Từ khóa: hát ru; dân ca; Nam Bộ; trẻ em; mầm non.

Abstract: Lullabies are a traditional form of Vietnamese folk songs, closely associated with the soothing words of mothers and grandmothers, expressing love, care, and the nurturing of children. The gentle and simple melodies not only help children fall asleep peacefully but also instill in their hearts lessons about morality, kindness, and love for their homeland. Southern Vietnamese lullabies, in particular, carry the distinctive sound of the river region - free-spirited, simple, and sincere. The lyrics are often accompanied by the creaking sound of a hammock, the rhythm of rowing, or the whisper of the countryside breeze, creating a warm and familiar feeling. Through lullabies like “Ầu ơ ví dầu” and “Gió đưa gió đẩy”, Southern people convey deep maternal affection and the gentle, generous soul of the Mekong Delta people.

Keywords: lullaby; folk songs; Southern Vietnam; children; kindergarten.

 

hat ru quan khu 7.jpg
Ảnh minh họa: baoquankhu7.vn

1. Đặt vấn đề

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về hát ru. Âm nhạc và các hoạt động ru con giúp trẻ hình thành khả năng đồng cảm, tăng cường sự gắn kết với cha mẹ, đồng thời hỗ trợ cho sự phát triển nhận thức ban đầu (Lori A. Custodero & Elissa A. Johnson-Green, 2008, tr.15-39). Tương tự, việc cha mẹ hát ru cho trẻ từ 0-6 tuổi giúp cân bằng cảm xúc, cải thiện khả năng tập trung, ghi nhớ, góp phần tạo nên nhịp điệu giao tiếp cơ bản trong ngôn ngữ (Ilari, 2016, tr.411-426). Bên cạnh đó, phần lớn công trình, bài viết nghiên cứu tại Mỹ, Ý và Nhật Bản đều thống nhất rằng, âm nhạc dân gian nói chung và hát ru nói riêng là một công cụ giáo dục cảm xúc và xã hội hiệu quả cho những năm đầu đời của trẻ.

Nghiên cứu tại Ý của (Gagliardi. (2017, tr.63-78), nhấn mạnh vai trò của hát dân gian trong việc hình thành giá trị đạo đức ở nhân cách trẻ em, cho thấy trẻ nghe hát ru có xu hướng hiền hòa, biết chia sẻ và quan tâm đến người khác.

Ngoài ra, trong lĩnh vực giáo dục âm nhạc sớm cũng đưa ra kết quả tương đồng. Nếu trẻ được tiếp xúc với âm nhạc dân gian từ nhỏ, khả năng thẩm mỹ sẽ vượt trội hơn so với trẻ cùng lứa không có cơ hội tiếp xúc. Khả năng thẩm mỹ của các em về sau không chỉ giới hạn trong âm nhạc, mà còn mở rộng tới việc cảm nhận cái đẹp xung quanh cuộc sống (Bennett, 2011, tr.289-303).

Đề cập riêng về hát ru Nam Bộ, Trần Văn Khê, (2008); Huỳnh Ngọc Trảng, (2006), đã mô tả chi tiết đặc trưng ở thể loại này. Hát ru Nam Bộ thường sử dụng giai điệu nhẹ nhàng, ngân dài, lời ca gần gũi với thiên nhiên và đời sống thường nhật, tạo ra môi trường cảm xúc an toàn cho trẻ.

Theo nghiên cứu thực tế tại các gia đình Nam Bộ, trẻ được nghe hát ru từ 0-3 tuổi thường có biểu hiện hiền lành, tập trung tốt, phản ứng cảm xúc phù hợp. Ngược lại, trẻ thiếu tiếp xúc với hát ru sẽ hay nóng nảy hoặc khó ngủ. Nghiên cứu còn ghi nhận việc truyền dạy hát ru trong gia đình hiện đang giảm dần (Nguyễn Thị Mỹ Liêm, 2019). Phân tích vai trò của hát ru trong giáo dục mầm non cho rằng, việc tích hợp hát ru vào các hoạt động âm nhạc và giờ kể chuyện giúp trẻ phát triển cảm xúc, thẩm mỹ, ngôn ngữ và nhân cách, đồng thời gắn kết trẻ với giá trị văn hóa dân tộc (Ngô Thị Phương, 2020).

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết tiếp cận theo phương thức lý thuyết - thực tiễn. Trong đó, tập trung vào hai phương pháp chính:

Nghiên cứu lý thuyết: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các công trình khoa học (sách chuyên khảo, tham khảo, đề tài khoa học các cấp, luận văn, bài báo…) về hát ru của Việt Nam nói chung, hát ru Nam Bộ nói riêng, mục đích nhằm xây dựng cơ sở lý luận, khoa học khi bàn về vai trò của hát ru Nam Bộ đối với trẻ nhỏ.

Nghiên cứu thực tiễn: khảo sát tại các trường mầm non thông qua phiếu hỏi, nhằm tìm hiểu sâu về đối tượng nghiên cứu để làm minh chứng và bổ sung vào kết quả nghiên cứu thực trạng.

3. Kết quả và thảo luận

Giới thiệu chung về hát ru và hát ru Nam Bộ

Hát ru là một trong những thể loại âm nhạc dân gian lâu đời và gần gũi nhất trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Từ xưa, lời ru đã cất lên từ lòng mẹ, tiếng ru của bà, của chị… như dòng suối ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ. Hát ru không chỉ giúp trẻ nhỏ dễ dàng chìm vào giấc ngủ, mà còn truyền tải tình yêu thương, những bài học đạo lý, lẽ sống và niềm tự hào dân tộc. Ở mỗi vùng miền, hát ru mang một sắc thái riêng, phản ánh đặc điểm ngôn ngữ, phong tục và đời sống con người nơi đó.

Hát ru Nam Bộ mang âm hưởng phóng khoáng, chân chất và mộc mạc như con người miền sông nước. Lời ru giản dị, dễ hiểu, chứa đựng tình cảm hiền hòa cùng sự lạc quan. Tiếng ru thường đi đôi với nhịp ghe xuồng, tiếng võng đưa trong gió hay âm thanh đồng ruộng buổi trưa hè. Các làn điệu ru như “Ầu ơ ví dầu”, “Gió đưa gió đẩy” đã trở thành biểu tượng của văn hóa Nam Bộ, thể hiện tình mẫu tử sâu sắc và tâm hồn bao dung, hồn hậu của người dân miền Tây. Xét ở góc độ lịch sử - văn hóa, thể loại này kế thừa từ hát ru miền ngoài trong quá trình khai hoang, mở đất phương Nam. Những lưu dân đã khai thác các đặc điểm chung, rồi vận dụng vào hoàn cảnh, điều kiện sinh hoạt sở tại, để sáng tạo nên điệu hát ru mang tính chất, đặc trưng của vùng đất - con người nơi đây.

Ở đặc điểm âm nhạc, dù kế thừa hát ru miền ngoài, nhưng thể loại này cũng mang trong mình nhiều nét đặc trưng riêng. Thứ nhất, nội dung chứa đựng sự phong phú, đa dạng, từ việc ru con ngủ đến gửi gắm tâm tư, tình cảm, giáo dục đạo lý và truyền lại phong tục, tập quán. Về cấu trúc, hát ru nói chung có tính chất mềm dẻo, co giãn không hạn định, tùy thuộc vào tâm trạng và dung lượng lời ca.

Thứ hai, giai điệu hát ru Nam Bộ thường hát ở tốc độ chậm rãi, với tính chất nhẹ nhàng, du dương, mang âm hưởng buồn man mác nhưng không bi lụy. Đó là những thanh âm được chắt lọc, mô phỏng từ cuộc sống lao động chân chất, từ tiếng gió heo may thổi qua rặng dừa, tiếng sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyền, hay tiếng chim hót gọi bầy giữa đồng không mông quạnh. Các làn điệu thường có quãng hẹp, ít phức tạp về hòa âm, chủ yếu tập trung vào sự uyển chuyển của giai điệu và biểu cảm của giọng hát. Đặc biệt, hát luyến láy, ngân nga ở cuối câu là nét đặc trưng không thể nhầm lẫn, tạo ra sự mềm mại, trữ tình và sâu lắng. Những nốt nhạc được kéo dài rồi bỏ lửng, tạo cảm giác như hơi thở của người mẹ đang nhẹ nhàng vỗ về, đưa con vào cõi mộng. Chính sự mộc mạc, gần gũi này khiến khúc hát ru dễ dàng đi vào lòng người, trở thành một phần ký ức tuổi thơ của biết bao thế hệ.

Lời ca hát ru Nam Bộ chủ yếu sử dụng ca dao, thơ lục bát, vè, hò, nói thơ được lưu truyền trong dân gian. Ngoài ra còn có những câu hát ru được sáng tác, cải biên. Ca từ trong ru con Nam Bộ giản dị, dễ hiểu, sử dụng ngôn ngữ địa phương quen thuộc, giàu hình ảnh gợi tả về thiên nhiên, cuộc sống miền sông nước. Đó có thể là hình ảnh con cò, con vạc, bông sen, bông súng, hay những vật dụng quen thuộc trong gia đình. Tuy nhiên, đằng sau những hình ảnh mộc mạc ấy lại ẩn chứa thông điệp, lời nhắn nhủ sâu sắc, hay dặn dò về đạo lý làm người, về tình yêu thương gia đình, quê hương như lời bài hát ru Nam bộ sau: Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắc lẻo, gập ghình khó đi/ Khó đi mẹ dắt con đi/ Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

Đặc biệt, nhiều bài ru còn là nơi người mẹ trút bầu tâm sự, giãi bày những nỗi niềm riêng tư.

Có thể thấy, ngoài cung cấp tri thức về âm nhạc dân gian nói chung, trẻ còn nhận được sự đùm bọc, che chở, tình cảm của người mẹ, của bà, của chị với niềm tin yêu thật sự, để từ đó tạo cho trẻ sự cân bằng, bình ổn về tâm lý. Lời hát ru chứa đựng muôn vàn điều tốt đẹp đã lưu truyền từ bao đời sẽ đến với trẻ qua lời ru của mẹ, góp phần to lớn trong việc hình thành nhân cách (Tô Ngọc Thanh, 2007).