Vườn chè cổ vùng Đồng Phúc
Vườn chè cổ vùng Đồng Phúc

Đồng Phúc không chỉ có những cây chè Shan tuyết cổ thụ đã đi qua bao thế hệ mà còn có những vạt chè trung du do đồng bào gây trồng trên các sườn núi, nối tiếp màu xanh của cây chè từ những thân cổ thụ đến những nương chè hôm nay. Nếu chè cổ lưu giữ dấu tích của thời gian thì những nương chè được vun trồng hôm nay lại kể câu chuyện về sự tiếp nối của nghề chè, về bàn tay và cách người dân gìn giữ, phát triển sinh kế trên chính vùng đất mình gắn bó.

Kết quả nghiên cứu giai đoạn 2024-2025 của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc ghi nhận toàn xã Đồng Phúc có 740 cây chè cổ thụ phân bố tại
7/7 thôn; riêng khu vực Phiêng Phung có hơn 400 cây trên diện tích khoảng 1,7ha. Tuổi trung bình của quần thể khoảng 97 năm, nhiều cây trên 100 tuổi. Ngày 26/3/2026 UBND xã Đồng Phúc tổ chức Lễ công bố và trao Quyết định của UBND tỉnh Thái Nguyên công nhận Làng nghề chè Shan Tuyết Bằng Phúc. Ngày 8/12/2025, Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận quần thể 12 cây chè Shan Tuyết tại Đồng Phúc là Cây Di sản Việt Nam.

Điều đáng nói không chỉ là có bao nhiêu cây chè lâu năm mà là sau mỗi thân cây ấy luôn có những bàn tay đang chăm sóc, thu hái, chế biến và kể lại câu chuyện về cây chè bằng chính ký ức và kinh nghiệm của mình. Sự tiếp nối ấy khiến vùng chè cổ Đồng Phúc không chỉ là một vùng nguyên liệu mà còn là một không gian văn hóa cần được nâng niu, gìn giữ và trao truyền. Có vùng chè được nhớ đến bởi hương vị của một chén trà; cũng có những vùng chè mà chỉ cần đứng cạnh những thân cây cổ thụ, nhìn lớp rêu phong trên vỏ cây, nghe tiếng gió luồn qua tán lá, ta như cảm nhận được câu chuyện dài hơn về vùng đất và con người nơi ấy.

Cây chè cổ Shan tuyết
Cây chè cổ Shan tuyết

Đồng Phúc bắt đầu thức giấc khi màn mây còn vương mình trên những triền núi. Giữa màu xanh thẳm của những cây chè cổ thụ, bóng người thấp thoáng trong sương sớm, bàn tay khẽ chạm vào từng chồi non, nâng niu rồi hái xuống như gom cả hương sắc của núi rừng vào một sớm mai trong trẻo. Cây chè nơi đây không thấp, không đều và thẳng hàng như những nương chè được canh tác tập trung bởi chúng mọc tự nhiên. Nhiều cây có thân lớn, cành vươn cao, tỏa tán; búp non phủ một lớp lông trắng bạc mang đặc trưng của chè Shan tuyết, tạo diện mạo riêng của vùng chè cổ. Mỗi gốc chè cổ như cất giữ trong mình một câu chuyện của thời gian. Qua bao mùa mây phủ núi, kinh nghiệm về cách hái, chế biến và gìn giữ cây chè vẫn được tích lũy và trao truyền tựa dòng ký ức xanh huyền diệu, lặng lẽ chảy qua bao thế hệ chưa bao giờ cạn. Cây chè trở thành một phần của cảnh quan, sinh kế và đời sống cộng đồng. Người dân ngoài khai thác còn truyền lại cho nhau kinh nghiệm về mùa vụ, cách hái, chế biến và nhận biết chất lượng chè.

Vì thế, nếu chỉ nhìn chè cổ Đồng Phúc như một sản phẩm nông nghiệp thì chưa đủ. Đáng kể hơn là văn hóa chè - hệ thống tri thức, kỹ năng, tập quán và không gian thực hành được cộng đồng gìn giữ qua các thế hệ. Về mặt sinh học, cây chè có thể được đo bằng chiều cao, đường kính, tuổi… nhưng văn hóa chè phải được nhận diện bằng con người. Cộng đồng cư dân Bằng Phúc, Mường Loòng, Phiêng Phung chính là những người tạo nên phần “hồn” của vùng chè. Không chỉ thu hái búp, họ còn biết giữ cây, bảo vệ gốc, quan sát thời tiết, mùa vụ và sự phát triển của cây. Ông Hoàng Văn Phôn, ngoài 70 tuổi, kể rằng cây chè gắn với ông từ nhỏ nên có nhiều câu chuyện về chè ông được nghe kể từ những người cao tuổi. Kinh nghiệm thu hái, chế biến và thưởng thức cứ thế ngấm dần trong mỗi con người nơi đây.

Ở những thôn có chè cổ thụ, cây chè không hiện diện như một nương cây đồng đều, thẳng hàng theo mô hình sản xuất công nghiệp. Cây có dáng cao, thân và cành lớn, mọc trong không gian núi rừng; nhiều khu vực hình thành những quần thể cây cổ thụ có mật độ đáng chú ý. Cách sinh trưởng ấy tạo nên một diện mạo khác với những đồi chè được trồng theo hàng.

Bằng Phúc, Mường Loòng, Phiêng Phung có thể được nhìn như những không gian thực hành của văn hóa chè cổ. Kinh nghiệm nghề được trao truyền chủ yếu qua thực hành. Người làm chè cùng đi hái, xem búp, chế biến và học cách thưởng thức, phân biệt chất lượng. Người có kinh nghiệm lâu năm có thể nhận ra sự khác biệt của nguyên liệu qua hình dáng búp, độ non, màu lá; đồng thời đánh giá trà qua màu nước, hương thơm và hậu vị. Những tri thức ấy khó có thể chuyển tải đầy đủ bằng một cuốn sách. Chúng tồn tại trong trí nhớ và đôi bàn tay của người thực hành. Người dân nơi đây bao đời gọi chè cổ thụ là “Chè Loòng”, “Chè Đông”. Từ cách gọi truyền thống và đặc trưng giống chè, cái tên “Chè Shan tuyết Bằng Phúc” ra đời. Sau thu hái, chè được chế biến thành nhiều dòng sản phẩm như Hồng trà, Bạch trà, Lục trà… đáp ứng nhu cầu thị trường.

Giá trị của chè cổ Đồng Phúc không nằm riêng ở cây chè hay sản phẩm trà mà hình thành từ cả một hệ thống văn hóa gắn với cộng đồng. Chè cổ Đồng Phúc cần được nhìn nhận không chỉ như một nguồn tài nguyên nông nghiệp mà như một hệ sinh thái văn hóa. Trong đó cây chè là phần vật thể, tri thức và kỹ năng làm chè là phần phi vật thể, cộng đồng là chủ thể duy trì và trao truyền giá trị. Bảo tồn vì thế không chỉ là bảo vệ những cây chè cổ mà còn phải bảo vệ môi trường sống, phương thức thực hành, ký ức và tri thức nghề của cộng đồng. Khi những yếu tố ấy được kết nối với làng nghề, sản phẩm, du lịch trải nghiệm và hoạt động giáo dục, giá trị của chè cổ có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển mà không làm mất đi bản sắc vốn có.

Đặt Đồng Phúc bên cạnh Hà Giang và Yên Bái không nhằm xác định vùng nào hơn vùng nào mà để nhận diện rõ hơn sắc thái của mỗi không gian Shan tuyết. Hà Giang nổi bật bởi không gian Shan tuyết rộng và đa dạng, trong khi Yên Bái có thương hiệu Suối Giàng gắn với cảnh quan vùng cao. Đồng Phúc đáng chú ý là sự kết hợp giữa quần thể chè cổ thụ, làng nghề truyền thống, cảnh quan núi non và quan hệ giữa cây chè với cộng đồng thực hành.

Một búp chè Shan tuyết được hái xuống không chỉ là nguyên liệu đơn thuần mà còn mang theo câu chuyện về thời gian, tập quán thu hái, chế biến và kinh nghiệm của người làm chè. Đó là khí hậu vùng cao, thời gian cây chè lớn lên, bàn tay người thu hái, kinh nghiệm sao chè. Tất cả gặp nhau trong từng chén trà đến với người thưởng thức. Vì vậy, chén trà không chỉ là kết quả của quá trình sản xuất mà còn là nơi gặp gỡ giữa tự nhiên và văn hóa.

Theo người Bằng Phúc, chè nơi đây có những nét riêng so với một số dòng chè cùng loại ở hương nhẹ, vị thanh, cánh đều. Ngoài giống cây, yếu tố thổ nhưỡng và thời tiết cũng quyết định nhiều đến chất lượng trà. Ngày nay, khi nhu cầu thị trường ngày càng tăng, chè Shan tuyết trở thành sản phẩm có thương hiệu, người dân có thêm động lực đầu tư và cải thiện sinh kế. Với một số hộ như gia đình ông Triệu Ích Bảo, Triệu Văn Nình, Mùng Thị Huê, cây chè ngoài ý nghĩa sản vật truyền thống đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng. So với Shan tuyết Hà Giang hay Suối Giàng, chè Đồng Phúc có nét riêng ở sự đan xen giữa quần thể chè cổ thụ, làng nghề, cảnh quan núi rừng và tri thức làm chè được cộng đồng Tày gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ. Chính sự gắn bó giữa cây chè, con người và không gian văn hóa ấy tạo nên bản sắc riêng của Shan tuyết Đồng Phúc.

Một góc nương chè cổ thụ của gia đình ông Triệu Văn Nình ở Bằng Phúc
Một góc nương chè cổ thụ của gia đình ông Triệu Văn Nình ở Bằng Phúc

Thế nhưng, cùng với đó là những vấn đề cần được tính đến: khai thác cây cổ thụ hợp lý, giữ gìn tri thức truyền thống và tránh để câu chuyện văn hóa bị đơn giản hóa trong quá trình thương mại hóa. Bảo tồn không có nghĩa là giữ cây chè trong trạng thái bất động. Người dân có thể đổi mới bao bì, công nghệ, phương thức bán hàng và cách quảng bá nhưng những tri thức cốt lõi như kinh nghiệm thu hái, bảo vệ cây cổ, chế biến và đánh giá trà cần được truyền lại.

Đây cũng là điểm có thể mở ra một hướng đi lớn hơn cho Đồng Phúc. Ngày nay, người ta không chỉ mua một gói trà mà còn muốn biết trà đến từ đâu, ai làm ra nó, vùng đất ấy có câu chuyện gì. Một cây chè cổ có thể trở thành “nhân vật” của một câu chuyện văn hóa, một người làm chè lâu năm có thể trở thành người kể chuyện, một không gian chè có thể trở thành nơi giáo dục về thiên nhiên và tri thức địa phương. Từ Bằng Phúc đến Mường Loòng, từ Phiêng Phung đến những triền núi quanh vùng, câu chuyện về chè không chỉ là câu chuyện của một thức uống, nó còn là câu chuyện về cách cộng đồng ứng xử với thiên nhiên, về cách khiến một sản vật nông nghiệp trở thành một biểu tượng của bản sắc văn hóa.

Khi được bảo tồn đúng hướng, chè Shan tuyết Đồng Phúc sẽ không chỉ có một thương hiệu tốt mà điều quý giá hơn chính là vùng đất này giữ được một di sản sống - nơi cây chè cổ, tri thức cộng đồng và cảnh quan núi rừng cùng kể một câu chuyện liên tục từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Đó cũng là cách chính quyền địa phương cùng cộng đồng - chủ thể di sản đưa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam vào cuộc sống: biến những giá trị văn hóa được cộng đồng trao truyền thành nguồn lực cho phát triển bền vững. Khi những giá trị văn hóa ấy được lan tỏa, những cây chè cổ Đồng Phúc càng cho thấy giá trị của một “Di sản xanh trong mây”.

NGUYỄN TIẾN LỘC

Nguồn: Tạp chí VHNT số 658, tháng 10/2026