Để văn hóa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững, thì văn hóa phải gắn với con người  - Nguồn: bvhttdl.gov.vn.jpg
Để văn hóa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững, thì văn hóa phải gắn với con người  - Nguồn: bvhttdl.gov.vn

Trong bối cảnh phát triển nhanh và phức tạp của xã hội hiện đại, việc nhận thức đúng và đầy đủ vai trò của văn hóa và con người trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước..., thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”(1). Đây là luận điểm rất cơ bản, quan trọng, thể hiện sinh động nhận thức mới của Đảng về vai trò của văn hóa, con người trong xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ nhất, văn hóa, con người là nền tảng tinh thần của xã hội. Trong tiến trình phát triển của xã hội, văn hóa và con người luôn giữ vai trò là nền tảng tinh thần, chi phối chiều sâu, bản sắc và tính bền vững của mọi lĩnh vực đời sống: “Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”(2). Văn hóa không chỉ là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy qua lịch sử, mà còn là hệ giá trị định hướng tư tưởng, đạo đức và hành vi xã hội. Thông qua những chuẩn mực về nhân cách, lối sống, tinh thần cộng đồng, ý thức trách nhiệm và lòng nhân ái, văn hóa góp phần tạo nên sự đồng thuận xã hội, điều chỉnh hành vi con người theo hướng tích cực. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự xâm nhập mạnh mẽ của các giá trị đa chiều, văn hóa càng thể hiện rõ vai trò “trụ đỡ tinh thần”, giúp xã hội giữ vững bản sắc, nuôi dưỡng niềm tin và khát vọng phát triển. Con người, với tư cách là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa, đồng thời, là trung tâm của mọi chiến lược phát triển, quyết định sức sống và khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa. Chất lượng con người thể hiện ở tri thức, đạo đức, năng lực sáng tạo và trách nhiệm xã hội, chính là thước đo trình độ phát triển văn hóa của một quốc gia. Khi con người được phát triển toàn diện, văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn được tái tạo, thích ứng linh hoạt với yêu cầu của thời đại, trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng. Sự gắn bó hữu cơ giữa văn hóa và con người tạo nên sức mạnh tinh thần bền vững, giúp xã hội tăng cường sự gắn kết, củng cố niềm tin và nâng cao năng lực vượt qua thách thức.

Thứ hai, văn hóa, con người là nguồn lực và sức mạnh nội sinh của sự phát triển. Trong tiến trình phát triển bền vững của xã hội hiện đại, văn hóa và con người ngày càng được khẳng định là nguồn lực quan trọng và sức mạnh nội sinh quyết định chất lượng, tốc độ và chiều sâu của sự phát triển. Văn hóa không chỉ tạo nên bản sắc của cộng đồng mà còn hình thành môi trường tinh thần nuôi dưỡng ý chí, khát vọng và năng lực sáng tạo của con người. Chính những giá trị văn hóa như tinh thần hiếu học, ý thức cộng đồng, lòng yêu nước, nhân ái và trách nhiệm xã hội đã trở thành động lực thúc đẩy con người vượt qua khó khăn, thích ứng linh hoạt trước biến động của thời đại. Con người là chủ thể sáng tạo, lưu giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa, đồng thời, là trung tâm của mọi quá trình phát triển. Trình độ tri thức, đạo đức, bản lĩnh và năng lực đổi mới của con người quyết định khả năng chuyển hóa các tiềm năng văn hóa thành nguồn lực thực tiễn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Khi văn hóa thấm sâu vào đời sống, nó tạo nên sức mạnh mềm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, củng cố niềm tin xã hội và tăng cường sự gắn kết cộng đồng. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển”(3). Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt, nguồn lực văn hóa và con người càng thể hiện vai trò khác biệt, giúp xã hội không chỉ phát triển nhanh mà còn phát triển hài hòa, bền vững. Sự kết hợp hài hòa giữa phát triển con người và phát huy giá trị văn hóa tạo nên sức mạnh nội sinh lâu dài, bảo đảm cho xã hội khả năng tự điều chỉnh, tự đổi mới và vươn lên bằng chính bản sắc và trí tuệ của mình, qua đó, khẳng định vị thế và sức sống của dân tộc trong dòng chảy phát triển chung của nhân loại.

Thứ ba, văn hóa là động lực to lớn, hệ điều tiết sự phát triển xã hội bền vững. Với tư cách là hệ giá trị được hình thành, tích lũy và bồi đắp qua lịch sử, văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống, định hướng tư duy, hành vi và cách thức con người tổ chức xã hội. Những giá trị văn hóa tiến bộ như tinh thần nhân văn, ý thức tôn trọng pháp luật, trách nhiệm cộng đồng, lối sống hài hòa với tự nhiên đã trở thành động lực thúc đẩy con người sáng tạo, lao động và cống hiến, tạo nên nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ cho phát triển. Đồng thời, văn hóa còn giữ vai trò như một “hệ điều tiết” xã hội, góp phần điều hòa các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng và giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Phát huy có hiệu quả giá trị văn hóa và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước”(4). Khi các chuẩn mực văn hóa được đề cao, sự phát triển hướng tới giá trị lâu dài, cân bằng giữa tăng trưởng và tiến bộ xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế thị trường, văn hóa càng thể hiện rõ chức năng điều tiết, giúp xã hội hạn chế những mặt trái của phát triển nóng. Một nền văn hóa lành mạnh sẽ tạo ra cơ chế tự điều chỉnh từ bên trong, hình thành ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm và khả năng kiểm soát hành vi xã hội. Chính sự kết hợp giữa vai trò động lực và chức năng điều tiết đã làm cho văn hóa trở thành yếu tố bảo đảm cho sự phát triển hài hòa, ổn định và bền vững, giúp xã hội không chỉ phát triển về quy mô và tốc độ, mà còn nâng cao chất lượng sống và chiều sâu nhân văn.

Để tiếp tục phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, theo chúng tôi, chúng ta cần triển khai một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện nhận thức và thể chế về phát triển văn hóa, con người. Thống nhất và nâng cao nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và xã hội về vị trí trung tâm của văn hóa, con người trong chiến lược phát triển: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”(5). Nhận thức đúng sẽ tạo cơ sở cho việc hoạch định chính sách đúng, bảo đảm văn hóa và con người được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị trong mọi quyết sách phát triển. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh hoàn thiện thể chế cần tập trung vào việc cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương về phát triển văn hóa thành hệ thống luật pháp, chiến lược, quy hoạch và cơ chế thực thi đồng bộ, có tính khả thi cao. Các chính sách về: công nghiệp văn hóa; xây dựng môi trường văn hóa và phát triển con người; giáo dục; khoa học; truyền thông cần được thiết kế theo hướng liên thông, bảo đảm sự gắn kết giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại. Đồng thời, cần đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực cho văn hóa theo hướng đầu tư dài hạn, có trọng tâm, trọng điểm, coi đầu tư cho con người và văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững. Việc hoàn thiện thể chế cũng đòi hỏi xây dựng các tiêu chí, công cụ đánh giá phù hợp để đo lường hiệu quả phát triển văn hóa và con người. Bên cạnh đó, cần tăng cường phân cấp, trao quyền gắn với trách nhiệm giải trình, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của địa phương, cộng đồng và các chủ thể văn hóa. Thông qua việc hoàn thiện đồng bộ nhận thức và thể chế, phát triển văn hóa và con người sẽ có cơ sở vững chắc để đi vào chiều sâu, trở thành động lực nội sinh cho sự phát triển đất nước.

Hai là, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới giáo dục theo hướng phát triển toàn diện con người, bồi dưỡng tư duy độc lập, năng lực sáng tạo, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường, cơ quan và cộng đồng, tạo không gian để các giá trị chân - thiện - mỹ thẩm thấu vào đời sống hằng ngày, hình thành lối sống nhân văn, kỷ cương và trách nhiệm. Cùng với đó, phát triển con người toàn diện không tách rời việc chăm lo thể chất và tinh thần. Thông qua hệ thống chính sách về y tế, thể dục thể thao, an sinh xã hội, bảo đảm điều kiện để mỗi cá nhân được phát triển hài hòa cả về sức khỏe, trí lực và đời sống tinh thần. “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số”(6). Các biện pháp xây dựng con người Việt Nam hiện đại cần gắn chặt với việc phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý thức cộng đồng và khát vọng cống hiến, đồng thời, trang bị năng lực hội nhập, khả năng tiếp nhận có chọn lọc các giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại. Việc phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà giáo và những người làm công tác văn hóa giữ vai trò nòng cốt trong lan tỏa giá trị, dẫn dắt thẩm mỹ và định hướng xã hội. Thông qua hệ thống biện pháp hướng vào con người như một chủ thể sáng tạo và trung tâm của phát triển, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Ba là, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh cộng đồng trong thực tiễn phát triển. Tổ chức việc nhận diện, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của từng vùng, từng cộng đồng như một nguồn lực phát triển: “Phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hóa, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên”(7). Các thiết chế văn hóa cơ sở phải được củng cố cả về nội dung hoạt động và phương thức quản lý, trở thành không gian sinh hoạt văn hóa thường xuyên, nơi cộng đồng được tham gia sáng tạo, thực hành và truyền nối các giá trị văn hóa. Việc gắn phát triển kinh tế với bảo tồn và phát huy văn hóa cần được triển khai bằng các mô hình cụ thể, khuyến khích cộng đồng tham gia vào du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa, làng nghề truyền thống. Phát huy sức mạnh cộng đồng còn thể hiện ở việc xây dựng cơ chế để người dân thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển, tham gia vào xây dựng, giám sát và thụ hưởng các chương trình phát triển văn hóa - xã hội tại địa phương. Các phong trào xây dựng đời sống văn hóa cần được đổi mới theo hướng thực chất, lấy chất lượng môi trường văn hóa và mức độ gắn kết cộng đồng làm thước đo. Việc phát huy vai trò của các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, trí thức và người có uy tín trong cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc dẫn dắt, lan tỏa giá trị và củng cố niềm tin xã hội. Thông qua các biện pháp hướng vào cộng đồng như một chủ thể văn hóa sống động, giá trị văn hóa sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh nội sinh, tạo nền tảng tinh thần và xã hội vững chắc cho phát triển bền vững.

_______________

Tài liệu tham khảo
1, 7. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
2, 3, 4, 5, 6. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, nhandan.vn, 6/2/2026.

NGUYỄN QUANG BÌNH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 634, tháng 2-2026