Anh Lư Thái Thịnh bên ngôi nhà làm Kho mở hoàng tộc.jpg
Anh Lư Thái Thịnh bên ngôi nhà làm Kho mở hoàng tộc

Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) có người Chăm sinh sống đông thứ 2 sau Ninh Thuận (nay thuộc tỉnh Khánh Hòa), tập trung nhiều ở Phan Thanh, Phan Hiệp kéo dài tới Phan Rí. Trên dải đất hẹp dài chạy dọc bờ biển, vẫn còn những gia đình là hậu duệ hoàng tộc, qua bao đời giữ gìn hiện vật của hoàng gia, những y trang đồ dùng của vương, hậu, hoàng tử công chúa cách đây nhiều thế kỷ.

Dòng họ Chăm với Kho mở hoàng tộc

Nằm dọc quốc lộ 1A đông đúc xe cộ ngược xuôi hai miền Nam Bắc, thế nhưng plei Canar của người Chăm Bàlamôn (thôn Tịnh Mỹ, xã Hồng Thái, tỉnh Lâm Đồng) lại mang dáng vẻ bình yên với những ngôi nhà gạch thấp, bờ tường xanh ngát những cây hoa, cây chuối. Thấy chúng tôi loanh quanh trong con ngõ nhỏ tìm đường, một người dân không cần hỏi mà nói chắc nịch, “chắc chắn là khách tham quan Kho mở”, rồi chỉ ngay nhà của gia đình bà Nguyễn Thị Thềm. Ngôi nhà hai tầng nhuốm màu thời gian, phía trước cổng đề bảng “Bộ sưu tập di sản hoàng tộc Chăm”, mà người dân địa phương quen gọi là Kho mở.

Lần đầu chúng tôi đến nhằm ngày thứ sáu, rơi vào ngày kỵ (thứ hai và thứ sáu), gia đình không thể mở cửa kho báu, hẹn chúng tôi ngày khác. Đội nắng quay lại lần hai, chúng tôi mới gặp được anh Lư Thái Thịnh (sinh năm 1977), là con trai út trong nhà. Bên khoảng sân đầy nắng, anh kể về dòng họ cùng việc giữ gìn, bảo quản kho báu hoàng tộc…

Vào khoảng năm 1940, bà nội anh là bà Nguyễn Thị Thềm (1911 – 1995), được những người Raglai vượt núi tìm đến giao lại những hiện vật, vương miện, áo mũ của hoàng tộc mà họ đã giữ gìn cẩn trọng qua bao đời, thậm chí luôn mang theo trong các thời kỳ chiến tranh loạn lạc, khi xác định bà Thềm là hậu duệ của hoàng gia. Quý giá nhất là hai bộ vương miện vua và búi tóc hoàng hậu bằng vàng ròng, áo bào vua mặc lúc ngự triều với hoa văn cổ và ngực áo thêu hình thần rắn Makara, cùng nhiều trang phục khác của vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa Chăm. Ngoài ra, còn có hơn 100 cổ vật được chế tác tinh xảo, cầu kỳ với các chất liệu quý như vàng, bạc, đồng, ngà voi, đá… Những hiện vật có niên đại khoảng 400 năm, có giá trị cao về mặt lịch sử và nghệ thuật. Bảo tàng tỉnh Bình Thuận (cũ) đã phân loại những di sản này thành 8 nhóm sưu tập gồm: vương miện vua và hoàng hậu, vũ khí, nhạc khí, đồ thờ tự, vải (bao gồm vải thổ cẩm và vải có nguồn gốc từ nước ngoài), gốm sứ, giấy bao gồm sắc phong đời vua Gia Long, Minh Mạng cùng tư liệu về đất đai, địa bạ và gỗ là rương đựng đồ hoàng tộc, mũ vệ binh.

Về việc người Raglai lưu giữ báu vật hoàng tộc Chăm, anh Thịnh cùng gia đình không rõ nguồn cơn. Sử liệu cũng không có nhiều ghi chép cụ thể. Trong những câu chuyện kể dân gian thì khi vương quốc Champa suy yếu, vua và hoàng tộc lánh lên vùng núi sinh sống cùng cộng đồng Churu, Raglai. Một số nhà nghiên cứu văn hóa Chăm cho rằng, có thể trước khi đi đến miền đất mới, họ đã gửi lại kho báu nhờ những người anh em ở vùng núi cao cất giữ. Những người con của đại ngàn qua bao đời luôn giữ gìn cẩn thận báu vật của đồng bằng. Người Churu ở dọc bờ sông Đa Nhim còn lập hai ngôi đền Sopmadronhay và Kreyo để bảo quản bảo vật hoàng gia và thờ cúng hoàng thất Chăm…

Chân dung bà Nguyễn Thị Thềm tại Trung tâm Văn hóa Chăm.jpg
Chân dung bà Nguyễn Thị Thềm tại Trung tâm Văn hóa Chăm

Kho báu hoàng tộc khi bà Thềm nhận lại từ người Raglai nhiều hơn bây giờ. Anh Thịnh thuật lại lời kể của bà nội, trong “tuần lễ vàng” do Bác Hồ phát động ủng hộ cách mạng sau năm 1945, bà Thềm đã họp dòng tộc và đích thân cúng bái xin phép tổ tiên để hiến tặng một bộ vương miện của vua và hoàng hậu cùng nhiều vật phẩm bằng vàng khác như nải chuối, trái khế, mãng cầu, khay đựng trầu… Về sau, bà còn hiến hơn 200 mẫu đất, chỉ giữ lại một ít cho dòng tộc canh tác. Anh Thịnh cho biết, từ khi hiến đất đến nay, hằng năm gia đình vẫn hưởng khoản hoa lợi tượng trưng, ban đầu là 2 tấn lúa, đến nay là 50 triệu/năm.

Theo chế độ mẫu hệ, bà Thềm mất thì con gái út thừa kế nhưng bà Thềm không có con, nên trao cho bà Nguyễn Thị Đào (1944 – 2005), là con gái út của bà Nguyễn Thị Ngôi, em gái bà Thềm. Bà Đào mất mẹ từ rất nhỏ, được bà Thềm nuôi dưỡng như con. Hiện, kho báu do chị Lư Nguyễn Thị Phương Ái, con gái bà Đào bảo quản (chín người con của bà Đào theo họ ông Lư Thái Thuổi, chồng bà Đào). Anh Thịnh chia sẻ, kho báu được truyền lại theo tục lệ để có người đại diện trông coi, chứ cả dòng tộc đều xem đó là trách nhiệm thiêng liêng và cao quý, dùng tất cả khả năng để giữ gìn, dù việc bảo quản không hề dễ dàng khi mà cuộc sống thường nhật gặp nhiều khó khăn thiếu thốn.

Ngôi nhà thờ tự của dòng tộc cũng là nơi lưu giữ các báu vật là nhà của bà Thềm xây từ năm 1964, nay đã bạc màu thời gian, vài chỗ hư cũ, bờ tường bao quanh có đoạn nứt toác. Khoảng vườn nhỏ bên hông nhà thờ là nơi đặt tạm hai k’long, một dành cho nữ một dành cho nam của gia tộc. Theo tục lệ của người Chăm, người mất sẽ được hỏa thiêu, chỉ giữ lại chín mẩu xương trán chờ nhập kut (là phần mộ của dòng họ bên mẹ) để người mất về với ông bà tổ tiên. Số chín tượng trưng cho chín tháng cưu mang trong bụng mẹ, xương trán hàm ý lưu giữ ký ức về người thân, để con cháu tưởng nhớ, thờ tự. Anh Thịnh bồi hồi cho biết, đến nay, vẫn chưa xây xong kut để an táng xương cốt của dòng họ. Những mảnh xương trán đại diện cho phần xác thịt của cả gia đình hoàng tộc từ nhiều đời vẫn nằm phơi sương phơi nắng...

Vì tục kiêng cữ, cũng để bảo vệ di sản, những báu vật Chăm chỉ lưu giữ trong dòng tộc. Từ tháng 7/2024, gia đình phối hợp với Bảo tàng tỉnh Bình Thuận (cũ) lập “Bộ sưu tập di sản hoàng tộc Chăm” trưng bày các hiện vật cho du khách thưởng lãm, đồng thời phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử.

Vương miện vua và búi tóc hoàng hậu Chăm.jpg
Vương miện vua và búi tóc hoàng hậu Chăm

Vị công chúa trong lòng người Chăm

Bà Nguyễn Thị Thềm được cho là hậu duệ của dòng tộc Vua Chăm Po Klong Mah Nai và Po Klong Ghul (theo ghi chú tại Trung tâm Văn hóa Chăm, xã Bắc Bình, Lâm Đồng). Bên cạnh đó, tồn tại các giả thiết khác nhau về thân thế của bà. Giai đoạn cuối của triều đại Champa vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được hé mở. Sẽ cần nhiều khảo cứu khoa học để làm rõ các vấn đề của lịch sử. Chỉ biết rằng người Raglai sau mấy trăm năm cẩn trọng giữ gìn báu vật hoàng gia đã vượt suối trèo đèo tìm đến bà Thềm để trao lại. Bà mất đã hơn ba thập niên nhưng người dân trong plei Canar vẫn nhắc về bà với tên gọi Nai Thiềm (công chúa Thiềm) bằng niềm kính trọng lẫn tự hào. Đi khắp dải đất từ Phan Thanh đến Phan Rí, người dân dù đã được cấp chủ quyền vẫn nói rằng đây là đất của Nai Thiềm. Ngôi đền Chăm thờ Vua Po Klong Mah Nai ở thôn Lương Bình cách nhà bà Thềm 15 cây số (là Di tích lịch sử cấp quốc gia) vẫn do con cháu bà Thềm coi sóc, cúng tế vào dịp giỗ lễ.

Vào mỗi dịp lễ hội, những chức sắc người Chăm dẫn đầu đoàn rước ăn mặc đẹp đẽ, trang trọng đến nhà bà Thềm rước sắc phong, y trang của các vị vua, hậu mà người Chăm đã phong thần để cử hành lễ, trong đó có lễ rước nước tắm, lễ mặc y phục cho các tượng thờ, tiếp đến là các nghi lễ theo nghi thức hoàng tộc hết sức long trọng và thành kính để tưởng nhớ tổ tiên, cầu cho mưa thuận gió hòa, dân làng được ấm no, sung túc. Những giá trị ấy sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa giàu bản sắc của các dân tộc trên dải đất hình chữ S.

Bài và ảnh: HOÀNG NGỌC THANH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 646, tháng 6-2026