1792504762983_5226052957535311074_5226052957535311074_48d581111a8f97660589e5884e934d74.jpg
Các đại biểu thảo luận tại Tổ 1 - đoàn đại biểu thành phố Hà Nội 

Để du lịch biển phát huy tối đa tiềm năng

Tại Tổ 1, đoàn đại biểu Thành phố Hà Nội thảo luận, góp ý hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 7 luật trong lĩnh vực VHTTDL; trọng tâm là Điều 2 sửa Luật Du lịch năm 2017, với hai nội dung: phát huy tối đa tiềm năng du lịch biển; và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó có cơ chế  thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho lĩnh vực du lịch, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Tạ Đình Thi thống nhất cao với việc dự thảo sửa đổi Điều 3 (khái niệm xúc tiến du lịch), các Điều 50, 51, 52, 56 theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và đơn giản hóa thủ tục công nhận điểm du lịch, khu du lịch, hạng cơ sở lưu trú. Đây là điều kiện cần để du lịch biển phát triển nhanh, thu hút được các dự án nghỉ dưỡng, du lịch tàu biển, du lịch đảo quy mô lớn.

Tuy nhiên, để du lịch biển thực sự là đột phá (hiện nay theo nhiều báo cáo, du lịch biển chiếm khoảng 65% lượng khách du lịch và đóng góp hơn 70% tổng thu nhập của ngành Du lịch Việt Nam), đại biểu đề nghị thể chế hóa cụ thể hơn các định hướng của Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, Nghị quyết 139/2024/QH15 về Quy hoạch không gian biển quốc gia và Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

Theo đại biểu, cần bổ sung vào Điều 3 khái niệm "du lịch biển, đảo" và "sản phẩm du lịch biển, đảo"; tại Điều 18 và Điều 19, cần quy định rõ ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cho các khu du lịch quốc gia ven biển, hải đảo; phát triển du lịch tàu biển, du lịch sinh thái biển gắn với bảo tồn hệ sinh thái; phát triển các tuyến du lịch kết nối đất liền với các đảo gần bờ và xa bờ; khuyến khích mô hình du lịch cộng đồng tại các đặc khu như Cô Tô, Vân Đồn, Cát Hải, Lý Sơn, Phú Quý, Kiên Hải, Phú Quốc.

Đại biểu cũng đề nghị bổ sung nguyên tắc phát triển du lịch biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và bảo tồn đa dạng sinh học, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng du lịch đơn thuần, phù hợp với quan điểm của Nghị quyết 20-NQ/TW và Nghị quyết 139/2024/QH15.

Về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và cơ chế sandbox, theo đại biểu Tạ Đình Thi, dự thảo Luật đã có những thay đổi quan trọng khi sửa đổi khoản 8 Điều 3 (chương trình du lịch được thể hiện bằng văn bản hoặc dữ liệu điện tử), khoản 4 Điều 58 (thẻ hướng dẫn viên điện tử có giá trị pháp lý như thẻ vật lý) và các quy định về mẫu thẻ, hồ sơ điện tử. 

Tuy vậy, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện theo hướng: Một là, bổ sung vào Điều 4 nguyên tắc phát triển du lịch gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển du lịch thông minh, du lịch xanh, phù hợp với Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

1792504763027_5226052957535311074_5226052957535311074_f9a5c70a5a007b0c52d15c909247e1ff.jpg
Đại biểu Tạ Đình Thi phát biểu ý kiến thảo luận, góp ý hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 7 luật trong lĩnh vực VHTTDL, trọng tâm là Điều 2 sửa Luật Du lịch năm 2017

Hai, bổ sung vào Chương VII về xúc tiến du lịch, quỹ hỗ trợ phát triển du lịch hoặc Điều 5 về chính sách phát triển du lịch, một điều khoản riêng về cơ chế sandbox đối với các mô hình kinh doanh du lịch mới. Cụ thể: cho phép thí điểm có thời hạn, có giám sát đối với nền tảng du lịch trực tuyến xuyên biên giới, mô hình kinh tế chia sẻ trong lưu trú, kinh tế đêm, tổ hợp du lịch - văn hóa - thể thao - giải trí - mua sắm, du lịch tàu biển, du lịch y tế, du lịch thể thao mạo hiểm, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản trị điểm đến. 

Đại biểu cho rằng, cơ chế này cần quy định rõ: phạm vi, thời hạn thử nghiệm; cơ quan chủ trì phê duyệt; tiêu chí đánh giá; cơ chế hậu kiểm, giám sát, xử lý rủi ro; và việc chuyển hóa kết quả thử nghiệm thành quy định chính thức. Điều này phù hợp với tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW về "có cách tiếp cận mở, vận dụng sáng tạo, cho phép thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra".

Ba là, bổ sung quy định về xây dựng, vận hành nền tảng số du lịch quốc gia, cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, tài nguyên, môi trường biển, bảo đảm an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân; số hóa thủ tục xuất nhập cảnh, cấp thẻ hướng dẫn viên, công nhận hạng cơ sở lưu trú; thí điểm bản đồ số du lịch, vé điện tử, trợ lý du lịch ảo đa ngôn ngữ. 

Đồng thời, đại biểu đề nghị bổ sung vào dự thảo Điều 69 quy định về cơ chế hình thành đồng bộ du lịch thông minh, phù hợp với Nghị quyết 139/2024/QH15 về phát triển hạ tầng số, dữ liệu biển và Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển kinh tế số.

Bốn là, về nguồn lực, đề nghị bổ sung chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai và hỗ trợ khởi nghiệp cho doanh nghiệp du lịch chuyển đổi số, đầu tư hạ tầng số và sản phẩm du lịch sáng tạo. Bổ sung vào Điều 74 trách nhiệm của các Bộ liên quan trong phối hợp hỗ trợ chuyển đổi số ngành Du lịch, bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu du lịch.

Cuối cùng, về kỹ thuật lập pháp, đại biểu đề nghị rà soát lại việc bãi bỏ Điều 46 (cấp biển hiệu phương tiện vận tải khách du lịch) và chuyển nội dung "Bộ Giao thông vận tải" thành "Bộ Xây dựng" tại khoản 3 Điều 45, bảo đảm thống nhất, tránh khoảng trống pháp lý.

Hoàn thiện các quy định về thư viện, điện ảnh, di sản và quảng cáo ngoài trời

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao, Luật Du lịch, Luật Thư viện, Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Quảng cáo và Luật Báo chí, ĐBQH Nguyễn Hoàng Trường đề nghị làm rõ trách nhiệm, nguồn lực khi phân cấp nhiệm vụ thư viện cho cấp xã; hoàn thiện cơ chế hỗ trợ sản xuất phim, tu bổ di tích xuống cấp và xây dựng công cụ quản lý quảng cáo ngoài trời thay thế quy hoạch.

Theo đó, về phân cấp và nguồn lực, ĐBQH Nguyễn Hoàng Trường cho rằng, các quy định sửa đổi Luật Thư viện cần tính đến năng lực thực hiện của chính quyền cấp xã, nhất là khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Theo dự thảo, thư viện cấp xã phải tiếp nhận chức năng luân chuyển tài nguyên thông tin, hỗ trợ chuyên môn, nghiệp vụ cho mạng lưới không gian đọc cơ sở. Đồng thời, UBND cấp xã tiếp nhận thông báo thành lập, sáp nhập, giải thể các thư viện mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, thư viện cộng đồng, tư nhân trên địa bàn và chịu trách nhiệm hậu kiểm, đình chỉ hoạt động.

Tuy nhiên, theo đại biểu, tại các đô thị đặc thù như Hà Nội, việc chuyển toàn bộ trách nhiệm theo dõi mạng lưới thư viện trường học và cơ sở từ cấp huyện về cấp xã tạo áp lực lớn… Từ thực tế này, đại biểu đề nghị giao cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh, thành phố tiếp nhận thông báo và thực hiện hậu kiểm đối với thư viện của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trường liên cấp quy mô lớn hoặc thư viện tư nhân quy mô liên xã. 

1792504767702_5226052957535311074_5226052957535311074_3877a2a98a7f9baec280eb3b82746182.jpg
ĐBQH Nguyễn Hoàng Trường phát biểu thảo luận tại Tổ

Đồng thời, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc tại khoản 4 Điều 50, quy định chính quyền cấp tỉnh có trách nhiệm bảo đảm kinh phí ngân sách, quỹ đất và tổ chức tập huấn nghiệp vụ thư viện định kỳ cho cán bộ cấp xã khi tiếp nhận nhiệm vụ từ cấp huyện.

Về lĩnh vực điện ảnh, đại biểu đề cập quy định tại Điều 4 dự thảo sửa đổi khoản 5a, khoản 6, Điều 14 Luật Điện ảnh, theo đó Nhà nước bảo đảm hoặc hỗ trợ ngân sách để sản xuất phim phục vụ nhiệm vụ chính trị quốc gia, bộ, ngành và địa phương. Đại biểu đánh giá đây là bước đột phá nhằm tạo đòn bẩy xã hội hóa. Tuy nhiên, quy định còn chung chung, có thể phát sinh rủi ro về bản quyền và cơ chế thu hồi vốn.

Cụ thể, khi Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí, dưới 50%, cần làm rõ chủ sở hữu quyền tác giả, quyền tài sản đối với tác phẩm và quyền phát sóng miễn phí phục vụ tuyên truyền nhiệm vụ chính trị của địa phương. Dự thảo cũng chưa quy định cơ chế phân chia doanh thu, hoàn trả ngân sách nếu phim tạo ra lợi nhuận thương mại.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc tại khoản 5a Điều 14: đối với dự án phim có vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, quyền sở hữu, quyền khai thác phục vụ nhiệm vụ chính trị và tỷ lệ phân chia doanh thu thương mại phải được xác định tương ứng với tỷ lệ góp vốn theo hợp đồng, do Chính phủ quy định chi tiết.

Đối với việc tu bổ di tích xuống cấp khi chưa có quy hoạch được duyệt, quy định tại Điều 5 dự thảo sửa đổi khoản 1, Điều 35, Luật Di sản văn hóa, đại biểu đề nghị bổ sung các điều kiện chặt chẽ đối với việc tu bổ di tích xuống cấp khi chưa có quy hoạch được phê duyệt, đồng thời xem xét phân cấp thẩm quyền cho Hà Nội trong xử lý các trường hợp cấp thiết.

Theo đại biểu, dự thảo cho phép lập dự án tu bổ đối với di tích chưa có quy hoạch được duyệt nhưng đang xuống cấp. Quy định này góp phần kịp thời bảo vệ những công trình có nguy cơ sụp đổ, song cũng tiềm ẩn nguy cơ lợi dụng tính cấp thiết để làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc của di tích. Trong khi đó, dự thảo vẫn quy định Bộ VHTTDL phải xác nhận tình trạng xuống cấp đối với toàn bộ di tích quốc gia đặc biệt và di sản thế giới.

Đại biểu kiến nghị chỉ cho phép lập dự án đối với những hạng mục hư hỏng trực tiếp, cần xử lý cấp bách; hồ sơ phải có báo cáo đánh giá hiện trạng chi tiết và ý kiến thẩm định chuyên môn của Hội đồng di sản văn hóa trước khi cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

Đối với Hà Nội, đại biểu đề nghị phân cấp cho Chủ tịch UBND thành phố quyết định xác nhận tình trạng xuống cấp cấp thiết và phê duyệt phương án tu bổ cấp thiết đối với các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn, bao gồm cả Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, sau khi có ý kiến thỏa thuận chuyên môn bằng văn bản của Bộ VHTTDL.

Theo đại biểu, đề xuất này nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, đồng thời phát huy thẩm quyền đặc thù của Thủ đô theo Luật Thủ đô.

Góp ý đối với các nội dung liên quan đến Luật Quảng cáo, đại biểu Nguyễn Hoàng Trường cho rằng việc bãi bỏ quy hoạch quảng cáo ngoài trời là phù hợp với yêu cầu thống nhất với Luật Quy hoạch, do loại quy hoạch này không thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia.

Tuy nhiên, nếu bãi bỏ quy hoạch mà không có công cụ quản lý thay thế hiệu quả, việc quản lý quảng cáo ngoài trời có thể gặp khó khăn, ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, an toàn giao thông và tầm nhìn tại các di tích văn hóa.

Đại biểu chỉ ra rằng dự thảo bãi bỏ các Điều 37 và 38 về quy hoạch nhưng chưa làm rõ công cụ quản lý không gian quảng cáo thay thế, như quy chế quản lý kiến trúc, đề án vị trí tuyên truyền, cổ động trực quan hay quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành.

Từ thực tiễn Hà Nội đã phê duyệt quy hoạch quảng cáo ngoài trời và triển khai các đề án quản lý bảng, biển, màn hình LED tấm lớn gắn với kiến trúc đô thị, đại biểu lưu ý nguy cơ phát sinh vướng mắc trong cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo nếu các quy hoạch hiện hành bị bãi bỏ ngay khi luật có hiệu lực. Điều này có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp đã trúng thầu vị trí quảng cáo theo đề án của thành phố, bởi Điều 31 Luật Quảng cáo hiện hành căn cứ vào quy hoạch để cấp phép.

Để khắc phục những bất cập này, đại biểu đề nghị bổ sung quy định giao UBND cấp tỉnh ban hành quy chế quản lý phương tiện quảng cáo ngoài trời và vị trí không gian quảng cáo, tích hợp trong quy chế quản lý kiến trúc đô thị, nông thôn của địa phương, làm căn cứ cấp phép xây dựng công trình quảng cáo.

Đồng thời, đại biểu cho rằng cần bổ sung điều khoản chuyển tiếp tại Điều 8, cho phép các quy hoạch quảng cáo ngoài trời đã được phê duyệt tiếp tục áp dụng đến khi địa phương ban hành quy chế quản lý kiến trúc hoặc quy định thay thế, nhưng không quá ngày 31/12/2028. 

Đối với Hà Nội, đại biểu đề nghị khẳng định nguyên tắc ưu tiên thực hiện thẩm quyền đặc thù theo Luật Thủ đô và nghị quyết chuyên đề của HĐND thành phố trong quản lý vị trí, kích thước, hình thức quảng cáo ngoài trời tại các khu vực bảo vệ không gian văn hóa, bảo tồn di sản của Thủ đô.