202611070847343635_1794015811395_2162376588907177512_g3194982797251543164_7e8248b40594e20b9820160c173d5770.jpg
Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh trình bày Tờ trình về dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển du lịch - Ảnh: quochoi.vn

Xây dựng các chính sách mang tính then chốt nhằm tháo gỡ điểm nghẽn trong phát triển du lịch

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh trình bày Tờ trình về dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển du lịch. 

Bộ trưởng cho biết, triển khai Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện hồ sơ dự án nghị quyết, bảo đảm đúng trình tự, thủ tục theo quy định. 

Căn cứ ý kiến kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ý kiến thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu kỹ lưỡng và nghiêm túc tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ trình Quốc hội. 

Ngày 6/11/2026, Chính phủ đã gửi tới các đại biểu Quốc hội báo cáo về việc tiếp thu, giải trình kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và dự thảo Nghị quyết đã được chỉnh lý. 

Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh: dự thảo Nghị quyết đã quán triệt, cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, trong đó tập trung xây dựng các chính sách mang tính then chốt thuộc thẩm quyền của Quốc hội để tháo gỡ điểm nghẽn trong phát triển du lịch; tạo cơ chế, chính sách đột phá để khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, đưa du lịch phát triển đột phá, khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn, là một động lực tăng trưởng mới của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số; phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hóa, có giá trị gia tăng cao, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế; bảo đảm nguyên tắc không nhắc lại các cơ chế, chính sách đã được quy định. 

Theo Bộ trưởng Bộ VHTTDL dự thảo Nghị quyết sau khi được tiếp thu, chỉnh lý gồm 14 điều với 7 nhóm chính sách:

Thứ nhất, về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối với dự án du lịch, dự thảo xác định địa bàn ưu tiên theo tinh thần Nghị quyết 26, phân loại dự án theo điều kiện tăng dần để áp dụng các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với từng loại: (1) dự án du lịch chất lượng cao; (2) dự án du lịch động lực; (3) dự án du lịch động lực mang tính chiến lược.

Cả ba loại dự án du lịch nêu trên không bao gồm hạng mục, hợp phần kinh doanh dịch vụ casino, trò chơi điện tử có thưởng, đặt cược, kinh doanh bất động sản. Mức ưu đãi, hỗ trợ về thuế, đất, hạ tầng áp dụng mức tương tự tại các pháp luật liên quan cho các đối tượng khác chưa cho các dự án du lịch. Với nguyên tắc ưu đãi chỉ áp dụng cho các hạng mục hoạt động du lịch, dự án du lịch cộng đồng, nông nghiệp, sinh thái, làng nghề quy mô vừa và nhỏ được hỗ trợ hạ tầng thiết yếu, đào tạo, bảo tồn văn hóa, chuyển đổi số, xúc tiến theo quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

202611070847343947_1794015836685_2162376588907177512_g3194982797251543164_c9496a1c825c3458d67f5d4a4acd2a0a.jpg
Quang cảnh phiên họp - Ảnh: quochoi.vn

Thứ hai, về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và liên kết cộng đồng trong hoạt động du lịch, thí điểm giảm tiền thuê đất đối với phần diện tích cảnh quan, cây xanh, mặt nước, không gian sử dụng chung, không khai thác kinh doanh trực tiếp của khách sạn, nghỉ dưỡng hạng 4 sao trở lên; hỗ trợ doanh nghiệp mở đường bay mới phục vụ du lịch và tổ chức doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú có hợp đồng tiêu thụ dài hạn sản phẩm OCOP.

Thứ ba, về hỗ trợ, ưu đãi đối với mô hình kinh doanh du lịch mới, có sự tham gia của cộng đồng dân cư kinh doanh trên nền tảng số, tổ hợp du lịch giải trí, văn hóa thể thao, kết hợp du lịch với chăm sóc sức khỏe, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Thứ tư, về thử nghiệm có kiểm soát một số mô hình hoạt động kinh doanh du lịch, đối với tổ hợp biểu diễn nghệ thuật, trung tâm hòa nhạc, phố lễ hội, khu giải trí phức hợp quy mô lớn, áp dụng thủ tục rút gọn, cấp phép một lần.

Thứ năm, về hỗ trợ phát triển nhân lực du lịch, ngân sách nhà nước hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao, nhân lực chuyên sâu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sáng tạo nội dung số, ngoại ngữ, kỹ năng nghề, quản trị du lịch và nhân lực tại chỗ ở địa bàn du lịch cộng đồng.

Thứ sáu, về thị thực đặc biệt tạo thuận lợi nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với khách du lịch quốc tế, mở rộng miễn thị thực song phương cho khách từ các thị trường trọng điểm, áp dụng thị thực linh hoạt, thí điểm có kiểm soát đối với người nước ngoài làm việc từ xa, khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe dài ngày; tạo thuận lợi về giấy phép lao động, thị thực, tạm trú cho chuyên gia, nghệ sĩ nước ngoài làm việc tại các dự án du lịch.

Thứ bảy, về hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch, ưu tiên bố trí vốn đầu tư hạ tầng thiết yếu và hạ tầng giao thông kết nối đa phương thức từ các cửa ngõ quốc tế đến các cực tăng trưởng, trung tâm du lịch, khu du lịch quốc gia; ngân sách Trung ương ưu tiên bổ sung có mục tiêu cho địa phương phát triển du lịch cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

Dự thảo nghị quyết cơ bản không phát sinh về nhân lực, bộ máy so với hiện hành; nguồn lực tài chính cơ bản bảo đảm thực hiện nghị quyết từ nguồn ngân sách Trung ương, địa phương và các nguồn khác theo quy định của pháp luật.

“Nghị quyết khi được Quốc hội thông qua sẽ có tác động tích cực, khơi thông các nguồn lực, tạo đột phá cho phát triển du lịch; định hình khung khổ pháp lý quan trọng để Chính phủ quy định cụ thể, có thể điều chỉnh linh hoạt, kịp thời khắc phục, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết 26 đã đề ra” - Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh.

Dự thảo Nghị quyết bám sát các chủ trương, định hướng lớn của Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị

Trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển du lịch, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban tán thành với sự cần thiết ban hành Nghị quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm kịp thời thể chế hóa và triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị. Hồ sơ bảo đảm đầy đủ theo quy định. 

Dự thảo Nghị quyết phù hợp với Hiến pháp, tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; đã bám sát các chủ trương, định hướng lớn của Nghị quyết số 26-NQ/TW. Dự thảo Nghị quyết không quy định các thủ tục hành chính; cơ bản bảo đảm các quy định về bình đẳng giới, chính sách dân tộc.

202611070847343947_1794015840967_2162376588907177512_g3194982797251543164_35cff9c619a5a39e0931b9ec6d6f0bff.jpg
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày báo cáo thẩm tra về dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển du lịch - Ảnh: quochoi.vn

Theo ông Nguyễn Đắc Vinh, Ủy ban tán thành việc ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Quốc hội mà chưa được luật quy định hoặc đã quy định nhưng chưa đủ mạnh để tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch; tập trung vào các dự án có khả năng dẫn dắt, lan tỏa, thúc đẩy du lịch phát triển đột phá tại các địa bàn theo định hướng phát triển.

Tuy nhiên, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, đối chiếu với các Luật có liên quan, nhất là một số dự án luật đang trình Quốc hội tại kỳ họp này; rà soát các quy định về phân quyền, phân cấp; hoàn thiện dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành để bảo đảm thống nhất, đồng bộ và khả thi trong quá trình tổ chức thực hiện. Làm rõ hơn các tác động đối với ngân sách và phương án bảo đảm nguồn lực của từng chính sách. 

Ông Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban cơ bản tán thành các nội dung của dự thảo Nghị quyết, đồng thời đề nghị lưu ý một số vấn đề:

Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đề nghị rà soát kỹ việc áp dụng từng chính sách đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Về nguyên tắc thực hiện, đề nghị nhấn mạnh các nguyên tắc: Ưu tiên đầu tư theo hiệu quả kinh tế - xã hội, gắn với phát triển du lịch bền vững; Bảo đảm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và cộng đồng dân cư, nhất là người dân vùng khó khăn, được tham gia và thụ hưởng thực chất; Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong lựa chọn dự án, áp dụng chính sách; trách nhiệm kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả; cơ chế xử lý vi phạm, trục lợi.

Về phân loại, điều kiện dự án du lịch được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch, ông Nguyễn Đắc Vinh nhấn mạnh, Ủy ban cơ bản tán thành quy định của dự thảo Nghị quyết về việc phân loại dự án du lịch được hưởng ưu đãi theo 5 tiêu chí về loại hình, quy mô, địa bàn, hiệu quả kinh tế, phát triển bền vững.

 Đồng thời, đề nghị, các loại hình dự án cần bám sát quy định tại Nghị quyết số 26-NQ/TW; ưu tiên các chính sách đối với doanh nghiệp du lịch trong nước. Làm rõ căn cứ xác định và tính khả thi đối với quy định về tiêu chí quy mô vốn đầu tư tối thiểu của dự án và tỷ lệ vốn đầu tư dành cho du lịch. Bảo đảm các dự án du lịch được hỗ trợ, ưu đãi đều loại trừ các hợp phần kinh doanh dịch vụ ca-si-nô, trò chơi điện tử có thưởng, đặt cược, kinh doanh bất động sản; gắn ưu đãi với kết quả thực hiện. 

202611070826085210_1794014888760_6935599001901914730_g3194982797251543164_187a8946fb6262120dc3b3d09fcc5305.jpg
Các đại biểu Quốc hội tại phiên họp - Ảnh: quochoi.vn

Dự thảo Nghị quyết quy định các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với dự án du lịch động lực mang tính chiến lược ở mức rất cao, nhưng chưa đánh giá được hiệu quả mang lại; đề nghị cân nhắc kỹ lưỡng đối với quy định này.

Đối với dự án du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề truyền thống quy mô vừa và nhỏ, đề nghị quy định rõ tiêu chí, điều kiện và cơ chế hỗ trợ phù hợp, bảo đảm cộng đồng dân cư thực sự là chủ thể tham gia, quản lý, cung ứng dịch vụ và thụ hưởng lợi ích, gắn với bảo tồn văn hóa, tri thức bản địa, bảo vệ môi trường và phát triển sinh kế bền vững.

Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội đề nghị hoàn thiện theo hướng quy định rõ nguyên tắc, điều kiện, mức, thời hạn, thẩm quyền quyết định và thu hồi ưu đãi; bảo đảm thống nhất với tiêu chí dự án, địa bàn ưu tiên, yêu cầu phát triển bền vững và đánh giá đầy đủ tác động chính sách. Có ý kiến cho rằng quy định về miễn, giảm tiền thuê đất đối với dự án du lịch động lực đã được pháp luật hiện hành quy định, đề nghị xem xét đưa ra khỏi Nghị quyết.

Về chính sách thị thực đặc biệt tạo thuận lợi nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với khách du lịch quốc tế, Ủy ban đề nghị không quy định cụ thể chính sách thị thực đối với nhóm “chuyên gia, lao động kỹ thuật, nghệ sĩ, diễn viên…” trong Nghị quyết, giao Chính phủ cân nhắc, xác định chính sách đối với đối tượng này cùng với các đối tượng khác phù hợp với thực tiễn và các yêu cầu về bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Làm rõ tính mới, đặc thù và nội hàm của chính sách “thị thực đặc biệt”.

Về điều khoản thi hành, Ủy ban cơ bản tán thành quy định về thời hạn hiệu lực và chuyển tiếp của Nghị quyết. Tuy nhiên, đề nghị rà soát, bảo đảm thống nhất thời điểm có hiệu lực, thời điểm áp dụng và hết hiệu lực của các chính sách; làm rõ phạm vi áp dụng khác luật, nguyên tắc lựa chọn ưu đãi có lợi hơn, không cộng dồn, hưởng trùng lặp hoặc vượt mức Quốc hội quyết định; không để văn bản dưới luật mở rộng các ngoại lệ về thuế, ngân sách; xác định thời gian hưởng ưu đãi theo thời hạn còn lại của từng chính sách, làm rõ điều kiện áp dụng đối với dự án đã được triển khai trước khi Nghị quyết có hiệu lực và nghĩa vụ tài chính trong giai đoạn chuyển tiếp.