
Năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt với Bảo tàng Lịch sử quốc gia, bởi vừa tròn 80 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên đến thăm Bảo tàng. Đó là ngày 9/2/1946, giữa muôn vàn bộn bề của buổi đầu lập quốc, Người đến tham dự khai mạc Triển lãm “Những tài liệu lịch sử của văn hóa Việt Nam” tại Quốc gia Bảo tàng Viện (tiền thân của Bảo tàng Lịch sử quốc gia).
Trong quá trình hình thành và phát triển, Bảo tàng vinh dự bảy lần được đón Bác đến thăm, làm việc và chỉ dẫn về nghiệp vụ. Những lời dạy, bút tích, hình ảnh và kỷ vật của Người đã trở thành di sản đặc biệt, định hướng cho hoạt động sưu tầm, bảo quản, trưng bày và giáo dục của Bảo tàng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự hình thành Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Có một sự thật lịch sử luôn khiến những người làm công tác di sản xúc động: chỉ ba tháng sau ngày Tuyên ngôn Độc lập, giữa lúc chính quyền cách mạng còn non trẻ và phải đối phó với nhiều khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam. Sắc lệnh nghiêm cấm phá hủy đình, chùa, đền, miếu, cổ vật, thành quách, mộ, chiếu sắc, văn bằng và những di sản có ích cho lịch sử; đồng thời chuyển giao tòa nhà Bảo tàng Louis Finot thành Quốc gia Bảo tàng Viện. Đây là dấu mốc thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, ý thức trân trọng di sản và tầm nhìn chiến lược của Người đối với văn hóa dân tộc.
Sau năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng và Chính phủ chỉ đạo xây dựng Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trên cơ sở tiếp quản, bổ sung tài liệu, hiện vật và chuyển đổi Bảo tàng Louis Finot từ bảo tàng nghệ thuật thành bảo tàng lịch sử. Bảo tàng chính thức mở cửa ngày 3/9/1958. Tháng 12/1954, Hội đồng Chính phủ cũng quyết định xây dựng Viện Bảo tàng Cách mạng tại số 25 Tông Đản. Đặt hai bảo tàng gần nhau không chỉ là sự liên hoàn về không gian địa lý, mà còn là một sự tiếp nối liên tục của tiến trình lịch sử dân tộc. Ngày 5/1/1959, Người đến xem trưng bày trước ngày Bảo tàng Cách mạng Việt Nam chính thức khánh thành và mở cửa đón khách tham quan.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ, nhân viên tham gia xây dựng Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia), ngày 5/1/1959. - Ảnh: Tư liệu
Bảy lần Bác Hồ đến và những bài học nghiệp vụ
Lần đầu, ngày 9/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự khai mạc triển lãm tại Quốc gia Bảo tàng Viện, khẳng định sự quan tâm sâu sắc đối với văn hóa và bảo tồn di sản.
Lần thứ hai, ngày 5/1/1959, sau khi xem trưng bày Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Người trao tặng chiếc lược đồi mồi khắc dòng chữ “Nguyễn Thị Thanh, Côn Đảo, 1917” cho Bảo tàng, thể hiện sự trân trọng đối với những chứng tích lịch sử và vai trò lưu giữ của bảo tàng.
Ngày 23/3/1959, cùng Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad tham quan Bảo tàng, Người trực tiếp giới thiệu về Chiến thắng Điện Biên Phủ và tinh thần chiến đấu của quân dân Việt Nam.
Ngày 25/6/1959, khi cùng Tổng thống Indonesia Sukarno đến thăm, Người căn dặn cán bộ thuyết minh phải khách quan, thận trọng khi đánh giá nhân vật lịch sử. Trong bài Xem Viện Bảo tàng Cách mạng và Sổ vàng của Bảo tàng, Người nhấn mạnh: “Trưng bày khéo, giải thích rõ, Viện Bảo tàng là một trường học tốt về lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam ta”. Lời dạy ấy trở thành phương châm hoạt động của Bảo tàng.
Ngày 13/2/1961, tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Người xem bản dập mặt trống đồng Ngọc Lũ, thể hiện sự quan tâm đối với di sản văn hóa dân tộc.
Ngày 12/3/1963, cùng Nhà vua Lào Sisavang Vatthana và Thủ tướng Souvanna Phouma thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Người đánh giá cao sa bàn Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Trong lần cuối, ngày 21/10/1964, Người yêu cầu bổ sung, cập nhật nội dung trưng bày; hoàn thiện sơ đồ, biển chỉ dẫn; kiểm chứng chặt chẽ tư liệu lịch sử và đổi mới công tác thuyết minh phù hợp với từng đối tượng khách tham quan. Người cũng trực tiếp giới thiệu Chiến thắng Điện Biên Phủ bằng tiếng Pháp, để lại bài học sinh động về phương pháp truyền đạt.
Tất cả những chỉ dẫn đó đến nay vẫn giữ nguyên giá trị: trưng bày bảo tàng phải chính xác, thường xuyên đổi mới; cách thể hiện cần rõ ràng, dễ hiểu và hấp dẫn; người làm bảo tàng phải luôn trau dồi chuyên môn, tôn trọng tuyệt đối tính chân thực của lịch sử.

Gìn giữ những di sản đặc biệt
Một minh chứng tiêu biểu cho cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với di sản là việc bảo vệ Bộ sưu tập bảo vật hoàng cung triều Nguyễn, hiện Bảo tàng Lịch sử quốc gia lưu giữ gồm khoảng 2.500 hiện vật. Đây là bộ sưu tập đầy đủ nhất phản ánh về đời sống cung đình của vương triều phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.
Ngày 30/8/1945, tại lầu Ngũ Phụng, ở Huế, Vua Bảo Đại trao ấn, kiếm thoái vị cho phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Trần Huy Liệu làm Trưởng đoàn. Trước đó, tài sản của vương triều đã được kiểm kê trong hai ngày 27 và 28/8. Sau lễ thoái vị, số tài sản này được chuyển ra Hà Nội và ngày 17/12/1959 được Bộ Tài chính bàn giao cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam quản lý.
Trong những năm kháng chiến, bộ sưu tập phải trải qua một hành trình đặc biệt. Theo nhật ký của đồng chí Trần Huy Liệu, khối bảo vật được đưa về Liên khu V, di chuyển cùng các cơ quan kháng chiến trong suốt chín năm. Trong điều kiện phải di chuyển liên tục, kho tàng thiếu an toàn và thiếu thốn, Ủy ban Kháng chiến Liên khu V từng đề nghị bán một phần vàng bạc để bổ sung công quỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh không đồng ý, bởi đó là di sản của cha ông, không thể đem bán. Quyết định ấy thể hiện tầm nhìn văn hóa sâu rộng và niềm tin vào thắng lợi của dân tộc: ngay trong hoàn cảnh chiến tranh, tài sản lịch sử vẫn phải được bảo vệ để trao truyền cho mai sau. Nhờ vậy, bộ sưu tập được bảo toàn và trở thành khối di sản đặc biệt của quốc gia.
Bảo tàng Lịch sử quốc gia hiện đang lưu giữ 4.361 tài liệu, hiện vật và hình ảnh liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Bác. Khối tư liệu được hình thành từ nhiều nguồn: Văn phòng Lưu trữ Trung ương Đảng; các sở văn hóa, trong đó có cơ quan văn hóa của Khu tự trị Việt Bắc; bảo tàng địa phương; cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài; cùng nhiều nhân chứng, nhân vật lịch sử và người dân. Việc tiếp nhận từ các nguồn khác nhau tạo nên một sưu tập phong phú về loại hình, chất liệu và câu chuyện lịch sử. Những hiện vật, tài liệu này luôn được gìn giữ cẩn trọng, quản lý khoa học và phát huy hiệu quả trong các hoạt động của bảo tàng.
Xét về niên đại, phần lớn tài liệu, hiện vật của Bác tại Bảo tàng thuộc thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đều là độc bản, có giá trị lịch sử, văn hóa và khả năng khai thác rất cao. Những tài liệu, hiện vật này không chỉ minh chứng cho hành trình tìm đường cứu nước đầy gian khổ, mà còn phản ánh quá trình Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng, đời sống giản dị và sự tận tụy vì độc lập dân tộc, tự do của nhân dân. Vì vậy, đây vừa là nguồn sử liệu gốc, vừa là phương tiện giáo dục có sức thuyết phục đối với thế hệ hôm nay và mai sau.
Nổi bật trong sưu tập là ba tác phẩm của Người được công nhận Bảo vật quốc gia đợt đầu năm 2012. Đường kách mệnh tập hợp các bài giảng tại Quảng Châu, đặt cơ sở tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng cách mạng. Ngục trung nhật ký, gồm 134 bài thơ sáng tác trong thời gian Người bị giam ở Quảng Tây, vừa có giá trị văn chương, vừa phản ánh tầm vóc trí tuệ, ý chí và khát vọng độc lập, tự do. Bản thảo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 là văn kiện có ý nghĩa như một cương lĩnh kháng chiến, khơi dậy lòng yêu nước và ý chí toàn dân đứng lên bảo vệ Tổ quốc.
Bảo tàng còn lưu giữ tượng đồng Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946, do nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim sáng tác được công nhận Bảo vật quốc gia năm 2022, và Sổ vàng Trường Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1949-1950, được công nhận Bảo vật quốc gia năm 2026. Bút tích, lời huấn thị của Người trong sổ vàng thể hiện quan điểm sâu sắc về mục đích học tập, rèn luyện cán bộ và các phẩm chất của người cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Các tài liệu, hiện vật này luôn được quản lý khoa học, bảo quản cẩn trọng và phát huy giá trị trong nghiên cứu, trưng bày, giáo dục.


Phát huy giá trị di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gần 70 năm qua, khối tư liệu, hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khai thác hiệu quả trong trưng bày thường xuyên, triển lãm chuyên đề, nghiên cứu và biên soạn ấn phẩm. Hệ thống trưng bày của Bảo tàng hiện đang giới thiệu 218 hiện vật và 28 ảnh về Người, trong đó có 182 hiện vật gốc. Bảo tàng cũng chuyển giao, trao đổi hoặc phục chế hiện vật phục vụ hoạt động của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Tôn Đức Thắng, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang và nhiều đơn vị khác.
Hoạt động trưng bày lưu động được triển khai từ sớm nhằm đưa lịch sử cách mạng và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với công chúng ở mọi vùng miền, nhất là những nơi người dân chưa có điều kiện đến tham quan tại Hà Nội. Hai chuyên đề đầu tiên là “Lịch sử phong trào cách mạng Việt Nam” và “Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”, đã đi tới 323 điểm thuộc 51 tỉnh, thành phố. Sau khi Người qua đời và Di chúc được công bố năm 1969, trong thời gian Bảo tàng Hồ Chí Minh chưa ra đời, Bảo tàng Lịch sử quốc gia liên tục tổ chức các đợt trưng bày về thân thế, sự nghiệp, Di chúc và tình cảm của nhân dân đối với Người.
Từ năm 1990, các cuộc trưng bày tiếp tục đổi mới theo hướng tăng cường hiện vật gốc, đáp ứng nhu cầu tiếp cận của công chúng. Các chuyên đề như “Tặng phẩm của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc Việt Nam”, “Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ”, “Ánh sáng từ Đường kách mệnh”, “Hồ Chí Minh - Chân dung một con người” đã khắc họa sinh động cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức của Người. Gần bảy thập niên, Bảo tàng đã tổ chức trưng bày lưu động tại hơn 500 điểm thuộc hơn 60 tỉnh, thành phố trước sắp xếp, được nhân dân đón nhận và đã chạm tới trái tim của hàng chục triệu lượt khách tham quan.
Khối tư liệu này của Bảo tàng còn là nguồn sử liệu quan trọng đối với các viện nghiên cứu, trường đại học, nhà xuất bản, cơ quan lưu trữ, báo chí và hơn 40 bảo tàng ở Trung ương, địa phương. Trong các năm 1993-1994, Bảo tàng cung cấp gần 1.000 trang bản sao bút tích, bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh phục vụ biên soạn “Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử” và “Hồ Chí Minh toàn tập”; đồng thời cung cấp tư liệu cho “Văn kiện Đảng” và nhiều công trình nghiên cứu, xuất bản chuyên khảo. Việc mở rộng khả năng tiếp cận hiện vật gốc và tư liệu khoa học đã góp phần lan tỏa giá trị di sản của Người trong xã hội.

Thay lời kết
Chặng đường xây dựng và phát triển của Bảo tàng Lịch sử quốc gia gắn liền với quá trình thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh và gìn giữ, phát huy di sản của Người. Qua sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày và giáo dục, Bảo tàng đã góp phần bồi đắp truyền thống yêu nước, nâng cao hiểu biết lịch sử, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân, đồng thời quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Trong thời gian tới, Bảo tàng cần tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng bảo quản, nghiên cứu và truyền thông, mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng, nhất là thế hệ trẻ. Đó là con đường để Bảo tàng thực sự phát huy vai trò “một trường học tốt về lịch sử cách mạng”, làm cho di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục sống động, gần gũi và có sức dẫn dắt trong đời sống văn hóa hôm nay.

________________
Tài liệu tham khảo:
1. Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (1999). 40 năm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (1959-1999), Hà Nội.
2. Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (2004). Bảo tàng Cách mạng Việt Nam - Trường học tốt về lịch sử cách mạng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (2008). Tư liệu hóa sưu tập các tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa công bố hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
4. Bảo tàng Lịch sử quốc gia (2016). Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Khởi đầu một hành trình mới, Hà Nội.
5. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (2008). 50 năm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (1958-2008), Hà Nội.
6. Cục Di sản văn hóa (2005). Hội đồng Quốc tế các bảo tàng - Lịch sử và Quy tắc đạo đức bảo tàng, Bản dịch, Cục Di sản văn hóa xuất bản, Hà Nội.
7. Nguyễn Văn Cường (2019). “Bảo tàng Lịch sử quốc gia 60 năm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Kỷ yếu Hội thảo Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh do Tạp chí Cộng sản, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương tổ chức, tháng 8/2019.
8. Nguyễn Thị Lan (2015). Sưu tập Bảo vật hoàng cung triều Nguyễn lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
9. Phạm Mai Hùng (2003). Gìn giữ và phát huy di sản văn hóa dân tộc, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
10. Phạm Quốc Quân (2011). Ngã ba di sản, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
NGUYỄN HOÀI NAM
Nguồn: Tạp chí VHNT số 656, tháng 9/2026