
Cơ quan chủ trì soạn thảo đã thể hiện tinh thần kiến tạo chính sách linh hoạt
Góp ý vào dự thảo Nghị quyết, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của Chính phủ và cơ quan chủ trì soạn thảo, cũng như việc tiếp thu, giải trình đầy đủ, thấu đáo trong thời gian ngắn. Để hoàn thiện thêm cũng như nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ về hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của cuộc sống trong lĩnh vực này, đại biểu nhấn mạnh một số ý kiến.
Thứ nhất, về cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp từ ngân sách nhà nước địa phương cho doanh nghiệp và yêu cầu bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng. Đại biểu đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo đã thể hiện tinh thần kiến tạo chính sách rất linh hoạt và nhạy bén khi đề xuất các giải pháp tài chính đột phá tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 7 nhằm kích cầu du lịch, hỗ trợ doanh nghiệp vận tải hàng không, mở đường bay mới và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thuộc chương trình Mỗi xã một sản phẩm, thể hiện sự đồng hành tích cực của Nhà nước với cộng đồng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng việc giao cho từng HĐND cấp tỉnh tự quy định mức hỗ trợ tài chính trực tiếp tại Khoản 4 Điều 7 mà chưa có khung kiểm soát chung sẽ phát sinh hai bất cập: (1) việc thiếu khung tiêu chí chung từ Trung ương dễ dẫn đến tình trạng cạnh tranh chính sách không lành mạnh giữa các địa phương, làm phát sinh nguy cơ phân tán và lãng phí nguồn lực ngân sách nhà nước; (2) Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất đang trình Quốc hội xem xét thông qua và pháp luật về cạnh tranh yêu cầu Nhà nước phải bảo đảm môi trường kinh doanh bình đẳng. Việc sử dụng ngân sách địa phương để trợ cấp trực tiếp cho một số doanh nghiệp cụ thể nếu không có quy định công khai, minh bạch và mức trần hỗ trợ tối đa sẽ tạo ra nguy cơ bất bình đẳng thương mại.
Để giải quyết hai bất cập này, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 5, Điều 7 quy định theo hướng: giao Chính phủ ban hành khung tiêu chí, điều kiện, nguyên tắc công khai minh bạch và mức trần hỗ trợ tài chính tối đa làm căn cứ để HĐND cấp tỉnh quy định theo khoản 4, Điều 7.
Theo đại biểu, quy định này giúp các địa phương áp dụng thống nhất, bảo đảm phù hợp với Khoản 2 Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, không vi phạm nguyên tắc bình đẳng cạnh tranh và phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước.

Thư hai, về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động thử nghiệm có kiểm soát. Đại biểu nhận thấy cơ quan chủ trì soạn thảo đã thể hiện tư duy đột phá, dũng cảm, đổi mới tại Điều 9 khi chủ động xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình kinh doanh du lịch 24/7 và áp dụng thủ tục hành chính rút gọn, đáp ứng đúng đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn phát triển du lịch hiện đại.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, quy định về thử nghiệm có kiểm soát tại Điều 9 còn hai nội dung cần hoàn thiện: (1) các hoạt động kinh doanh dịch vụ 24/7 hoặc sản phẩm công nghệ mới trong giai đoạn thử nghiệm luôn tiềm ẩn rủi ro phát sinh ngoài dự báo. Việc chấp nhận rủi ro kinh doanh không đồng nghĩa với việc bỏ ngỏ cơ chế bảo vệ an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của du khách theo quy định của Hiến pháp và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
(2) báo cáo 1005 của Chính phủ đã tiếp thu, bỏ quy định về cơ chế miễn trừ trách nhiệm pháp lý của cán bộ. Tuy nhiên, dự thảo Nghị quyết vẫn chưa có quy định bắt buộc về cơ chế dự phòng tài chính đối ứng khi phát sinh thiệt hại thực tế trong thời gian thử nghiệm một mô hình chưa có luật điều chỉnh. Nếu thiếu quy định bắt buộc về bảo hiểm rủi ro hoặc ký quỹ thì du khách và tổ chức, cá nhân bị thiệt hại sẽ không có cơ sở pháp lý để yêu cầu bồi thường kịp thời.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung một điểm mới vào khoản 2, Điều 9 quy định theo hướng: Đề án thử nghiệm bắt buộc phải có phương án bảo hiểm rủi ro bắt buộc hoặc ký quỹ tài chính cam kết bồi thường thiệt hại cho du khách và tổ chức, cá nhân chịu ảnh hưởng trong quá trình thử nghiệm theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và bảo đảm nguyên tắc bảo vệ quyền công dân.
Thứ ba, về thẩm quyền và nguyên tắc áp dụng pháp luật trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Đại biểu ghi nhận tầm nhìn chiến lược của dự thảo khi đưa Hà Nội vào nhóm địa phương ưu tiên tại khoản 1, Điều 3 để tập trung nguồn lực phát triển du lịch.
Để chính sách được triển khai thuận lợi, đại biểu đề nghị làm rõ hai nội dung. Một là mối quan hệ giữa quy trình trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đề án thử nghiệm có kiểm soát theo khoản 2, Điều 9 của dự thảo và thẩm quyền của HĐND thành phố Hà Nội về thí điểm cơ chế, chính sách mới và quy định hoạt động kinh doanh dịch vụ ban đêm theo Luật Thủ đô. Hai là nguyên tắc áp dụng khi quy định về nội dung thí điểm tại khoản 2, Điều 14 của dự thảo và quy định về ưu tiên áp dụng tại khoản 1 Điều 5 Luật Thủ đô có sự khác nhau.
Đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hai nội dung này để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, nhất là với Luật Thủ đô.

Xây dựng cơ chế đủ mạnh để thu hút đầu tư, khai thác tiềm năng văn hóa, thiên nhiên Việt Nam
Phát biểu thảo luận tại Tổ, đại biểu Nguyễn Phương Thủy nhấn mạnh, du lịch là ngành kinh tế quan trọng, có khả năng lan tỏa đến nhiều lĩnh vực. Vì vậy, việc xây dựng các cơ chế đủ mạnh để thu hút đầu tư, phát triển sản phẩm mới và khai thác tốt hơn tiềm năng văn hóa, thiên nhiên, con người Việt Nam là cần thiết.
Đại biểu ghi nhận nỗ lực của cơ quan soạn thảo trong việc xây dựng dự thảo Nghị quyết trong thời gian ngắn, đồng thời tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm tra và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo và tạo thuận lợi khi triển khai, đại biểu đề nghị: cần phân định rõ cơ chế, chính sách đặc thù trong lĩnh vực du lịch với việc thí điểm một số chính sách khác với quy định của các luật hiện hành. Đối với chính sách thí điểm, cần xác định rõ nội dung khác với quy định hiện hành, phạm vi, thời hạn áp dụng và cơ chế sơ kết, tổng kết, đánh giá trước khi luật hóa. Đối với cơ chế đặc thù, cần làm rõ phạm vi, đối tượng áp dụng và mối quan hệ với các luật hiện hành để thuận lợi khi thực hiện.
Đại biểu lưu ý dự thảo quy định thời hạn áp dụng Nghị quyết là 10 năm, từ ngày 1/1/2027 đến ngày 31/12/2036, trong khi các điều khoản cụ thể đề cập cả chính sách thí điểm và chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo nhóm đối tượng. Vì vậy, đại biểu đề nghị làm rõ mốc 10 năm là thời hạn thực hiện Nghị quyết, thời gian lựa chọn đối tượng đủ điều kiện hay thời gian các đối tượng được hưởng chính sách.
Để bảo đảm sự đồng bộ giữa chính sách phát triển du lịch và chính sách phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu đề nghị xác định rõ phạm vi điều chỉnh của dự thảo Nghị quyết trong mối quan hệ với dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Du lịch và các luật có liên quan trong lĩnh vực văn hóa.
Theo đại biểu, Điều 4 và Điều 8 của dự thảo đề xuất ưu đãi, hỗ trợ nhiều loại hình có tiềm năng như tổ hợp biểu diễn văn hóa, trung tâm tổ chức sự kiện, công viên chủ đề, khu vui chơi giải trí, dịch vụ sáng tạo ứng dụng công nghệ số và tổ hợp du lịch kết hợp văn hóa, thể thao, mua sắm. Đây cũng là những loại hình có sự giao thoa giữa du lịch và công nghiệp văn hóa. Chẳng hạn, một tổ hợp biểu diễn nghệ thuật kết hợp du lịch có thể đồng thời thuộc cả hai lĩnh vực và chịu sự điều chỉnh của các quy định liên quan đến hoạt động thương mại.
Đại biểu cho rằng cần rà soát đồng bộ về điều kiện, trình tự, thủ tục, ưu đãi và cơ quan đầu mối để doanh nghiệp thuận lợi tiếp cận chính sách. Theo đại biểu, cùng với các ưu đãi về thuế và các chính sách hỗ trợ, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính cũng là một ưu đãi lớn, góp phần thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư, kinh doanh.
Đối với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, đại biểu đề nghị phân định hai nhóm nội dung. Nhóm thứ nhất là thí điểm cách thức quản lý, tổ chức hoạt động du lịch, chẳng hạn cho phép hoạt động 24/7 tại một số khu vực hoặc áp dụng thủ tục rút gọn, cấp phép một lần đối với sự kiện quốc tế quy mô lớn được tổ chức định kỳ. Theo đại biểu, đây chủ yếu là những giải pháp tháo gỡ vướng mắc về quản lý và thủ tục hành chính. Nếu cơ chế được áp dụng trên diện rộng cho các đối tượng đáp ứng điều kiện chung, đại biểu cho rằng nên thiết kế theo hướng thí điểm chính sách.
Nhóm thứ hai là thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình kinh doanh mới, gắn với từng dự án, nhà đầu tư cụ thể. Đại biểu đề nghị tham chiếu các cơ chế thử nghiệm đã được quy định trong pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Thủ đô và Luật Phát triển đô thị, trong đó lưu ý kinh nghiệm phân quyền cho địa phương. Theo đại biểu, việc xác định thẩm quyền và quy trình phù hợp sẽ tạo thuận lợi khi triển khai.
Đại biểu cũng đề nghị phân định các mô hình kinh doanh được hưởng ưu đãi, hỗ trợ với các mô hình mới cần thử nghiệm có kiểm soát. Theo đại biểu, làm rõ hai nhóm này sẽ tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo và phát triển các mô hình du lịch mới, đồng thời giúp xác định chính sách phù hợp với từng nhóm.

Cần có chính sách để ngư dân và cư dân ven biển trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ du lịch
Tại phiên thảo luận, đại biểu Tạ Đình Thi bày tỏ phấn khởi khi dự thảo được trình Quốc hội kịp thời thể chế hóa Nghị quyết 26. Nhấn mạnh về tiềm năng của du lịch biển, đảo, đại biểu kiến nghị cần dành một điều hoặc một chương riêng cho lĩnh vực này. Nhắc lại số liệu đã nêu trong lần góp ý trước, đại biểu cho biết nếu thống kê riêng, du lịch biển, đảo chiếm tới 70% nguồn thu từ du lịch của Việt Nam.
Tại Điều 9, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các tổ hợp du lịch biển quy mô lớn hoạt động 24/7, các hoạt động kinh tế đêm trên biển và các mô hình du lịch tàu biển quốc tế. Theo đại biểu, những mô hình này đã được triển khai trên thế giới.
Tại Điều 11, đại biểu kiến nghị bổ sung cơ chế thị thực đặc thù cho khách du lịch đến bằng đường biển và khách lưu trú dài ngày trên các đảo hoặc tại các đặc khu du lịch biển.
Đối với Điều 6, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung ưu đãi về thuế và tiền thuê đất cho các dự án du lịch sinh thái biển, du lịch cộng đồng tại các đảo và vùng ven biển, tương tự mức ưu đãi dành cho các dự án du lịch động lực mang tính chiến lược.
Theo đại biểu, Quảng Ninh và Khánh Hòa là hai tỉnh có tiềm năng lớn, đang phát huy tốt thế mạnh du lịch và hội tụ những điều kiện đặc thù để triển khai các chính sách thí điểm trong dự thảo Nghị quyết. Quảng Ninh có cả biên giới trên đất liền và trên biển. Đại biểu cho rằng đây là tỉnh có thể lựa chọn để thí điểm, sau đó tổng kết, đánh giá và xem xét nhân rộng trên cả nước.
Với tỉnh Khánh Hòa, đại biểu nhấn mạnh tiềm năng của hai vịnh Vân Phong và Nha Trang. Theo đại biểu, cả hai địa phương đều có kinh nghiệm thực hiện các cơ chế, chính sách thí điểm; đồng thời, đại biểu cho rằng việc thí điểm tại Quảng Ninh và Khánh Hòa, gắn với các nghị quyết của Trung ương, sẽ giúp hai địa phương phát huy tiềm năng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng và phát triển Việt Nam thành quốc gia biển mạnh.
Về nội dung thí điểm, đại biểu đề xuất nghiên cứu các tổ hợp du lịch kết hợp giải trí, văn hóa và thể thao biển, cơ chế quản lý và sử dụng không gian biển, cũng như chính sách thị thực thông thoáng hơn cho khách du lịch tàu biển quốc tế đến Quảng Ninh và Khánh Hòa. Đại biểu cũng đề nghị nghiên cứu các ưu đãi vượt trội để phát triển hệ sinh thái du lịch xanh, tuần hoàn, phát thải các-bon thấp.
Đại biểu lưu ý, khi các khu du lịch sinh thái được mở rộng, nhất là ở vùng biển, người dân địa phương còn ít cơ hội hưởng lợi, kể cả về việc làm. Đối với các dự án du lịch, đại biểu đề nghị có quy định ràng buộc về giới hạn sinh thái, đồng thời bổ sung yêu cầu bắt buộc về đánh giá môi trường chiến lược hoặc đánh giá tác động tích lũy đối với các dự án phát triển du lịch quy mô lớn.
Đại biểu cũng kiến nghị xây dựng chính sách ưu đãi xanh để cụ thể hóa cơ chế hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, chú trọng bảo vệ các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái biển. Theo đại biểu, hoạt động du lịch cần được quản lý chặt chẽ và có biện pháp phòng ngừa ngay từ đầu, bởi thiệt hại về sinh thái khi đã xảy ra rất khó khắc phục.
Về sinh kế, đại biểu đề nghị cần có chính sách để ngư dân và cư dân ven biển trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ du lịch, phát huy tri thức bản địa để tạo ra những sản phẩm khác biệt. Đại biểu nêu các hình thức như du lịch cộng đồng, homestay và trải nghiệm gắn với nghề của ngư dân. Cùng với đó, cần đa dạng hóa sinh kế, hỗ trợ chuyển đổi nghề bền vững, kết hợp nghề truyền thống với du lịch, xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích và bảo vệ quyền tiếp cận biển của người dân địa phương.