Tọa đàm có sự tham gia của các nhà hoạch định chính sách và chuyên gia quản trị; nhà nghiên cứu và chuyên gia công nghệ AI; học giả văn hóa; nghệ sĩ và người thực hành sáng tạo; đại diện các ngành công nghiệp sáng tạo, giới học thuật và đông đảo các bạn sinh viên.
Khi công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng định hình việc sáng tạo, sản xuất và tiếp cận văn hóa, những cơ hội mới được mở ra cho đổi mới, sự tham gia và các hình thức biểu đạt sáng tạo. Đồng thời, những phát triển này cũng đặt ra các câu hỏi về đạo đức, quyền tác giả, sự đa dạng văn hóa và tương lai của việc làm sáng tạo. Trên tinh thần Khuyến nghị của UNESCO về Đạo đức Trí tuệ nhân tạo (2021), việc tăng cường hiểu biết và sự tham gia của công chúng, cũng như thúc đẩy cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm trong sử dụng các công nghệ mới trong lĩnh vực văn hóa, ngày càng trở nên cần thiết.

Phát biểu tại Tọa đàm, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Baker nhấn mạnh, trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi xã hội và đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa và sáng tạo với một tốc độ chưa từng có. Nó làm thay đổi cách các nghệ sĩ sáng tạo, cách khán giả tiếp cận văn hóa, cách di sản được tư liệu hóa và cách các doanh nghiệp sáng tạo vận hành.
Những bước phát triển này mang lại những cơ hội để mở rộng quyền tiếp cận văn hóa, khai mở các hình thức biểu đạt mới và hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Nhưng đồng thời, cũng đặt ra những câu hỏi rất quan trọng. Đó là làm thế nào để bảo vệ sự sáng tạo của con người trong thời đại của AI tạo sinh? Làm thế nào để bảo đảm đổi mới công nghệ sẽ góp phần củng cố, thay vì làm suy giảm sự đa dạng văn hóa? Và làm thế nào có thể xây dựng niềm tin của công chúng bằng cách đảm bảo rằng AI được phát triển và sử dụng một cách có đạo đức?
Theo ông Jonathan Baker năm 2021, tất cả 193 quốc gia thành viên của UNESCO, bao gồm cả Việt Nam, đã thông qua “Khuyến nghị về Đạo đức trong Trí tuệ Nhân tạo”. Cho đến nay, đây vẫn là khung tiêu chuẩn tham chiếu của thế giới được thiết kế để đảm bảo rằng sự phát triển của AI phục vụ nhân loại, bảo vệ phẩm giá con người và thúc đẩy quyền con người.
Khi các công cụ AI được tích hợp vào hệ sinh thái văn hóa, chúng mang lại một thực tế kép: đó là những cơ hội chưa từng có cho sự sáng tạo, đổi mới và bảo tồn di sản; nhưng bên cạnh đó cũng có những rủi ro trong thực tế về đạo đức.
Trong vài năm qua, AI đã cho thấy khả năng tạo nội dung văn hóa, giảm chi phí sản xuất, tái tạo các di sản bị hư hại và các quy trình sáng tạo mà giác quan con người khó có thể nhận thấy. Tuy nhiên, chính những công nghệ này cũng có rủi ro làm trầm trọng thêm các định kiến thuật toán, làm mờ đi bản sắc văn hóa riêng biệt, nới rộng khoảng cách bất bình đẳng và thậm chí là gây ra sự bất công.
“Vì vậy, chúng ta cần xây dựng một khuôn khổ quản trị AI hiệu quả, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm các nguyên tắc đạo đức và quyền con người. Đồng thời, cần tận dụng AI để khuếch đại sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa, bảo vệ di sản và hỗ trợ các cộng đồng dễ bị tổn thương, thay vì làm thu hẹp hay đồng nhất các giá trị văn hóa. Trong quá trình đó, các nghệ sĩ, những người thực hành văn hóa và các cộng đồng sáng tạo phải được đặt ở vị trí trung tâm. Họ không chỉ là những người sử dụng công nghệ mà còn là những chủ thể góp phần định hình cách công nghệ được ứng dụng, cách con người kết nối, tương tác và sáng tạo trong tương lai” – Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam nhấn mạnh.
Tại tọa đàm, các nhà nghiên cứu, chuyên gia công nghệ, các nghệ sĩ và công chúng đã trao đổi về những cơ hội và thách thức do AI mang lại trong lĩnh vực sáng tạo và bảo tồn di sản.

AI cần dữ liệu đa dạng, chính xác và sự tham gia của con người
Tại Tọa đàm, GS, TS Huỳnh Thị Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết hạ tầng dữ liệu và mạng lưới nghiên cứu AI tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ. Đến nay, cả nước đã có 45 trung tâm dữ liệu, tỷ lệ phủ sóng di động đạt 99,8% dân số, và hơn 10 triệu bản ghi dữ liệu mở được công bố…
GS, TS Huỳnh Thị Thanh Bình cũng cho rằng dữ liệu đầu vào có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng sản phẩm do AI tạo ra. Nếu dữ liệu đầu vào thiếu, sai lệch hoặc thiên lệch thì kết quả đầu ra cũng có thể sai lệch hoàn toàn.
Để hạn chế những rủi ro này, trước hết cần xây dựng nguồn dữ liệu đầy đủ, đa dạng và có chất lượng. Đặc biệt, trong lĩnh vực văn hóa, quá trình ứng dụng AI cần có sự tham gia của con người ở nhiều công đoạn nhằm kiểm chứng tính chính xác về lịch sử, thời gian, bối cảnh và ý nghĩa của sản phẩm.
Cộng đồng sáng tạo cần lưu ý ba khung pháp lý quan trọng
Theo PGS, TS Nguyễn Thị Quế Anh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh mẽ, hoạt động của cộng đồng sáng tạo hiện nay chịu tác động trực tiếp của ba đạo luật quan trọng, gồm Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Trí tuệ nhân tạo.
Đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bà nhấn mạnh, một sản phẩm có sử dụng AI chỉ có thể được xem xét bảo hộ quyền tác giả khi có sự tham gia sáng tạo đáng kể của con người. Vì vậy, người sáng tạo cần chứng minh và lưu lại dấu vết về quá trình tham gia sáng tạo của mình, từ việc xây dựng dữ liệu đầu vào, thiết lập các tham số kỹ thuật… cho đến hoàn thiện sản phẩm. Đây là những căn cứ quan trọng để chứng minh vai trò sáng tạo của con người trong tác phẩm có sử dụng AI.
Một vấn đề khác cần đặc biệt lưu ý đối với những người sáng tạo là việc sử dụng các tác phẩm, chương trình biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình… để huấn luyện AI. Khi sử dụng dữ liệu hoặc tác phẩm đang được bảo hộ của người khác, các chủ thể phải tuân thủ các điều kiện do pháp luật quy định, bảo đảm không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu.
Ngược lại, chính các tác phẩm của cộng đồng sáng tạo cũng có thể được người khác sử dụng để huấn luyện AI. Trong trường hợp việc sử dụng nhằm mục đích thương mại, chủ sở hữu có quyền bảo lưu, tức là có thể tuyên bố không cho phép sử dụng tác phẩm của mình làm dữ liệu huấn luyện AI theo hình thức pháp luật quy định. Đây là một quyền mới mà cộng đồng sáng tạo cần nhận thức đầy đủ để chủ động bảo vệ quyền lợi của mình.

Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng đặt ra những yêu cầu trực tiếp đối với hoạt động sáng tạo. Các nghệ sĩ có thể sử dụng dữ liệu cá nhân của người khác trong quá trình sáng tạo, đồng thời chính hình ảnh và thông tin cá nhân của họ cũng có thể bị đưa vào hệ thống AI. Vì vậy, mỗi chủ thể cần hiểu rõ quyền của mình cũng như trách nhiệm khi khai thác dữ liệu của người khác.
Đặc biệt, Luật Trí tuệ nhân tạo dành một chương riêng về đạo đức AI, với những trụ cột quan trọng như bảo đảm an toàn, bảo vệ con người; tôn trọng quyền con người và quyền cá nhân; thúc đẩy phát triển bao trùm, bền vững, không phân biệt đối xử; và đổi mới sáng tạo có trách nhiệm.
“Cộng đồng sáng tạo cần chuyển từ tư duy khai thác dữ liệu một cách tự do sang khai thác có trách nhiệm. Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực văn hóa và di sản, nơi việc ứng dụng AI không chỉ phải bảo đảm yêu cầu pháp lý mà còn phải góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam” - PGS, TS, NGƯT Nguyễn Thị Quế Anh nhấn mạnh.
Đối với mối quan hệ giữa công nghệ, pháp luật và văn hóa, PGS, TS, NGƯT Nguyễn Thị Quế Anh cho rằng, thách thức lớn đối với những người xây dựng các nguyên tắc đạo đức AI là phải hiểu được cả công nghệ và những vấn đề xã hội mà công nghệ tạo ra. Muốn xây dựng được các quy định phù hợp, người làm chính sách phải nhận diện được những nguy cơ như đầu độc dữ liệu, đánh cắp mô hình, thiên lệch thuật toán và nhiều hình thức rủi ro mới phát sinh từ AI.
Đối với lĩnh vực văn hóa và di sản, bà đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu về tính chính xác, trung thực và khách quan của dữ liệu. Nếu thiếu hiểu biết và sự cảm thụ văn hóa, ngay cả khi không có AI, con người vẫn có thể làm sai lệch giá trị di sản...
Các kết quả do AI tạo ra cần được kiểm chứng
Ông Đặng Minh Vệ, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội cho rằng, AI và chuyển đổi số đang mở ra những cơ hội rất lớn đối với cả các nhà sáng tạo và các thiết chế văn hóa. Nhờ AI, một khối lượng dữ liệu rất lớn về lịch sử, văn hóa và di sản có thể được tổng hợp, khai thác nhanh hơn, qua đó hỗ trợ nghiên cứu, sáng tạo, quảng bá và lan tỏa các giá trị di sản tới đông đảo công chúng.
Riêng Bảo tàng Hà Nội hiện đang lưu giữ gần 73.000 tài liệu, hiện vật trải dài qua nhiều giai đoạn lịch sử. Nếu chỉ dựa vào nguồn nhân lực truyền thống, việc nghiên cứu, hệ thống hóa và khai thác toàn bộ kho tư liệu này sẽ mất rất nhiều thời gian. AI vì thế có thể trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả trong quá trình số hóa và phát huy giá trị di sản.
Tuy nhiên, theo ông Đặng Minh Vệ, thách thức lớn nằm ở dữ liệu đầu vào. AI không thể thay thế vai trò của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và những người làm công tác quản lý văn hóa. Các kết quả do AI tạo ra cần được kiểm chứng về tính chính xác lịch sử, giá trị văn hóa và đạo đức trước khi đưa tới công chúng hoặc thương mại hóa.
“Những người làm văn hóa phải có trách nhiệm chắt lọc, đánh giá xem sản phẩm do AI tạo ra đã đúng với kết quả nghiên cứu khoa học, đúng với lịch sử và phù hợp với giá trị văn hóa hay chưa. Nếu tiếp nhận một cách dễ dãi và đưa ngay những nội dung sai lệch lên không gian mạng, hậu quả đối với nhận thức về lịch sử và di sản sẽ bị sai lệch…” -ông Đặng Minh Vệ nhấn mạnh.