1. Những thành tựu nổi bật trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa năm 2025

1.1. Hoàn thiện về thể chế và hành lang pháp lý

Một trong những thành tựu nền tảng và có sức lan tỏa lớn nhất trong năm 2025 là việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Cục Di sản văn hóa đã chủ động tham mưu Bộ VHTTDL, trình Chính phủ để trình Quốc hội Dự án Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Ngay sau khi Quốc hội ban hành Luật Di sản văn hóa ngày 23/11/2024, các văn bản quy định chi tiết và hướng dn thi hành Luật đã được Chính phủ và Bộ VHTTDL ban hành kịp thời, hoàn thiện một hành lang pháp lý đồng b và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Cụ thể, Chính phủ ban hành 3 Nghị định; Bộ trưởng Bộ VHTTDL ban hành theo thẩm quyền 3 Thông tư quy định chi tiết Luật, đồng thời đang xây dựng theo tiến độ 5 Thông tư quy định định mc kinh tế - k thut danh mc s nghip công trong lĩnh vc di sn văn hóa.

Hệ thống văn bản này đã chi tiết hóa các quy định của Luật, có ý nghĩa then chốt trong việc “khơi thông nguồn lực”, tháo gỡ các “đim nghn”, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xã hội hóa, đưa di sản văn hóa trở thành một nguồn lực thực sự cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

1.2. Nhiều Di sản Thế giới mới được UNESCO công nhận/ghi danh

Năm 2025 là một năm thành công của Việt Nam tại UNESCO, với 4 di sản văn hóa được công nhận/ghi danh, trở thành minh chứng thuyết phục cho những nỗ lực không ngừng và chiến lược bài bản của quốc gia, thể hiện năng lực chuẩn bị hồ sơ khoa học, sự phối hợp quốc tế và uy tín, kinh nghiệm của Việt Nam trong lĩnh vực di sản văn hóa, trong việc thực hiện vai trò của quốc gia thành viên đối với các Công ước về di sản văn hóa của UNESCO, thành viên các cơ quan, tổ chức chuyên môn của UNESCO.

Thứ nhất, vào tháng 4/2025, Bộ sưu tập của Nhạc sĩ Hoàng Vân đã được Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO chính thức ghi danh vào Danh mục Di sản tư liệu thế giới, nâng tổng số di sản tư liệu của Việt Nam được UNESCO ghi danh lên 11.

Thứ hai, vào tháng 7/2025, tại Kỳ họp lần thứ 47 của Ủy ban Di sản Thế giới tại Thủ đô Paris, Cộng hòa Pháp, UNESCO đã chính thức công nhận Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn, Kiếp Bạc (thuộc địa bàn các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Ninh và thành phố Hải Phòng) là Di sản Văn hóa Thế giới. Theo đó, đã có 9 Di sản Thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận.

Thứ ba, cũng tại Kỳ họp lần thứ 47 của Ủy ban Di sản Thế giới công nhận Di sản Thiên nhiên Thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Vườn quốc gia Hin Nam Nô, trên cơ sở phê duyệt việc điều chỉnh ranh giới của Di sản Thiên nhiên Thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Việt Nam) mở rộng sang Vườn quốc gia Hin Nam Nô (Lào).

Thứ tư, tại Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003 UNESCO, diễn ra từ ngày 8 - 13/12/2025 tại New Delhi (Ấn Độ), Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của Việt Nam đã được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO. Đây là dấu mốc quan trọng, thể hiện quyết tâm lâu dài của cơ quan quản lý và cộng đồng chủ thể trong bảo vệ và phát huy giá trị nghề thủ công truyền thống đặc sắc; đồng thời, tạo cơ hội để di sản này lan tỏa sâu rộng hơn trên trường quốc tế, góp phần tôn vinh giá trị nghệ thuật và lịch sử của dòng tranh dân gian cổ truyền của dân tộc.

Song song với đó, các nỗ lực hợp tác quốc tế được triển khai mạnh mẽ: tham gia Kỳ họp lần thứ 47 của Ủy ban Di sản Thế giới; tham gia Kỳ họp lần thứ 25 Đại hi đồng Công ước 1972 ca UNESCO; hỗ trợ và ủng h Ấn Độ trong giải trình hồ sơ đề c di sản thế giới; kỳ họp của Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể; làm việc với Hoa Kỳ về hoàn trả di sản văn hóa có ngun gc Vit Nam …

1.3. Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích

Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng 9 di tích quốc gia đặc biệt; phê duyệt 6 Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và 4 Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Thẩm định hồ sơ trình Bộ trưởng quyết định xếp hạng 25 di tích quốc gia; cấp 32 quyết định thăm dò, khai quật khảo cổ cho các tỉnh/thành phố. Tham mưu Bộ thẩm định, thỏa thuận và trực tiếp có văn bản góp ý khoảng 300 quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công tu bổ, tôn tạo di tích tại các địa phương; báo cáo đánh giá tác động môi trường; các dự án, khai thác khoáng sản. Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm, hướng dẫn chuyên môn tại các địa phương được thực hiện thường xuyên, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

1.4. Hoạt động bảo tàng và di sản tư liệu

Trong năm qua, lĩnh vực bảo tàng đạt nhiều kết quả nổi bật, tiêu biểu là việc trình và được Thủ tướng Chính phủ công nhận 33 Bảo vật quốc gia (đợt 13) và xử lý kịp thời các vấn đề liên quan đến bảo vật “Ngai vua triều Nguyễn”. Công tác hoàn thiện thiết chế được đẩy mạnh với 6 quyết định chuyên môn và thỏa thuận xếp hạng III cho Bảo tàng tỉnh Lai Châu. Tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ phục vụ xây dựng Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam, từ góp ý đề cương đến phối hợp sưu tầm tài liệu, hiện vật trên phạm vi toàn quốc. Nhiều văn bản chỉ đạo nghiệp vụ được ban hành, cùng các trưng bày lớn trong và ngoài nước, nổi bật là trưng bày Di sản văn hóa Việt Nam tại Cộng hòa Séc. Hoạt động đào tạo, tọa đàm và kết nối quốc tế thông qua ICOM Việt Nam cũng góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn toàn ngành.

Về lĩnh vực di sản tư liệu, hướng dn các địa phương lập kế hoạch kiểm kê, để từ đó lựa chọn, xây dựng các hồ sơ di sản tư liệu trình UNESCO ghi danh vào Danh mc di sn tư liu ca khu vực và thế giới (chu kỳ 2025 - 2027); Triển khai mạnh Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030, chuyển đổi số trong toàn ngành và từng bước hoàn thiện Nền tảng quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa; Tăng cường hoạt động quảng bá, tuyên truyền giới thiệu di sản văn hóa Việt Nam trong nước và quốc tế thông qua Trang thông tin điện tử của Cục Di sản văn hóa và Đặc san Di sản văn hóa.

1.5. Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể

Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định đưa 102 di sản văn hóa phi vật thể vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể (nâng tổng số lên 722). Tham mưu Lãnh đạo Bộ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin phép xây dựng Hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể trình UNESCO đối với 4 di sản (“Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thiên Y A Na tỉnh Khánh Hòa” - Khánh Hòa), “Phở” (Hà Nội), “Tri thức dân gian Trồng và chế biến nhãn lồng Hưng Yên” (Hưng Yên), “Tri thức trồng và chế biến cà phê Đắk Lắk” - Đắk Lk). Ngoài ra, công tác thẩm định, hướng dẫn thực hành lễ hội, chấn chỉnh những hoạt động sai lệch và xây dựng các đề án bảo vệ di sản sau ghi danh tiếp tục được triển khai một cách bài bản, đồng bộ và có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong giai đoạn hiện nay.

1.6. Truyền thông, giáo dục và phát huy giá trị di sản văn hóa

Năm 2025, các bảo tàng và di tích đã tổ chức nhiều chương trình giáo dục, trải nghiệm cho hàng triệu học sinh, sinh viên; phát triển mạnh các nền tảng truyền thông số như website, fanpage, video, thiết kế nội dung đa phương tiện đạt lượng tương tác rất cao.

Hoạt động trưng bày, sự kiện văn hóa được tổ chức sôi nổi trong dịp Tết Nguyên đán, các ngày lễ lớn và các sự kiện chính trị trọng đại như 95 kỷ niệm năm Ngày thành lập Đảng, 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quc khánh 2/9… góp phần lan tỏa giá trị di sản văn hóa trong đời sống cộng đồng.

Thứ trưởng Bộ VHTTDL, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam Hoàng Đạo Cương phát biểu tại Kỳ họp lần thứ 20 Ủy ban 
Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, tại New Delhi, Ấn Độ, ngày 9/12/2025 - Ảnh: TTXVN.jpg
Thứ trưởng Bộ VHTTDL, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam Hoàng Đạo Cương phát biểu tại Kỳ họp lần thứ 20 Ủy ban 
Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, tại New Delhi, Ấn Độ, ngày 9/12/2025 - Ảnh: TTXVN

2. Đánh giá chung

2.1. Kết quả đạt được

Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được triển khai trong khuôn khổ các Kết luận, Nghị quyết và Chương trình hành động của Đảng và Nhà nước, với nhiều kế hoạch, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật được cụ thể hóa. Hai Chương trình do Thủ tướng phê duyệt (Chương trình Bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030) được trin khai đúng tiến độ cùng các nhim v trng tâm do Chính ph và B giao. Năm 2025, Cục Di sản văn hóa đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ, theo đúng kế hoạch đề ra. Hệ thống bảo tàng chủ động tổ chức các hoạt động phục vụ khách tham quan và sự kiện lớn; nhận thức của địa phương về di sản văn hóa phi vật thể được nâng cao, thể hiện qua quá trình xây dựng hồ sơ UNESCO và các dự án bảo vệ di sản văn hóa sau ghi danh; Di sản tư liệu bắt đầu được quan tâm triển khai; Công tác tu b, tôn to di tích tiếp tc được quan tâm, gn vi khai thác, phát triển du lịch…

Hiện nay, cả nước có hơn 40.000 di tích và khoảng gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê, trong đó có: 37 di sản được UNESCO công nhận/ghi danh (gồm 9 di sản Thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể và 11 di sản tư liệu); 147 di tích quốc gia đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng, 3.677 di tích quốc gia, 722 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 327 hiện vật, nhóm hiện vật được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia, trong đó có 161 hiện vật, nhóm hiện vật được bảo quản, trưng bày và phát huy giá trị tại các bảo tàng. Toàn quốc có 175 bảo tàng gồm 95 bảo tàng công lập và 80 bảo tàng ngoài công lập, lưu giữ và trưng bày trên 4 triệu tài liệu hiện vật, trong đó có nhiều sưu tập, hiện vật đặc biệt quý hiếm. Đối với hoạt động tôn vinh và chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, người có công bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, đã có 131 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân” và 1.619 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân ưu tú”.

2.2. Tồn tại, hạn chế

Nhận thức xã hội về di sản văn hóa còn chưa đồng đều, đặc biệt trong xử lý quan hệ giữa bảo tồn và phát triển; công tác truyền thông còn hạn chế. Một số địa phương chưa chấp hành nghiêm các quy định pháp luật, chưa bố trí đủ kinh phí tu bổ di tích, dẫn đến tình trạng xuống cấp. Hoạt động bảo tàng ở một số nơi chưa được đầu tư tương xứng; dịch vụ bảo tàng vẫn gặp vướng mắc do chồng chéo quy định pháp luật.

02. Chùa Côn Sơn nhìn từ hướng Tây Bắc. Nguồn Hồ sơ Di sản Thế giới Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử   Vĩnh Nghiêm   Côn Sơn, Kiếp Bạc.jpg
Chùa Côn Sơn nhìn từ hướng Tây Bắc - Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc

3. Phương hướng và nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

3.1. Phương hướng

Tập trung cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và thực hiện hiệu quả Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030, các chương trình về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được Th tướng Chính phủ phê duyệt.

Ưu tiên nghiên cứu, tham mưu hoàn thiện thể chế, chuyển biến tư duy từ “làm văn hóa” sang “quản lý nhà nước về văn hóa”, tạo cơ chế thông thoáng để khai thác nguồn lực văn hóa và thúc đẩy sáng tạo.

Tăng cường phối hợp với địa phương trong bảo vệ và phát huy di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, bảo tàng và di sản tư liệu, bảo đảm hài hòa mục tiêu bảo tồn - phát triển. Đồng thời, chú trọng nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực chuyển đổi số của đội ngũ làm công tác di sản văn hóa.

3.2. Nhiệm vụ trọng tâm

Triển khai hiệu quả Luật Di sản văn hóa năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành; phối hợp xây dựng dự án luật sửa đổi, bổ sung một số luật có liên quan.

Hướng dn địa phương xây dng h sơ trình UNESCO và báo cáo định k; thm định quy hoch, d án bo qun, tu bổ, phục hồi di tích và hồ sơ di sản văn hóa đưa vào Danh mc quc gia.

Tăng cường phối hợp quốc tế trong việc rà soát, xác minh di vật, cổ vật Việt Nam lưu lạc ở nước ngoài và đề xuất phương án hồi hương theo Công ước UNESCO 1970 về các biện pháp cấm và ngăn chặn xuất khấu và chuyển giao quyền sở hữu tài sản văn hóa bất hợp pháp. 

Tăng cường tuyên truyền, quảng bá di sản văn hóa trong và ngoài nước; đẩy mạnh xã hội hóa và phát triển du lịch gắn với di sản.

Nâng cao hiu qu kim tra chuyên ngành, kp thi tháo g khó khăn cho địa phương; đồng thi tiếp tc t chc các chương trình đào to, bồi dưỡng chuyên môn. Đẩy mạnh chuyển đổi số và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản, hướng tới mỗi di sản đều có “hiện diện số và hình thành bản đồ di sản số” phục vụ người dân và du khách.

Năm 2025, là năm bản lề với những kết quả bứt phá của ngành Di sản văn hóa: từ hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, đến những thành tựu quan trọng trong bảo vệ, phát huy giá trị di sản ở các lĩnh vc: di sn văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, bảo tàng và di sản tư liệu. Những kết quả này không chỉ góp phần củng cố nền tảng văn hóa của quốc gia, mà còn mở rộng ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế, khẳng định di sản văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển bền vững.

03. Đền Thái (Thái Miếu) thuộc Khu Di tích Lịch sử nhà Trần tại Đông Triều. Nguồn Hồ sơ Di sản Thế giới Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử   Vĩnh Nghiêm   Côn Sơn, Kiếp Bạc.jpg
Đền Thái (Thái Miếu) thuộc Khu Di tích Lịch sử nhà Trần tại Đông Triều - Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc

PGS, TS Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa

Nguồn: Đặc san "Dấu ấn Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2025"