
Có những món ăn chỉ cần nghe tên đã gợi nhớ đến một câu chuyện. Bánh su sê – hay còn gọi bánh phu thê – là một món như thế. Nhỏ nhắn, dân dã, không cầu kỳ nhưng chiếc bánh lại mang trong mình lời nhắn nhủ về tình nghĩa vợ chồng, về sự thủy chung son sắt. Bởi vậy, đến Hội An (TP Đà Nẵng), bên cạnh cao lầu, hến xào, bánh tráng đập…, du khách còn có thể tìm và thưởng thức món bánh ngọt mộc mạc mà duyên dáng này.
Công phu từ hạt nếp
Ngày nay, làm bánh phu thê ở Hội An vẫn giữ được nhiều nét truyền thống. Nguyên liệu tuy giản dị nhưng để có một chiếc bánh ngon lại không phải chuyện dễ dàng.
Người làm bánh thường chọn loại gạo nếp hương thơm, hạt trắng, chắc. Gạo được vo sạch, để ráo rồi đem xay thành bột. Sau đó, bột được lọc kỹ để lấy phần tinh bột nếp.
Điều đáng nói là từ một ký gạo nếp chỉ thu được khoảng bốn lạng tinh bột. Phần bột lọc tiếp tục được xay thật nhuyễn, rồi đem phơi hoặc sấy khô. Có khi phải để hơn mười ngày, bột mới đạt độ thích hợp để làm bánh.
Nhân bánh chủ yếu gồm đậu xanh và dừa. Bột được dàn thật mỏng trên khuôn, cho nhân vào một đầu rồi phủ phần bột còn lại lên trên. Sau đó bánh được gói bằng lá chuối, tạo thành hình khối tam giác rồi đem hấp cách thủy.
Ngày thường, bánh được gói giản dị trong lá chuối. Đến những dịp cưới hỏi, người ta còn gói bánh bằng lá dừa thành hình hộp, vừa chắc chắn vừa đẹp mắt. Những chiếc bánh nhỏ nằm ngay ngắn trong mâm lễ, như những lời chúc bình dị dành cho đôi uyên ương.
Từ hạt nếp của đồng ruộng đến chiếc bánh trên mâm lễ, bánh su sê cũng mang trong mình dấu ấn của văn hóa làng quê Việt Nam. Trong hành trình hàng nghìn năm gắn bó với nền văn minh lúa nước, người Việt đã tạo nên nhiều món bánh dân gian từ những sản vật gần gũi của quê nhà. Những món bánh ấy không chỉ để ăn mà còn lưu giữ phong tục, ký ức và nếp sống của cộng đồng – một phần đáng quý của di sản ẩm thực dân tộc.
Mộc mạc mà có duyên
Bánh su sê không rực rỡ sắc màu cũng chẳng cầu kỳ về hình dáng. Thế nhưng chính sự giản dị ấy lại tạo nên sức hấp dẫn riêng.
Bóc lớp lá xanh, chiếc bánh hiện ra với màu vàng óng như mật ong. Lớp vỏ trong veo để lộ những sợi dừa trắng muốt quyện cùng nhân đậu xanh. Cắn một miếng, vị dẻo mềm của bột nếp hòa với vị bùi của đậu xanh, vị ngọt thanh và béo nhẹ của dừa.
Ăn chậm mới cảm nhận hết cái duyên của món bánh. Không quá ngọt, không quá béo, bánh có một hương vị đằm thắm, nhẹ nhàng. Có lẽ cũng vì thế mà người ta thường ví cái vị của bánh giống như tính cách người phố Hội: không ồn ào, không phô trương nhưng càng thưởng thức càng thấy sâu sắc, đậm đà.
Thu về, giữa những con phố cổ rêu phong, bên mái ngói vàng trong nắng, đôi khi chỉ cần ngồi xuống bên một quán nhỏ, gọi vài chiếc bánh su sê và chén trà nóng, du khách đã có thể cảm nhận một chút hồn quê xứ Quảng.
Và có lẽ, trong một buổi chiều lang thang phố cổ, khi nắng Hội An nghiêng xuống những mái nhà vàng, thưởng thức một chiếc bánh su sê bên tách trà nóng, người ta không chỉ ăn một món đặc sản. Người ta còn đang nếm một chút vị xưa - vị của tình nghĩa, của quê nhà và của một di sản ẩm thực được gìn giữ qua bao thế hệ.
Bài và ảnh: LÊ QUỐC KỲ
Nguồn: Tạp chí VHNT số 655, tháng 9/2026