Nghĩa trủng Xuân Áng tọa lạc trên gò đất cao giữa cánh đồng Đa, dưới chân núi Ông
Nghĩa trủng Xuân Áng tọa lạc trên gò đất cao giữa cánh đồng Đa, dưới chân núi Ông

Từ mạch nguồn Căn cứ Tiên Động

Chúng tôi về thăm khu 11, xã Hiền Lương (Phú Thọ) vào một chiều mùa hè tháng 5, dừng chân ở cánh đồng Đa, nơi có di tích lịch sử cấp tỉnh Nghĩa trủng Xuân Áng, là không gian thiêng liêng thờ tự và an nghỉ vĩnh hằng của 103 nghĩa sĩ yêu nước đã anh dũng hy sinh trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp do tướng quân Ngô Quang Bích lãnh đạo. Vùng đất này xưa kia thuộc xã Xuân Áng (cũ) vậy nên khi xây cất Nghĩa trủng, người dân nơi đây lấy tên địa danh để đặt thành “Nghĩa trủng Xuân Áng”. Con đường uốn lượn quanh triền lúa đang ngả vàng dẫn lối đưa chúng tôi đến Nghĩa trủng Xuân Áng. Một không gian bình yên, khoáng đạt hiện ra.

 Nếu đứng từ xa nhìn lại, ít ai nghĩ rằng phía giữa cánh đồng, có một nghĩa trang tập thể, mà trong nghĩa trang ấy chỉ có duy nhất một ngôi mộ của 103 nghĩa sĩ Cần Vương. Bước chân qua biển báo di tích, chúng tâm như lắng nghe được âm vang, hào khí đang cất lên từ phía nghĩa trủng. Phía bên trước xa xa là ngọn núi Ông cao sững sững ngả bóng xuống cánh đồng Đa, bên phải Nghĩa trủng là ngọn núi Ván với những vạt rừng xanh thẳm, triền núi có mạch dẫn đến Núi Nả, nơi có Ao Giời - Suối Tiên, nơi gắn với huyền thoại Mẹ Âu Cơ bay về trời. Hai ngọn núi như bao bọc, che chở và cất lên khúc tráng ca ru êm giấc ngủ vĩnh hằng của những người nghĩa sĩ giữa ngọt ngào hương lúa.

Đứng trước Nghĩa trủng Xuân Áng, trong bảng lảng khói nhang trầm, chúng tôi nghe vang đâu đây những dòng thơ của Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết: “Lòng trung không nỡ bỏ Tây Châu/Giữ lấy Thao, Đà dải thượng lưu/Họp đám cô quân nơi viễn cảnh/Cầm ba thước kiếm chém quân thù”. Những dòng thơ ấy ngợi ca hào khí của phong trào Cần Vương thời kỳ đầu của cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp ở miền Tây Bắc mà chủ soái chính là tướng quân Ngô Quang Bích cùng hàng trăm nghĩa sĩ gắn với căn cứ Tiên Động và vùng rừng núi trung du trên vùng đất Tổ Phú Thọ. Chính âm hưởng ấy đã khơi dòng đưa chúng tôi ngược dòng lịch sử, trở về căn cứ Tiên Động để tìm về ngọn nguồn của khúc tráng ca Nghĩa trủng Xuân Áng.

Theo các tư liệu còn lưu giữ, chúng tôi trở về di tích căn cứ Tiên Động (vị trí tại xã Tiên Lương, Phú Thọ), nơi có đền thờ tướng quân Ngô Quang Bích và lưu giữ những tư liệu lịch sử có giá trị về phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp ở vùng trung du. Phong trào này do tướng quân Ngô Quang Bích khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1884, đóng căn cứ tại Tiên Động. Lịch sử ghi rõ, vào tháng 4 năm 1884, tỉnh Hưng Hóa bị thất thủ, tuần phủ Ngô Quang Bích được triệu hồi về kinh. Ông đã nộp trả ấn tín rồi dẫn quân lên Tiên Động dựng cờ khởi nghĩa. Hơn một năm sau, phong trào khởi nghĩa Cần Vương được phát động cả nước thì Tiên Động trở thành trung tâm chỉ đạo toàn Bắc Kỳ. Địa bàn hoạt động và chiến đấu của nghĩa quân gắn liền với núi rừng vùng trung du Phú Thọ, trải dài từ Tiên Động đến Xuân Áng, Lang Sơn, Ấm Thượng, Động Lâm (Hạ Hòa cũ), Ngòi Lao, Mỹ Lung (Yên Lập cũ) đến vùng Yên Bái (cũ). Những dòng sông, dòng suối là chứng nhân của quá trình chiến đấu anh dũng của nghĩa quân Tiên Động như Ngòi Lao, Ngòi Giành, Đầm Đen, sông Đà, sông Lô, sông Thao, Ngòi Vần, Đầm Mực, Ngòi Thia…

Ngô Quang Bích giữ trọn lòng trung hiếu với vua, với nước và Nhân dân. Ông từng khảng khái, đanh thép tuyên bố: “Thắng mà sống thì làm nghĩa sĩ triều đình; chẳng may thua mà chết thì cũng làm quỷ thiêng giết giặc…”. Những trận chiến trên vùng rừng núi Phú Thọ và Yên Bái (cũ) của nghĩa quân do tướng Ngô Quang Bích chỉ huy đã khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ và rút lui. Do sự mất cân đối giữa lực lượng và vũ khí chiến đấu, các nghĩa sĩ của căn cứ Tiên Động đã hy sinh rất nhiều làm cho lực lượng của tướng quân Ngô Quang Bích ngày càng giảm và suy yếu. Trong Văn tế Nghĩa trủng Xuân Áng do họa sĩ Ngô Quang Nam, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phú kính soạn đã ghi lại những dòng đầy bi hùng: “Nổi lên giữa dải Thao Đà/Bình Tây báo quốc lời thề núi sông/Dương cao một ngọn cờ hồng/Núi rừng Tây Bắc cả vùng tự do” (Văn tế Nghĩa trủng Xuân Áng).   

Ý chí, lòng quả cảm và lòng yêu nước của những người nghĩa sĩ Cần Vương đã chuyển hóa thành sức mạnh, không lùi bước trước kẻ thù: “Anh hùng chí khí sắt gang/Thề không cùng lũ sài lang chung trời”. Kẻ thù càng mạnh, ý chí chiến đấu càng dâng lên trong đà tiến công của nghĩa sĩ: “Mấy lần đánh bốt Ngòi Lao/Ngòi Dành, Tiên Động giặc bao kinh hoàng/Quyết tâm giữ nước, giữ làng/Vua hàng, dân tộc không hàng thực dân” (Văn tế Nghĩa trủng Xuân Áng). Thế nhưng, trước làn đạn tàn ác của kẻ thù, sự gian khổ, thiếu thốn trên địa bàn chiến đấu rừng núi hiểm trở đã khiến cho các nghĩa sĩ không tránh khỏi những hy sinh đau thương: “Ngòi Lao dòng máu đỏ tuôn/Bao nhiêu nghĩa sĩ linh hồn về đây/Ngòi Vần, Đầm Mực, Cầu Tây/Ngòi Thia, Đại Lịch…trời mây mịt mù/Thanh Mai, Cổ Tiết, Rừng Già/Bao nhiêu cái chết thật là thương thay”(Văn tế Nghĩa trủng Xuân Áng). 

Thế hệ trẻ dâng hương tri ân các anh hùng tại Nghĩa trủng Xuân Áng
Thế hệ trẻ dâng hương tri ân các anh hùng tại Nghĩa trủng Xuân Áng

Thành khúc tráng ca bất tử

Xót thương và biết ơn các nghĩa sĩ đã xả thân, hy sinh vì nghĩa lớn trên khắp các trận địa vùng rừng núi, đến năm 1887 lãnh binh Bùi Hữu Khanh quy tập hài cốt 103 nghĩa sĩ về tại xã Xuân Áng huyện Hạ Hòa (cũ), nay là xã Hiền Lương (Phú Thọ) an táng để các nghĩa sĩ an nghỉ vĩnh hằng nơi đây: “Bao phen trời đã khóc thầm/Bao phen sương gió, bao lần đổi thay/Nay giành độc lập về tay/Nước non một dải cờ bay rợp trời/Đền ơn đáp nghĩa nhớ lời/Phục dựng Nghĩa trủng, đời đời nhớ thương” (Văn tế Nghĩa trủng Xuân Áng).   

Văn bia tại Nghĩa trủng Xuân Áng do Nhà sử học Lê Văn Lan biên soạn ghi rõ: “Năm 1887, Lãnh Khanh đã cùng các ông Ngô Văn Thân (tức Hiệp Thân), Ngô Văn Ngọ (tức Đốc Ngọ) và các họ Bùi, Ngô, Nguyễn, Hà, Lê đã quy tập các Liệt sĩ Cần Vương. Đứng đầu Thần chủ là Đội Trụ (tức Nguyễn Văn Trụ, quê ở Xuân Lũng, Lâm Thao) và Cai Mười cùng 103 nghĩa sĩ đã bỏ mình vì nước, được gọi là Nghĩa trủng. Hằng năm, gia tộc họ Bùi Hữu trông nom và cúng tế vào ngày 23 tháng Chạp”. Cũng tại cánh đồng Đa dưới chân núi Ông, thi hài lãnh binh Bùi Hữu Khanh (bị giặc Pháp chém đầu vào ngày 15/1 năm Canh Dần, 1890 tại Ngòi Lao, được nghĩa quân bí mật chôn cất) được gia đình đưa về an táng cách Nghĩa trủng Xuân Áng khoảng 300m.

Trải qua thời gian hơn một thế kỷ, Nghĩa trủng Xuân Áng đã được gia tộc họ Bũi Hữu xã Hiền Lương cùng các nhà hảo tâm tôn tạo khang trang. Thời gian trùng tu Nghĩa trủng được ghi rõ sau tấm bia đá với các thông tin: “Nghĩa trủng Xuân Áng. Nhâm Thìn niên thập nhị nguyệt cốc nhật” (vào ngày 23 tháng 12 năm Nhâm Thìn, 2012). Khuôn viên Nghĩa trủng Xuân Áng rộng 513m2 gồm các hạng mục như cổng, câu đối khu mộ, văn cây hương, văn tế Nghĩa trủng, bia đá, cây đa cổ thụ. Ngôi mộ đặt ở vị trí trung tâm trong khuôn viên Nghĩa trủng, hình trụ tròn, bề mặt nghiêng về phía trước, có khắc triện chữ 4 chữ Hán: “Cần Vương nghĩa sĩ” (nghĩa là Nghĩa sĩ Cần Vương). Bốn chữ thể hiện sự tôn kính của hậu thế, ca ngợi công đức, danh thơm của các nghĩa sĩ. Theo đánh giá của Viện Sử học thì Nghĩa trủng Xuân Áng không chỉ là địa điểm lịch sử có giá trị trong hệ thống các di tích thời kỳ kháng chiến chống Pháp mà còn là một trong những Nghĩa trủng lớn của cả nước. Với giá trị lịch sử, văn hóa to lớn, Nghĩa trủng Xuân Áng đã được xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh theo quyết định số 3290/QĐ-UBND, ngày 16/12/2020 của UBND tỉnh Phú Thọ.

Cụ Bùi Hữu Duyệt (SN 1928, trưởng họ Bùi Hữu ở Xuân Áng) đã bước vào tuổi xưa nay hiếm có kể với chúng tôi quá trình quy tập, trông coi, gìn giữ Nghĩa trủng. Cụ chia sẻ: “Nghĩa trủng Xuân Áng là nơi an nghỉ của những nghĩa sĩ đã hy sinh vì nền độc lập của dân tộc, là tâm nguyện, sự tri ân thành kính sâu sắc không chỉ của dòng họ mà còn của Nhân dân. Tôi và dòng họ rất yên tâm khi Nghĩa trủng được xây dựng khang trang, được công nhận di tích cấp tỉnh và hằng năm, chính quyền địa phương, thầy cô giáo và học sinh các nhà trường, các đoàn nghiên cứu đến dâng hương hoa, thắp nến tri ân, chăm sóc rất chu đáo”.

Nghĩa trủng Xuân Áng là minh chứng tiêu biểu cho lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc và ý chí chiến đấu của Nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chính sự hy sinh anh dũng của các nghĩa sĩ Cần Vương đã thắp lửa cho công cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam để giành lại độc lập, tự do. Hình tượng người nghĩa sĩ áo vải Cần Vương đã tạc vào lịch sử và dáng hình xứ sở bức tượng đài bi tráng, cất lên khúc tráng ca hào hùng về lòng yêu nước. Nơi đây, giữa cánh đồng Đa ngút ngàn màu xanh ngô lúa, Nghĩa trủng Xuân Áng là “Địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Yên nghỉ vĩnh hằng giữa cánh đồng quê Mẹ Âu Cơ, linh hồn các nghĩa sĩ đã hoá thân vào dáng hình xứ sở, để lại tiếng thơm muôn đời trong lòng dân tộc. Nghĩa trủng Xuân Áng, khúc tráng ca hào hùng dưới chân núi Ông âm vang mãi trong lòng Nhân dân, hòa vào vị ngọt bùi của lúa ngô, những cánh rừng đại ngàn, những dòng sông quê hương để trường tồn cùng năm tháng.

Cột cờ Tiên Động
Cột cờ Tiên Động 

Bài và ảnh: THẾ LƯỢNG

Nguồn: Tạp chí VHNT số 652, tháng 8/2026