Từ khóa: biến đổi; văn hóa; làng xã đô thị; Thanh Hóa.

Abstract: On the foundation of compiled research materials and practical research surveys, this article clarifies certain distinctions in the transformation and restructuring of cultural atmosphere as well as festivities, cultural beliefs, social relationships and generational traditions of Thanh Hóa’s urban villages’ citizens. The results indicate that urbanization does not eradicate village culture but rather stimulates a process of restructuring in a selection-and-adaptation direction. Certain traditional values are maintained in the form of symbols, when multiple cultural practices have been adjusted to suit the urban space and management mechanisms. With such discussions, this article helps identifying the signatures of Thanh Hóa’s urbanvillage culture and introduces certain existing issues in today’s work for cultural management and preservation.

Keywords: transformation; culture; urban villages; Thanh Hóa.

W-bieu dien tro tu huan - xuan pha (Thanh Hoa).jpg
Biểu diễn trò Xuân Phả tại Nghè thờ Thần Hoàng làng (Nghè Xuân Phả, xã Thọ Xuân, tình Thanh Hóa) - Ảnh tư liệu minh họa: Thanh Danh

1. Đặt vấn đề

Quá trình đô thị hóa làm thay đổi không gian cư trú, cấu trúc kinh tế và các thực hành văn hóa trong đời sống cộng đồng. Đô thị hóa không làm các làng xã mất đi mà khiến chúng trở thành một bộ phận của không gian đô thị, tồn tại trong trạng thái “không nguyên dạng” với những hình thức tổ chức và thực hành văn hóa mới (Cao Văn Hà, 2017). Khi được tích hợp vào đô thị, các thiết chế văn hóa truyền thống như lễ hội, tín ngưỡng, quan hệ làng xóm, dòng họ và phong tục vòng đời không còn vận hành theo logic cũ, mà lựa chọn, điều chỉnh và sắp xếp lại để thích ứng với điều kiện xã hội mới.

Đã có nhiều nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng xã dưới tác động của đô thị hóa, song phần lớn mới tiếp cận làng xã như một chỉnh thể nông thôn trong quá trình đô thị hóa, chưa chú ý đầy đủ đến các làng xã đã trở thành bộ phận của không gian đô thị với tư cách một không gian văn hóa đặc thù (Ngô Văn Giá, 2007; Trần Thị Hồng Yến, 2013). Ở Thanh Hóa, địa bàn có mật độ làng xã lịch sử dày đặc, nhiều làng hiện đã trở thành một phần của không gian đô thị. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào cộng đồng làng xã nông thôn hoặc ven đô, trong khi làng đô thị vẫn chưa được khảo sát như một đối tượng văn hóa riêng biệt (Đào Thanh Thủy, 2018; Nguyễn Thị Việt Hưng, 2018; Nguyễn Xuân Phi, 2022).

Từ góc nhìn xã hội học văn hóa, đây là một khoảng trống nghiên cứu đáng chú ý, bởi làng xã khi đã trở thành bộ phận của đô thị sẽ không còn vận hành như một “làng nông thôn mở rộng”, mà là một không gian văn hóa lai ghép cần được nhận diện bằng những tiêu chí khác. Từ hướng tiếp cận đó, bài viết tập trung phân tích sự biến đổi và tái cấu trúc không gian và các thực hành văn hóa làng xã thông qua khảo sát thực địa tại một số làng nội đô và ngoại thành. Từ đó, bài viết đưa ra một số gợi mở về định hướng tái cấu trúc văn hóa làng xã đô thị xứ Thanh trong bối cảnh mới.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng cách tiếp cận định tính là chủ đạo, kết hợp giữa điền dã dân tộc học và phân tích trường hợp nhằm nghiên cứu sự biến đổi và tái cấu trúc các thực hành văn hóa làng xã trong không gian đô thị.

Phương pháp điền dã dân tộc học được tiến hành tại một số làng xã thuộc địa giới hành chính của thành phố Thanh Hóa trước khi sáp nhập, trong hai năm 2024, 2025 tại các làng xã truyền thống chịu tác động trực tiếp của quá trình đô thị hóa.

Phỏng vấn sâu được thực hiện với 24 người cao tuổi, 6 cán bộ thôn, phường và 30 cư dân địa phương nhằm thu thập các trải nghiệm, nhận thức và đánh giá của các chủ thể xã hội về những biến đổi trong đời sống văn hóa làng xã. Các cuộc phỏng vấn tập trung vào các lĩnh vực như lễ hội, tín ngưỡng, phong tục vòng đời và quan hệ cộng đồng trong điều kiện không gian sống và sinh kế thay đổi.

Bên cạnh đó, bài viết vận dụng phương pháp phân tích trường hợp tại một số làng đô thị tiêu biểu của xứ Thanh, bao gồm làng Nam Ngạn (phường Hàm Rồng), làng Giàng (phường Đông Tiến) và làng Nhồi (phường Đông Quang).

Việc kết hợp các phương pháp trên cho phép tiếp cận quá trình biến đổi và tái cấu trúc các thực hành văn hóa làng xã đô thị từ góc nhìn xã hội học văn hóa.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả

Tái cấu trúc không gian văn hóa làng xã đô thị xứ Thanh trong quá trình đô thị hóa

Trước khi chịu tác động của quá trình đô thị hóa, không gian làng, xã truyền thống ở xứ Thanh mang đặc trưng co cụm, ổn định và có tính tự trị tương đối cao. Các hoạt động cư trú, sinh kế và sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng được tổ chức đan xen trong phạm vi làng, tạo nên một chỉnh thể không gian - xã hội khép kín, nơi các mối quan hệ cộng đồng được duy trì bền vững trên cơ sở quen biết lâu dài, huyết thống và địa vực (Phan Đại Doãn, 2010). Trong cấu trúc này, các thiết chế truyền thống như đình, chùa, miếu, giếng làng không chỉ giữ vai trò tín ngưỡng mà còn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra các hoạt động hội họp, trao đổi thông tin và tái khẳng định trật tự xã hội làng.

Quá trình đô thị hóa, cùng với sự áp đặt của các chuẩn mực quy hoạch hiện đại, đã làm biến đổi căn bản cấu trúc không gian làng xã truyền thống. Theo định hướng Quy hoạch chung đô thị Thanh Hóa đến năm 2040, khu vực làng xóm và cảnh quan đồng bằng là không gian chịu tác động mạnh mẽ nhất của quá trình mở rộng đô thị. Đặc biệt, tại các vùng tiếp giáp giữa làng cũ và khu đô thị mới, sự khác biệt về kiến trúc, mật độ xây dựng và chức năng sử dụng đất đã tạo ra những “đứt gãy không gian”, làm phá vỡ tính liên tục vốn có của không gian làng. Trên thực tế, tại nhiều làng nội đô, hệ thống giao thông mới và các khu dân cư hiện đại đã thu hẹp đáng kể các không gian chung truyền thống, vốn gắn liền với sinh hoạt cộng đồng, qua đó làm suy giảm chức năng xã hội của không gian làng trong việc tổ chức tương tác, duy trì gắn kết và tái sản xuất đời sống cộng đồng.

Trường hợp làng Nam Ngạn cho thấy rõ nét quá trình phân mảnh không gian làng trong bối cảnh đô thị hóa. Nằm bên hữu ngạn sông Mã, gần khu vực cầu Hàm Rồng, một vị trí địa lý có ý nghĩa đặc biệt trong cấu trúc cư trú sông nước vùng Bắc Trung Bộ. Nam Ngạn từng sở hữu một không gian văn hóa làng tương đối hoàn chỉnh với hệ thống đình, chùa, miếu mạo phân bố xen kẽ trong khu dân cư. Tuy nhiên, quá trình phát triển đô thị đã khiến các khu chung cư và quỹ đất quy hoạch mới xen cài trực tiếp vào không gian làng cũ, chia tách làng thành nhiều mảng nhỏ. Các ngõ xóm truyền thống bị thu hẹp, không gian sinh hoạt tập thể ngày càng hạn chế, kéo theo sự suy giảm rõ rệt các cơ chế gặp gỡ và tương tác cộng đồng trong đời sống thường nhật. Trong trường hợp này, sự phân mảnh không gian không chỉ làm thay đổi hình thái làng mà còn làm suy yếu nền tảng xã hội của đời sống cộng đồng làng xã.

Một dạng biến đổi khác của không gian làng xã đô thị có thể quan sát tại làng Nhồi. Với đặc thù là làng nghề chế tác đá truyền thống hình thành và phát triển gắn chặt với nguồn tài nguyên đá tại núi Nhồi, không gian làng trước đây được tổ chức theo mô hình kết hợp chặt chẽ giữa cư trú và sinh kế. Hoạt động sản xuất đá diễn ra ngay trong khu dân cư, tạo nên sự đan xen hữu cơ giữa lao động, đời sống gia đình và sinh hoạt cộng đồng. Tuy nhiên, trong quá trình đô thị hóa, các cơ sở sản xuất đá buộc phải di dời ra khỏi khu dân cư theo yêu cầu quy hoạch và bảo vệ môi trường. Việc tách rời không gian sản xuất khỏi không gian cư trú đã làm thay đổi căn bản tổ chức không gian làng: sinh kế không còn hiện diện trong đời sống thường nhật của cộng đồng, trong khi không gian ở được cải tạo theo hướng khang trang, mang dáng dấp đô thị rõ nét hơn. Trường hợp làng Nhồi cho thấy đô thị hóa không chỉ tái cấu trúc hình thái không gian mà còn làm đứt đoạn mối liên kết truyền thống giữa sinh kế và cộng đồng - một trụ cột quan trọng của cấu trúc làng xã.

Tại làng Giàng, quá trình biến đổi không gian làng diễn ra trong bối cảnh đặc thù của một làng cổ nằm ở bên hữu ngạn sông Mã, tại ngã ba sông Mã - sông Chu. Từng là trung tâm hành chính và kinh tế quan trọng của vùng đất Thanh Hóa trong nhiều thế kỷ, làng Giàng sở hữu không gian làng gắn chặt với hoạt động giao thương đường thủy, nghề đan cót và cảnh quan “trên chợ dưới sông”. Khi đô thị hóa lan tỏa, cấu trúc không gian cư trú và sinh kế của làng cũng chịu sự tái cấu trúc mạnh mẽ, làm suy giảm vai trò trung tâm của các không gian sinh hoạt truyền thống gắn với sông nước và nghề thủ công.

Tổng hợp các trường hợp nghiên cứu cho thấy, biến đổi không gian làng xã đô thị xứ Thanh không đơn thuần là sự thay đổi hình thái không gian cư trú, mà sâu xa hơn là sự dịch chuyển chức năng xã hội của không gian văn hóa. Trong khi các thiết chế làng như đình, chùa, miếu vẫn được bảo tồn về mặt vật chất, khả năng tổ chức và duy trì đời sống cộng đồng thường nhật của chúng suy giảm rõ rệt. Trong cấu trúc đô thị đương đại, không gian làng xã không bị xóa bỏ mà được tái định vị từ không gian sinh hoạt cộng đồng sang không gian mang tính biểu trưng, ký ức và nghi lễ. Sự tái định vị này góp phần lý giải cách thức văn hóa làng xã xứ Thanh tồn tại, thích ứng và tiếp tục được tái tạo trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay.