Về công tác nghiên cứu di sản dân ca quan họ
Tìm về cội nguồn quan họ: công trình khoa học cấp Bộ do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đầu tư, ông Hoàng Chương chủ nhiệm và các cộng sự được hoàn thành có thể coi như thành tựu khoa học đầu tiên ra mắt chào mừng Di sản dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009. Liên tiếp các năm sau đó, hàng loạt các công trình, luận văn, luận án, bài báo tiếp cận di sản văn hóa quan họ đã được công bố, bảo vệ trên quê hương Kinh Bắc, các trường đại học và nhiều tỉnh thành khác trên cả nước.
Nhìn lại chặng đường hơn 15 năm, kể từ sau khi di sản dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh, quá trình quan tâm sưu tầm, khảo sát nghiên cứu của giới khoa học các cấp đã mở rộng, phong phú về đề tài, đa dạng về cách tiếp cận và mang lại hiệu quả cùng các kết quả có ý nghĩa lý luận và thực tiễn ứng dụng sâu sắc. Cũng nhờ đó, việc nhận diện và hiểu biết về di sản quan họ đã góp phần nâng cao nhận thức giá trị di sản và góp phần xây dựng cơ sở vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ và truyền dạy, phát huy, quảng bá giá trị dân ca quan họ cho mọi đối tượng quan tâm đến dân ca quan họ Bắc Ninh hiện nay.
Về công tác truyền dạy, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực
Một trong những nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác bảo tồn di sản được xác định là công tác truyền dạy dân ca quan họ Bắc Ninh. Trước mắt, nhiệm vụ này đã và đang được triển khai tương đối đồng bộ trên một số lĩnh vực như:
Sở VHTTDL phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện biên soạn tài liệu giảng dạy dân ca quan họ Bắc Ninh dùng cho học sinh các cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Bộ tài liệu cơ bản đảm bảo chất lượng cả về khoa học sư phạm và khoa học âm nhạc, được phát hành cho các trường đưa vào giảng dạy từ năm học 2011-2012.
Chỉ đạo triển khai biên soạn giáo trình giảng dạy dân ca quan họ Bắc Ninh bậc trung cấp hệ chính quy cho Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Bắc Ninh. Bộ giáo trình gồm 8 đầu sách kèm theo một số tài liệu liên quan như bình giải về lời thơ, ký âm về các bài bản dân ca quan họ Bắc Ninh.
Tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ cho các nghệ nhân về một số kỹ năng, nội dung liên quan trong việc truyền dạy dân ca quan họ Bắc Ninh trong gia đình và cộng đồng. Triển khai tổ chức được trên 10 lớp dạy hát dân ca quan họ Bắc Ninh tại cộng đồng trên địa bàn của tỉnh. Liên kết truyền dạy hát dân ca quan họ Bắc Ninh cho học sinh trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật thành phố Hải Phòng và tỉnh Hưng Yên.
Nhằm hệ thống hóa tư liệu lưu trữ về dân ca quan họ Bắc Ninh phục vụ cho việc tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu di sản. Được sự trợ giúp của Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, Sở VHTTDL đã triển khai tiếp nhận, lắp đặt, quản lý và vận hành hệ thống thiết bị chuyên dụng của dự án xây dựng Trạm vệ tinh Ngân hàng dữ liệu phi vật thể các dân tộc Việt Nam; đồng thời phối hợp triển khai hoàn thành Tiểu dự án về nghiên cứu, sưu tầm, phục dựng các hình thức hát quan họ truyền thống, một số phong tục đặc trưng trong sinh hoạt văn hóa quan họ; sưu tầm, ghi âm, ghi hình các bài bản quan họ cổ; ký âm các lời ca quan họ đã sưu tầm được.
Một trong những nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác bảo tồn di sản được xác định là công tác truyền dạy dân ca quan họ Bắc Ninh. Trước mắt, nhiệm vụ này đã và đang được triển khai tương đối đồng bộ trên một số lĩnh vực như: (i) Sở VHTTDL phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện biên soạn tài liệu giảng dạy dân ca quan họ Bắc Ninh dùng cho học sinh các cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Bộ tài liệu cơ bản đảm bảo chất lượng cả về khoa học sư phạm và khoa học âm nhạc; (ii) Chỉ đạo triển khai biên soạn giáo trình giảng dạy dân ca quan họ Bắc Ninh bậc trung cấp hệ chính quy cho Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Bắc Ninh; (iii) Tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ cho các nghệ nhân về một số kỹ năng, nội dung liên quan trong việc truyền dạy dân ca quan họ Bắc Ninh trong gia đình và cộng đồng. Tại tỉnh Bắc Giang (cũ), đề án về Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc tỉnh giai đoạn 2010-2020 và giai đoạn 2021-2030 do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành đã và đang đi vào thực tiễn. Hiện nay, các hội thi, hội diễn được duy trì thường niên, ngày càng mở rộng quy mô. Công tác truyền dạy quan họ tại các câu lạc bộ, trường học bước đầu đạt được kết quả tích cực, khơi dậy niềm đam mê cho thế hệ trẻ. Sở VHTTDL tỉnh thường xuyên có kế hoạch phối hợp với các địa phương, đơn vị tiếp tục chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá, mang lại nhiều kết quả tốt đẹp.
Về công tác phát huy giá trị di sản quan họ gắn với phát triển du lịch văn hóa và phát triển kinh tế địa phương
Với những giá trị đặc sắc về nhiều phương diện, di sản văn hóa quan họ Bắc Ninh đã được UNESCO ghi danh. Đây thực sự được coi là nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Dựa vào di sản văn hóa quan họ, người dân có thể tạo ra nhiều sản phẩm du lịch, kết hợp hình thành các tour, tuyến du lịch phong phú. Có thể kết hợp du lịch quan họ với du lịch tham quan di tích, tham dự lễ hội. Vùng Kinh Bắc là một trong những xứ sở của đình chùa và lễ hội, ở đây có những ngôi chùa cổ kính mang ý nghĩa lớn về lịch sử và kiến trúc như: chùa Dâu, chùa Cổ Pháp, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp, chùa Dạm, chùa Lim, chùa Xuân Ổ, chùa Viêm Xá (Diềm), chùa Châm Khê... trong đó, những ngôi chùa nổi tiếng có lễ hội gắn liền với quan họ cả phần lễ và phần hội như: chùa Lim, chùa Châm Khê, chùa Dương Ổ, chùa Hòa Đình. Cũng có thể kết hợp du lịch quan họ với du lịch làng nghề. Di sản văn hóa quan họ Bắc Ninh được hình thành từ những làng quan họ nhỏ bé, để rồi phát triển thành vùng văn hóa quan họ. Mặt khác, làng quan họ đó đồng thời cũng là những làng nghề, hoặc nằm gần với những làng nghề mà cho đến ngày nay, những sản phẩm của những làng nghề truyền thống này vẫn được thị trường ưa chuộng, cả nước biết đến. Việc khai thác cho khách du lịch tìm hiểu các làng nghề truyền thống gắn liền với du lịch quan họ sẽ tạo nên những sản phẩm du lịch đặc trưng riêng có của tỉnh xứ Kinh Bắc.
Trên thực tế, quan họ xứ Kinh Bắc không còn gói gọn trong một vùng văn hóa quan họ hay trong địa vực hành chính của một tỉnh Bắc Ninh. Với sự quan tâm của các cấp chính quyền, các nhà quản lý văn hóa và cộng đồng làng xã hơn 15 năm qua, quan họ đã và đang được giới thiệu với bạn bè thế giới qua các chương trình giao lưu biểu diễn văn hóa nghệ thuật ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Vì vậy, nhiều người nước ngoài biết đến Việt Nam qua làn điệu dân ca quan họ. Họ có thể nghe hát quan họ ở bất kỳ đâu, song chắc chắn không nơi nào ấn tượng bằng nghe hát quan họ ở chính nơi nó được sinh ra. Phát triển du lịch quan họ sẽ góp phần hình thành xu hướng tìm hiểu văn hóa quan họ, cũng chính là tìm hiểu lịch sử truyền thống, phong tục tập quán của ông cha ta, bản sắc dân tộc ta. Đối với bạn bè quốc tế thì dân ca quan họ đã trở thành hình ảnh của đất nước, con người Việt Nam. Vì vậy, phát triển du lịch di sản văn hóa quan họ góp phần quảng bá, đưa hình ảnh đất nước Việt Nam ra với thế giới.
Tại tỉnh Bắc Giang (cũ), kể từ khi dân ca quan họ được UNESCO ghi danh, lãnh đạo tỉnh cùng các cấp chính quyền đã và đang luôn quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Với ưu thế tự nhiên của những danh lam, thắng cảnh, từ các dãy núi Phượng Hoàng, Nham Biền đến sự hùng vĩ hấp dẫn của vòng cung núi Tây Yên Tử và các vùng đất Lục Ngạn, Lạng Giang còn hấp dẫn du khách bốn phương bởi những lời ca quan họ mượt mà, say đắm. Mang “trữ lượng” lớn của các làng quan họ Bắc sông Cầu và dọc ven các dòng sông đậm chất thi ca như sông Thương, sông Đuống hàng trăm năm qua. Đặc biệt là những năm gần đây, dân ca quan họ ở Bắc Giang (cũ) đã cuốn hút bao thế hệ và ngày càng khẳng định “thương hiệu” trong sự phát triển của đời sống văn hóa cộng đồng và giao lưu quốc gia, quốc tế hiện nay. Vẻ đẹp của những thế hệ nghệ nhân là liền anh, liền chị ở hầu khắp các làng quê quan họ cùng với sức hấp dẫn cuốn hút của các giọng ca không chỉ tại các liên hoan, hội diễn, hội thi, giờ đây đã và đang xuất hiện ở nhiều khu, điểm du lịch, như: chùa Bổ Đà (phường Vân Hà), Địa điểm chiến thắng Xương Giang (phường Bắc Giang), bản Ven (xã Xuân Lương)… thông qua hình thức hát giao lưu giữa các nghệ nhân, ca sĩ, du khách, góp phần quảng bá di sản, thu hút du khách trong nước và quốc tế.
Bài học kinh nghiệm và một số vấn đề đặt ra hiện nay
Có thể khẳng định rằng, trải qua hơn 15 năm di sản dân ca quan họ được UNESCO ghi danh, Bắc Ninh là một trong những địa phương hiếm hoi thực hiện được tiến trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản một cách hiệu quả nhất trên phạm vi cả nước. Ở tầm vĩ mô, sự chỉ đạo, lãnh đạo của chính quyền và các nhà quản lý văn hóa các cấp đã sớm kịp thời xây dựng được một hệ thống cơ chế, chính sách ứng xử với di sản, ứng xử với các thế hệ nghệ nhân dân gian, nghệ sĩ chuyên nghiệp trong tỉnh. Từ đó, có kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất phục dựng không gian văn hóa mang bản sắc truyền thống để tổ chức truyền dạy, bảo tồn di sản. Cũng từ đó, dân ca quan họ không chỉ phục hồi, phát triển tại 49 làng quan họ cổ, mà lan tỏa đến hàng trăm làng quê, hàng trăm mái trường các cấp, tạo nên sức sống mãnh liệt cho di sản trong điều kiện phát triển xã hội hiện tại. Để dân ca quan họ có sức sống bền vững trong cộng đồng, sự phối kết hợp quá trình truyền dạy, bảo tồn di sản giữa các cơ quan, ban ngành trong tỉnh (giáo dục, văn hóa, các đoàn thể…) một cách đồng bộ chính là cơ sở để xây dựng môi trường văn hóa nói chung và không gian sinh hoạt quan họ bền vững nói riêng. Bên cạnh việc lựa chọn xét duyệt các nghệ nhân đề nghị nhà nước phong tặng danh hiệu, tỉnh đã kịp thời có chế độ ứng xử mở rộng theo tiêu chí cấp tỉnh, góp phần động viên lực lượng được coi là “báu vật nhân văn sống” theo khuyến nghị của UNESCO. Tuy nhiên, cũng từ thực trạng đang diễn ra, có thể bắt gặp một số vấn đề cần được quan tâm sâu hơn. Một là, việc ứng xử, đầu tư cho mục tiêu bảo vệ, phát huy giá trị di sản dân ca quan họ còn nặng về dàn trải, bao phủ khắp các làng quê, làm phai nhạt đi vai trò của các làng quan họ gốc. Hai là, việc ứng xử với các thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ vẫn chỉ dừng ở hình thức (trao tặng danh hiệu kèm tiền bối dưỡng), chưa có chế độ mang tính bền vững, thiết thực (cấp bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân thọ, trợ cấp thường xuyên, chế độ giảng dạy trao truyền…). Ba là, chưa xây dựng được các biện pháp đặt dân ca quan họ trong guồng máy của chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa ở các địa phương, từ đó biến sản phẩm quan họ thành sản phẩm du lịch, thành một thứ hàng hóa đặc thù, mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần phát triển du lịch cộng đồng và kinh tế của người dân ở các làng quan họ. Bốn là, trong chiến lược thực hiện Chương trình hành động bảo tồn và phát huy giá trị di sản dân ca quan họ do Thủ tướng Chính phủ cam kết với UNESCO, chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa 4 thành phần: Chính quyền và quản lý văn hóa với cộng đồng (chủ yếu các nghệ nhân, nghệ sĩ), các nhà khoa học và đội ngũ doanh nghiệp của địa phương. Chính vì thế, hoạt động của các nghệ nhân, nghệ sĩ còn hạn chế do điều kiện kinh phí chưa đáp ứng, các xuất bản phẩm còn khan hiếm do thiếu sự quan tâm cũng như thiếu kinh phí xuất bản. Chưa xây dựng được kế hoạch chiến lược trong quan hệ giao lưu, quảng bá các di sản của Bắc Ninh với các địa phương khác trong khu vực và phạm vi cả nước cũng như giao lưu hội nhập quốc tế. Chưa xây dựng được những mũi nhọn mang tính điển hình để phát triển các điểm đến cho du lịch lữ hành nội địa và quốc tế. Chưa có sự phối kết hợp đồng bộ giữa bảo vệ và phát huy giá trị dân ca quan họ với hàng loạt các di sản văn hóa phi vật thể khác trong tỉnh (các di sản ca trù, chèo, tuồng… của người Việt và các di sản Sình ca, Sli - Lượn, Xoong cộ… của các dân tộc thiểu số) góp phần phát triển công nghiệp văn hóa của Bắc Ninh nói riêng và cả nước nói chung.
4. Kết luận
Trải qua hơn 15 năm tập trung nhiều nguồn lực và trí tuệ để bảo vệ, phát huy giá trị của dân ca quan họ trong điều kiện phát triển xã hội đương đại, kể từ sau khi di sản được UNESCO xét duyệt, ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, chính quyền cùng cộng đồng các làng quan họ và người dân tỉnh Bắc Ninh, đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Đó cũng là sự cộng hưởng của trí tuệ và công sức của 4 thành phần: chính quyền, cộng đồng, các nhà khoa học và đội ngũ các doanh nghiệp yêu văn hóa truyền thống của quê hương Kinh Bắc trong quá trình triển khai, từng bước hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trong Chương trình và hành động do Chính phủ Việt Nam cam kết với UNESCO trong việc bảo vệ và phát huy một cách bền vững dân ca quan họ với tư cách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Sức sống mãnh liệt và sự lan tỏa của dân ca quan họ Bắc Ninh hôm nay xứng đáng là biểu tượng cho niềm tự hào của người dân Kinh Bắc nói riêng và của cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam nói chung (1).
___________________________
- Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài độc lập cấp quốc gia, mã số ĐTĐL.XH-09/23.
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Quang Thanh. (2016). Nghiên cứu nghệ nhân quan họ trong quá trình bảo tồn và phát huy di sản dân ca quan họ ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Chương trình đầu tư của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (Nafotest). Bản thảo lưu tại Bộ Khoa học và Công nghệ.
2. Hoàng Chương (chủ biên). (2009). Tìm về cội nguồn quan họ. Nhà xuất bản Sân khấu.
3. Nguyễn Thế Chính (chủ biên). (2014). Không gian văn hóa quan họ Bắc sông Cầu. Trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Giang.
4. Nhiều tác giả. (2006). Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh - Bảo tồn và phát huy. Viện Văn hóa - Thông tin, Sở Văn hóa - Thông tin Bắc Ninh.
5. Nhiều tác giả. (2006). Quan họ Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp bảo tồn. Sở Văn hóa - Thông tin Bắc Ninh.
6. Nhiều tác giả. (2012). Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa quan họ Bắc Giang. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
7. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh. (2010). Bản thảo Dự án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể dân ca quan họ Bắc Ninh.
8. Trần Linh Quý. (2012). Trên đường tìm về quan họ. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.
9. Trần Minh Chính. (2018). Sinh hoạt văn hóa quan họ làng. Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 1/6/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/6/2026; Ngày duyệt đăng: 28/6/2026.
GS, TS BÙI QUANG THANH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 648, tháng 7-2026