
Thời gian gần đây, trên một số phương tiện thông tin đại chúng và các trang mạng xã hội đã nổ ra cuộc tranh luận về tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà. Nhiều tác giả, căn cứ vào các tài liệu truyền thống, khẳng định Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Trong khi đó, một số sách giáo khoa hiện hành lại ghi phần tác giả là “Khuyết danh”. Vậy cần hiểu vấn đề này như thế nào cho đúng?
Trước hết, cần khẳng định rằng Nam quốc sơn hà là một trong những thi phẩm nổi tiếng nhất của văn học Việt Nam, được xem như bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của dân tộc và trong thời gian dài gắn với tên tuổi Lý Thường Kiệt. Hơn một thế kỷ trước, người đầu tiên nêu ý kiến cho rằng bài thơ là của Lý Thường Kiệt là Hoàng Cao Khải. Trong Việt sử yếu (hoàn thành năm 1914, Nxb Nghệ An, 2007, tr. 168), dù không đưa ra bằng chứng thuyết phục, ông viết: “Tục truyền bài thi ấy là do thần nhân ứng mộng, còn chúng tôi thì cho bài thi ấy là do Lý Thường Kiệt sáng tác để kỷ niệm chiến công vậy”. Tuy nhiên, nhận định của Diên Mậu quận công không ảnh hưởng nhiều đến giới học giả sau này. Đến năm 1941, Việt sử yếu vẫn chưa được đề cập trong Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (ở mục tác gia Hoàng Cao Khải).
Năm 1917, trong Sơ học An Nam sử lược (từ lần in thứ hai năm 1918 đổi tên thành Việt Nam sử lược), Trần Trọng Kim viết: “Lúc bấy giờ, quân nhà Tống đánh hăng lắm, Lý Thường Kiệt hết sức chống giữ nhưng sợ quân mình có ngã lòng chăng, bèn đặt ra một câu chuyện nói rằng có thần cho bốn câu thơ…” (Nxb VHTT, Hà Nội, 1999, tr. 112).
Từ nhận định của Trần Trọng Kim, nhiều học giả sau này gần như “chúng khẩu đồng từ” khẳng định võ tướng họ Lý là tác giả thi phẩm Nam quốc sơn hà.
Trong Việt Nam văn học sử yếu (viết xong năm 1941), Dương Quảng Hàm viết: “Lý Thường Kiệt khi chống nhau với quân địch, có làm bài thơ để khuyến khích tướng sĩ, lời lẽ thật khảng khái” (Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1968, tr. 231-232).
Một năm sau (1942), Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử viết: “Thường Kiệt khi thúc cự quân địch, một hôm giả thác chuyện nằm chiêm bao thấy có một vị thần cho bài thơ rằng…” (Hàn Thuyên xuất bản cục, 1942, tr. 143).
Đến năm 1949, trong tác phẩm Lý Thường Kiệt, Hoàng Xuân Hãn bày tỏ: “Sự thật có lẽ như tôi đã theo ý Trần Trọng Kim, nhận rằng thơ là của Lý Thường Kiệt” (Nxb Sông Nhị, 1949, tr. 303).
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, rồi chống Mỹ, bài thơ Nam quốc sơn hà tiếp tục được xem là của Lý Thường Kiệt, bởi dư luận chủ yếu quan tâm đến nội dung thi phẩm hơn là vấn đề tác giả.
Những năm 1977-1980, trong nhiều chuyên khảo văn học lớn, bài thơ vẫn gắn với tên tuổi võ tướng họ Lý. Nguyễn Huệ Chi, trong phần khảo luận văn bản Thơ văn Lý - Trần (Tập 1), viết: “Có lẽ Lý Thường Kiệt đã tạo ra câu chuyện thần linh đó để khích lệ tinh thần quân sĩ. Bài thơ đã góp phần không nhỏ vào việc đánh bại quân Tống” (Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr. 318-322).
Lịch sử văn học Việt Nam (Tập 1) vẫn còn ghi: “Năm 1076, để khích lệ quân sĩ trong cuộc quyết chiến với quân xâm lược Tống ở sông Cầu (sông Như Nguyệt), Lý Thường Kiệt đã nhân danh thần sông Như Nguyệt làm bốn câu thơ sau…” (Nxb KHXH, Hà Nội, 1980, tr. 192).
Cả hai cuốn Tổng tập văn học Việt Nam của Văn Tân và Đinh Gia Khánh (đều do Nxb KHXH, Hà Nội ấn hành tập 1 năm 1980) cũng thống nhất quan điểm này. Văn Tân viết: “Bốn câu thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt đọc ở đền Trương Hát - Trương Hống đầu xuân năm Đinh Tỵ” (tr. 231). Đinh Gia Khánh thì khẳng định: “Trước Trần Quốc Tuấn hai trăm năm, Lý Thường Kiệt đã có những lời thơ hào hùng và đanh thép trong bài Nam quốc sơn hà như sau…” (tr. 114).

Như vậy, nhận định của Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược đã ảnh hưởng lớn đến nhiều học giả, sử gia Việt Nam qua nhiều thế hệ. Cùng với sách vở, quan điểm này còn đi vào văn bia, nhà lưu niệm danh nhân, bảo tàng và cả nhận thức của người dân.
Phải đến tháng 1/1988, trên Tạp chí Tổ quốc, mới xuất hiện một ý kiến mang tính hoài nghi khoa học của GS Hà Văn Tấn, chuyên gia về giám định sử liệu và văn bản học. Ông viết: “Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong một trận chống Tống ở vùng sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đền Trương Hống, Trương Hát. Có thể đoán Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả của bài thơ. Nhưng chỉ là đoán thôi, làm sao nói chắc được bài thơ đó là của Lý Thường Kiệt? Thế nhưng, cho đến nay, mọi người dường như đều tin đó là sự thật, hay nói đúng hơn, không ai dám nghi ngờ đó không phải là sự thật” (Lịch sử, sự thật và sử học).
Còn có thể nói gì hơn về bài viết mang đậm tính sử bút, sử luận của GS Hà Văn Tấn? Song điều đáng tiếc là bài viết mẫu mực ấy không phải dạng “phổ cập”; ở phương diện khác, Lịch sử, sự thật và sử học còn đề cập đến nhiều vấn đề lớn, phức tạp khác của khoa học lịch sử nên những câu chữ về Lý Thường Kiệt và câu chuyện tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà dễ bị chìm, khuất lấp trong không ít luận điểm quan trọng khác!
Sau nhận thức mang tính “mở đường” của GS Hà Văn Tấn, PGS Bùi Duy Tân là người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để “trả” Nam quốc sơn hà về với đời sống dân gian (ông dùng ba chữ “vô danh thị” để định danh tác phẩm).
Bằng công phu tìm tòi, với hơn 30 văn bản chữ Hán và nhiều thần tích có ghi bài thơ (như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí, Việt sử diễn âm, Trương tôn thần sự tích…), PGS Bùi Duy Tân kết luận: “Không có một văn bản nào ghi nhận Lý Thường Kiệt là tác giả, hoặc tương truyền là tác giả bài thơ; tất cả các văn bản đều ghi nhận bài thơ là của thần Trương Hống, Trương Hát - tướng lĩnh của Triệu Quang Phục; thần đọc thơ của thần, âm phù dương gian trợ quốc dân an (…) kể đã nhiều lần - hai lần giúp Lê Hoàn (981) và Lý Thường Kiệt (1076) chống Tống; bài thơ không hề được tuyển vào các tuyển tập thơ ca chữ Hán đời xưa, trước sau nó vẫn là thành phần cơ hữu trong truyền thuyết dân gian; ngộ nhận Lý Thường Kiệt là tác giả Nam quốc sơn hà của Trần Trọng Kim (…) là do tự ý, chứ không dựa vào bất kỳ tư liệu Hán Nôm nào” (Bùi Duy Tân, Tuyển tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 51).
Độc giả có thể kiểm chứng điều này qua nhiều công trình do PGS Bùi Duy Tân chủ biên hoặc tham gia biên soạn, như: Văn học 9 (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr. 28), Tư liệu Văn học 10 (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr. 211), Từ điển tác giả - tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr. 275), Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X-XIX (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 31)…
Việc thần đọc bài thơ Nam quốc sơn hà để phù trợ Lê Đại Hành trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 được ghi trong Lĩnh Nam chích quái: “Vua Đại Hành ban đêm mơ thấy hai người thần vái ở trên trời nói: Anh em thần, một người tên Trương Hống, một người tên Trương Hát, trước thờ Triệu Việt Vương thường theo chinh phạt bọn giặc dữ, mà có được thiên hạ (…) nay thấy quân Tống vào cõi làm khổ sinh linh nước ta nên bọn thần đến gặp xin cùng vua đánh bọn giặc này để cứu sinh dân.
Vua Đại Hành kinh ngạc thức dậy gọi bề tôi hầu cận, nói: “Đây là thần giúp ta vậy”. Bèn lập tức rước thuyền vua đốt hương làm lễ xin rằng: “Thần nhân có thể giúp ta thành được công nghiệp này thì việc phong thưởng và cúng đơm muôn đời sẽ không hết”. Vua cho giết sinh lao để tế, đem các món áo mũ, tiền giấy và voi ngựa đốt đi để ban cho. Đêm ấy lại mơ thấy hai thần nhân cùng mặc áo mũ đã ban, đến trước vua bái tạ. Đến đêm hôm sau, vua mơ thấy một thần nhân đem quỷ bộ áo trắng từ phía nam Bình Giang tới, và một vị thần nhân đem quỷ bộ áo đỏ từ sông Như Nguyệt xuống. Cả hai đều nhắm trại giặc mà đánh.

Ngày 2 tháng 10, vào lúc canh ba nửa đêm, khí trời tối mịt, gió lớn mưa dồn nổi lên, quân Tống tan vỡ. Thần mập mờ đứng trên không trung, cao tiếng ngâm (bài Nam quốc sơn hà).
Quân Tống nghe thế chen nhau tứ tán, mỗi kẻ tự chạy trốn, bị bắt sống không thể kể xiết. Quân Tống đại bại rút lui. Vua Đại Hành đem quân về mừng thắng trận, phong thưởng cho hai thần nhân. Người em là Uy Địch Đại Vương, lập đền thờ tại Tam Kỳ Giang ở Long Nhân, sai dân Long Nhân và Bình Giang phụng thờ. Người anh là Khước Địch Đại Vương, lập đền thờ ở sông Như Nguyệt, sai dân ven sông phụng thờ, đến nay vẫn còn” (Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tập 2, tr. 473-485).
Nếu theo ghi chép này, nội dung bài thơ Nam quốc sơn hà đã được biết đến từ thời Vua Đại Hành chống quân Tống (trước Lý Thường Kiệt gần 100 năm) thì khó có thể coi võ tướng họ Lý là tác giả bài thơ.
Mặt khác, việc Lý Thường Kiệt không phải là tác giả bài thơ cũng không ảnh hưởng đến vị trí và hình ảnh của ông trong lịch sử dân tộc: một anh hùng với chiến công “đánh Tống, bình Chiêm” sáng ngời quốc sử.
PHẠM VÕ THANH HÀ
Nguồn: Tạp chí VHNT số 635, tháng 2-2026