam.

Giai đoạn từ năm 2010 đến nay chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của làng quê Việt Nam, đặc biệt dưới tác động của một số chương trình mục tiêu quốc gia, như Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010 -20201, Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012 - 20152. Nguồn lực kinh tế dồi dào đã và sẽ làm thay đổi diện mạo hạ tầng nông thôn, nâng cao đời sống vật chất của người dân. Trong bối cảnh đó, công tác quản lý, bảo tồn di sản cũng đạt được những bước tiến. Tính đến năm 2025, cả nước có hơn 40.000 di tích và khoảng gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê, 147 di tích quốc gia đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng, 3.677 di tích quốc gia.3

Chỉ tính riêng Hà Nội có 6.489 di tích các loại, trong đó hơn 700 đình làng/1.500 di tích cấp thành phố; hơn 500 đình làng/1.200 di tích quốc gia; 22 di tích và cụm di tích quốc gia đặc biệt thì có 6 đình làng (Tây Đằng, Tường Phiêu, Chèm, Đại Phùng, So, Hạ Hiệp, chưa kể một số đình nằm trong cụm di tích).4

Hà Nội khẳng định vị thế “trái tim” di sản khi sở hữu mật độ đình làng dày đặc bậc nhất, đóng vai trò trục xương sống trong hệ thống di tích toàn quốc. Tiếp đến là Bắc Ninh, Hưng Yên, Phú Thọ, Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Ninh, xuôi vào miền Trung và các tỉnh phía Nam tuy không rực rỡ như đình làng Bắc Bộ nhưng mang những dấu ấn riêng. Mỗi ngôi đình là một “bảo tàng sống”. Trong tương quan chung, mạng lưới này không chỉ đại diện cho bề dày lịch sử mà còn là nguồn lực nội sinh mạnh mẽ.

Với sự đầu tư từ ngân sách, nguồn xã hội hóa, di tích lịch sử văn hóa, các thiết chế văn hóa ở nhiều địa phương thay đổi rõ rệt. Nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng được xây mới, trở thành điểm đến không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh mà còn phục vụ phát triển du lịch. Không ít đình làng được người dân phục dựng trên nền di tích cũ, hoặc được trùng tu khang trang. Phải kể đến dự án tu bổ đình Chu Quyến, đây là ngôi đình mẫu mực của Xứ Đoài. Dự án tu bổ do Bộ VHTTDL chủ trì, Viện Bảo tồn di tích thực hiện bài bản, được xem là tiêu biểu của Việt Nam và đã giành giải thưởng lớn về bảo tồn di sản kiến trúc của UIA năm 2010.

Tuy nhiên, bức tranh bảo tồn không chỉ có những gam màu sáng. Chỉ tính từ giai đoạn 2010 đến 2020, sự gia tăng về nguồn lực đầu tư (từ ngân sách và xã hội hóa) cùng tư duy quản lý bất cập, lỏng lẻo ở không ít địa phương đã đưa hệ thống đình làng vào những thách thức.

Bên cạnh đình Đình Chu thủng mái, dột nát chờ tu bổ thì có 2 nhà văn hóa khang trang (cũ và mới), ảnh chụp tháng 7/2016 - Ảnh: NĐB.jpg
Bên cạnh đình Đình Chu thủng mái, dột nát chờ tu bổ thì có 2 nhà văn hóa khang trang (cũ và mới), ảnh chụp tháng 7/2016 - Ảnh: NĐB

Nhà văn hóa được xây mới, đình làng mòn mỏi chờ tu sửa

Giai đoạn 2016 - 2017, dư luận xót xa trước cảnh kêu cứu của đình Đình Chu (Phú Thọ) – di tích quốc gia từ năm 1996, nổi bật với nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Lê – Nguyễn. Ngôi đình khi đó xô nghiêng, mái thủng, cấu kiện gỗ mục ruỗng nghiêm trọng do thấm dột. Lý giải sự chậm trễ, lãnh đạo UBND huyện (huyện Lập Thạch cũ) cho rằng để có kinh phí tu bổ, địa phương cần thời gian thực hiện nghiêm các quy trình, thủ tục xin kinh phí theo Luật Đầu tư công. Tuy nhiên, những người có trách nhiệm quản lý ở đây lại quên mất việc thực thi quy định cấp bách của Luật Di sản văn hóa: “Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại di sản văn hóa”5.

Nghịch lý hiện rõ qua khảo sát thực tế: ngay trong cùng một khuôn viên, trong khi di sản đình Đình Chu dột nát thì trụ sở UBND xã và 2 nhà văn hóa lại được xây dựng khang trang.6 Phải đến năm 2018, trước sự kêu cứu liên tục của cộng đồng, chính quyền địa phương mới tiến hành tu bổ ngôi đình này.

Tương tự đình Đình Chu, ngay tại Hà Nội, đình Cổ Chế – một di tích mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê Trung Hưng với những mảng chạm khắc đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật đình làng – cũng phải chịu cảnh “như một phế tích” suốt hơn một thập kỷ. Từ năm 2013, công trình bị bỏ lại chờ kinh phí. Dù năm 2016 thành phố đã có quyết định đưa đình vào danh sách tu bổ, nhưng mãi đến năm 2023 đình Cổ Chế mới được trùng tu và khánh thành vào ngày 13/10/2024. Đáng xót xa là cùng trong khoảng thời gian ngôi đình mòn mỏi chờ cứu nguy, thì ngay sát bên cạnh, nhà văn hóa thôn Cổ Chế lại được đầu tư xây lại đến lần thứ hai.

Trong tiến trình xây dựng Nông thôn mới, Tiêu chí số 06 về Cơ sở vật chất văn hóa7 đóng vai trò quan trọng như một “đòn bẩy” nhằm hiện đại hóa đời sống tinh thần của cư dân nông thôn. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ bảo tồn, tại một số địa phương, việc vận dụng tiêu chí này theo hướng ưu tiên xây dựng mới các thiết chế văn hóa mà thiếu cân đối với nhu cầu bảo tồn di sản đã tạo ra nghịch lý trong việc sử dụng nguồn lực từ ngân sách.

Ưu điểm của Nông thôn mới là nâng cao mức sống, nhưng nếu không chú ý tới công năng của đình làng để ưu tiên đầu tư tu bổ, chúng ta đang đánh đổi giá trị lịch sử ngàn năm lấy những tiện ích ngắn hạn. Một chính sách văn hóa thông minh cần coi việc tu bổ di tích chính là một phần trọng yếu của việc thực hiện Tiêu chí 06. Thay vì mặc định mỗi thôn phải có một mẫu nhà văn hóa bê tông, cần linh hoạt cho phép các địa phương có di tích xếp hạng được lồng ghép, sử dụng không gian đình làng (với sự bảo vệ nghiêm ngặt về di sản) làm nơi sinh hoạt cộng đồng.

Trường hợp của đình Đình Chu hay đình Cổ Chế hoặc rất nhiều ngôi đình khác có hoàn cảnh tương tự là những “vết sẹo” trong công tác quản lý. Nó nhắc nhở rằng: Nông thôn mới không chỉ cần những con đường nhựa hay nhà văn hóa hiện đại, mà còn rất cần bảo tồn giá trị văn hóa của di tích như ngôi đình làng – nơi lưu giữ ký ức, tâm hồn và bản sắc của làng quê Việt Nam.

Trong vòng 10 năm đình Cổ Chế xuống cấp chờ tu bổ, ngay bên cạnh Nhà văn hóa thôn đã hai lần sửa và xây mới. - Ảnh trái: NĐB chụp bên trong đình Cổ Chế mục nát, năm 2015.
- 3 ảnh phải: NĐB chụp cùng một hướng trong các năm 2015, 2021 và 2022 (phóng sựVTV24 năm 2022) cho thấy bên cạnh đình làng chờ tu sửa (phải) thì Nhà văn hóa đã được xây dựng lại..jpg
Trong vòng 10 năm đình Cổ Chế xuống cấp chờ tu bổ, ngay bên cạnh Nhà văn hóa thôn đã hai lần sửa và xây mới. - Ảnh trái: NĐB chụp bên trong đình Cổ Chế mục nát, năm 2015.
- 3 ảnh phải: NĐB chụp cùng một hướng trong các năm 2015, 2021 và 2022 (phóng sự VTV24 năm 2022) cho thấy bên cạnh đình làng chờ tu sửa (phải) thì Nhà văn hóa đã được xây dựng lại.

Thảm họa “trùng tu” từ nguồn lực thiếu kiểm soát

Ở một thái cực khác, nhiều đình làng không bị bỏ rơi, thậm chí nhận được nguồn vốn tu bổ dồi dào nhưng lại rơi vào thảm họa. Đình Quang Húc (Hà Nội) – di tích cấp quốc gia – được tiến hành trùng tu từ năm 2011 nhưng quá trình thi công bộc lộ hàng loạt sai phạm nghiêm trọng: Các mảng chạm khắc mỹ thuật bị biến dạng thô kệch; thậm chí có những chiếc cột lõi rỗng lọt cả người vẫn không được xử lý. Hậu quả là di tích đã trở thành điển hình của vấn nạn “trùng tu như phá hoại”8. Năm 2014, chỉ đến khi công trình rục rịch bàn giao, người dân mới phát hiện và kiên quyết từ chối nghiệm thu. Dù sau đó, Sở VHTT Hà Nội đã yêu cầu khắc phục dưới sự giám sát chặt chẽ của cộng đồng, nhưng diện mạo ngôi đình khi hoàn thiện đã vĩnh viễn đánh mất những giá trị nguyên bản về kỹ thuật và thẩm mỹ.

Câu chuyện tại đình Lương Xá (Hà Nội) lại là một bài học cay đắng về nhận thức bảo tồn. Năm 2018, với lý do công trình xuống cấp và “chưa được xếp hạng”, ban lãnh đạo thôn cùng người dân đã huy động 5 tỷ đồng tiền xã hội hóa để tự ý hạ giải, xóa bỏ hoàn toàn ngôi đình gỗ 300 năm tuổi mang nhiều giá trị nghệ thuật, thay thế bằng một công trình bê tông cốt thép. Giải thích cho hành động này, Trưởng thôn Lương Xá thản nhiên cho biết do nghĩ đình chưa xếp hạng, tiền lại do dân tự đóng góp nên chỉ cần “họp dân, lấy ý kiến thống nhất rồi làm”, bất chấp việc văn bản xin phép gửi lên xã chưa hề được hồi đáp.9 Xót xa thay, một di sản kiến trúc vô giá của cha ông đã bị bức tử và xóa sổ bởi chính sự nhiệt tình nhưng thiếu hiểu biết của con cháu.

Với sự tài trợ của một doanh nghiệp, đình Trung Trữ (Ninh Bình) cũng có hoàn cảnh tương tự. Ngày 23/6/2021, ngôi đình cổ kính ấy đã bị tháo dỡ; phần lớn kết cấu gỗ truyền thống bị loại bỏ để thay thế bằng một công trình bê tông cốt thép giả cổ. Trong Thông báo hạ giải của Ban Văn hóa làng cũng khẳng định rõ: “đây là công trình tâm linh có tuổi thọ hơn 500 năm”.

Một số hình ảnh đình Quang Húc bị tu sửa sai (cột rỗng người chui vừa, sơn, chạm khắc mới). Ảnh tư liệu người dân Quang Húc chụp năm 2014..jpg
Một số hình ảnh đình Quang Húc bị tu sửa sai (cột rỗng người chui vừa, sơn, chạm khắc mới). Ảnh tư liệu người dân Quang Húc chụp năm 2014.
Đình Trùng Hạ, Ninh Bình chụp khi còn nguyên bản (2012), sau khi sơn đỏ (2020). Ảnh NĐB.jpg
Đình Trùng Hạ, Ninh Bình chụp khi còn nguyên bản (2012), sau khi sơn đỏ (2020). Ảnh NĐB

Đình Đồng Kỵ, Bắc Ninh, năm 2019 được tu bổ bằng nguồn xã hội hóa hơn 20 tỷ đồng. Nhưng trong quá trình tu bổ, chủ đầu tư và chính quyền địa phương đã thay thế cấu kiện gỗ mới gần như hoàn toàn, không đúng với ý kiến của Cục DSVH trước đó.

Năm 2019, Ban Khánh tiết đình Văn Xá (tỉnh Hà Nam cũ) đã ra nghị quyết chỉnh trang đình, trong đó có mục sơn phủ (sơn công nghiệp) lên hệ thống kết cấu kiến trúc gỗ mang dấu ấn kiến trúc thế kỷ XVII.10 Tương tự, tại hai di tích quốc gia là đình Trùng Thượng và đình Trùng Hạ (Ninh Bình), toàn bộ kiến trúc gỗ thô mộc - di sản đặc sắc thời Lê Trung Hưng đã bị bức tử dưới lớp sơn đỏ, vàng chói lọi. Hành động này làm biến dạng hoàn toàn giá trị nguyên bản và để lại hậu quả vô cùng nặng nề, bởi việc bóc tách lớp sơn hóa học trên nền gỗ mục là cực kỳ khó khăn.11

Qua nhiều chuyến điền dã, tiếp xúc với cán bộ địa phương, chúng tôi thường chứng kiến một thực trạng dở khóc dở cười: nhiều người - trong số đó có cả cán bộ xã thể hiện sự “có tâm với di sản” bằng ý định sơn kiến trúc cổ, vẽ bích họa khắp đường làng ngõ xóm. Điều đáng bàn là, bất chấp giới chuyên môn và báo chí đã liên tục lên tiếng cảnh báo, thứ “tâm” sai lệch này vẫn ngang nhiên tồn tại ở nhiều nơi. Nghiêm trọng hơn, những quyết định làm biến dạng di sản ấy phần lớn lại do chính lực lượng quản lý ở cơ sở khởi xướng hoặc trực tiếp tham gia thực hiện.

*  *  *

Từ các ví dụ thực tiễn trên, có thể thấy một trong những điểm nghẽn đáng chú ý trong công tác bảo tồn hiện nay là nguy cơ đứt gãy về văn hóa, lịch sử, thẩm mỹ cũng như kiến thức khoa học trong nhận thức và thực hành tu bổ di tích. Đình làng xưa kia tồn tại và bám rễ sâu bền trong đời sống là bởi nó thực sự đóng vai trò một “nhà văn hóa” đa năng của cộng đồng. Ngày nay, khi các thiết chế văn hóa mới được xây dựng tách bạch, ngôi đình rơi vào tình trạng “cửa đóng then cài”, chỉ mở vào dịp cúng lễ. Sự suy giảm vai trò cộng đồng của đình làng đang tạo ra nguy cơ đứt gãy trong việc truyền nối các giá trị văn hóa truyền thống. Từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy: khi công trình hư hỏng nhỏ không ai phát hiện để sửa chữa; đến lúc xuống cấp nghiêm trọng thì ngân sách không kham nổi; hoặc khi có nguồn lực xã hội hóa, vì thiếu hiểu biết và không coi trọng dấu ấn thời gian, người ta sẵn sàng đập bỏ để xây mới hay dùng sơn công nghiệp bôi trét lòe loẹt.

Do đó, giải pháp gốc rễ là phải gắn kết chặt chẽ việc bảo tồn di sản với nhu cầu sử dụng thực tiễn. Không gian đình làng cần được tái kích hoạt như một thành tố quan trọng trong đời sống văn hóa cộng đồng. Chỉ khi người dân thực sự coi đình làng là ngôi nhà chung gắn bó thiết thân, họ mới hình thành được mạng lưới bảo vệ, tự giác gìn giữ, tu sửa kịp thời và bảo tồn có tri thức. Điều này cũng cần được hỗ trợ đồng thời bởi cơ chế quản lý chuyên môn, hướng dẫn kỹ thuật và giám sát của cơ quan bảo tồn.

Hệ thống đình làng là một tài sản kiến trúc, nghệ thuật và nguồn lực văn hóa vô giá của dân tộc. Nhận diện rõ những lỗ hổng trong công tác quản lý, nhận thức và thi công tu bổ hiện nay chính là bước đi đầu tiên để thay đổi tư duy, cứu di sản thoát khỏi bi kịch “còn đình nhưng mất hồn”.

Và vừa qua, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035, giai đoạn I: từ năm 2025 đến năm 2030, đã được Bộ trưởng Bộ VHTTDL phê duyệt12. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để tăng cường nguồn lực dành cho công tác tu bổ di tích nói chung và đình làng nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh việc đầu tư nguồn lực, cần có cơ chế quản lý chặt chẽ quá trình tu bổ để tránh tình trạng đình làng rơi vào những nghịch lý, bất cập như đã nêu..

Ở bài viết tiếp theo (Kỳ 3), chúng tôi sẽ đi sâu đề xuất các giải pháp chiến lược về cơ chế quản lý, đưa hoạt động của đình làng hội nhập với chiến lược phát triển Công nghiệp văn hóa, đồng thời phát huy sức mạnh nội sinh của di sản trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ tương lai. 

Cộng đồng yêu mến di sản đình làng tới thăm đình Đình Chu, năm 2016, trong bối cảnh ánh nắng chiếu qua mảng thủng trên mái xuống nền đình - Ảnh: Hiếu Trần.jpg
Cộng đồng yêu mến di sản đình làng tới thăm đình Đình Chu, năm 2016, trong bối cảnh ánh nắng chiếu qua mảng thủng trên mái xuống nền đình - Ảnh: Hiếu Trần

_______________

1. Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020, ngày 4/6/2010.
2. Quyết định số 1211/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012 - 2015, ngày 5/9/2012.
3. Cục Di sản Văn hóa (Bộ VHTTDL), Báo cáo công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa năm 2025, năm 2025, Tr 8.

4. TS Phạm Thị Lan Anh, Phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể gắn với công nghiệp văn hóa (nghiên cứu trường hợp tại thành phố Hà Nội), năm 2025, Tr 128.
5. Điều 16, Luật Di sản văn hóa 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
6. Trinh Nguyễn - Trinh Nguyễn, Nơi xài tiền ‘khủng’, nơi bỏ dột nát, Báo Thanh Niên, ngày 18/8/2016.

7. Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009; Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016; Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 8/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ.
8. Vũ Thị Hằng, Đình cổ Quang Húc còn gì sau trùng tu, Báo Đại biểu Nhân Dân, 24/3/2014.

NGUYỄN ĐỨC BÌNH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 644, tháng 5-2026

Tin cùng chuyên mục

Tracking