1. Văn hóa trách nhiệm - nền tảng của năng lực lãnh đạo

Có những thời điểm, sức mạnh của một chủ trương không chỉ nằm ở nội dung, mà còn ở cách nó làm thay đổi phương thức suy nghĩ và hành động của cả hệ thống. Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV gợi cho tôi cảm nhận như vậy. Bốn trọng tâm mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu ra - xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền; đổi mới công tác cán bộ, trọng dụng nhân tài; xác định đúng ưu tiên và phát huy hiệu quả nguồn lực - gặp nhau ở một điểm: năng lực biến điều đúng thành việc làm đúng, biến quyết sách thành kết quả và biến niềm tin thành động lực phát triển.

Điểm đáng chú ý trước hết là cách đặt vấn đề về xây dựng Đảng. Bài phát biểu không dừng ở yêu cầu giữ vững nguyên tắc, tăng cường kỷ luật, mà đi thẳng vào hiệu quả lãnh đạo: những chuyển biến trong tổ chức, xây dựng Đảng đã nâng cao khả năng giải quyết các vấn đề phát triển và củng cố niềm tin của Nhân dân đến đâu? Vì sao có những khuyết điểm đã được chỉ ra nhưng chậm sửa chữa, vi phạm đã được cảnh báo nhưng vẫn tái diễn, thậm chí có việc “đúng quy trình” mà chưa chọn đúng người, chưa giải quyết được việc? Những câu hỏi ấy đưa thước đo của công tác xây dựng Đảng đến gần hơn với thực tiễn.

anh khai mac hoi nghi trung uong 4.JPG
Phiên Khai mạc Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 5/10/2026- Ảnh: Cổng TTĐT Đảng Cộng sản Việt Nam

Ở đây có một nội hàm văn hóa rất rõ. Văn hóa của một tổ chức không chỉ thể hiện ở những giá trị được tuyên bố, mà trước hết ở cách tổ chức ấy đối diện với sự thật, nhận trách nhiệm và sửa chữa sai sót. Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh phải thể hiện ở sự liêm chính, công tâm, tôn trọng sự thật, bảo vệ cái đúng và trách nhiệm trước Nhân dân, đó chính là đặt văn hóa vào trung tâm của năng lực cầm quyền. Liêm chính để quyền lực không bị chi phối bởi lợi ích riêng; công tâm để chọn đúng người; tôn trọng sự thật để nhìn đúng vấn đề; trách nhiệm để không né tránh việc khó.

Tinh thần này gặp gỡ sâu sắc với Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết 80 xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững. Khái niệm “hệ điều tiết” rất đáng suy nghĩ. Văn hóa không chỉ tạo ra sản phẩm tinh thần; văn hóa còn điều chỉnh cách con người sử dụng quyền lực, ứng xử với trách nhiệm, lựa chọn lợi ích và hành động vì cộng đồng. Một nền văn hóa mạnh phải làm cho điều đúng trở thành thói quen và trách nhiệm trở thành chuẩn mực.

Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới cũng nhấn mạnh công tác tư tưởng phải đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin. Ba vế này rất gần với tinh thần Hội nghị Trung ương 4. Công tác tư tưởng không chỉ giải thích quyết sách sau khi đã ban hành; phải giúp hình thành nhận thức đúng trước khi hành động, đồng hành trong quá trình thực hiện, rồi từ kết quả thực tế mà củng cố niềm tin. Trong môi trường truyền thông số, niềm tin lâu dài chỉ có thể được bảo chứng bằng chính sách tốt và hiệu quả thật.

Vì vậy, yêu cầu “thực sự dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng” có ý nghĩa đặc biệt. Lắng nghe Nhân dân không thể chỉ là một nghi thức tham vấn, mà phải trở thành phương thức lãnh đạo. Nhân dân được đóng góp chủ trương, giám sát quá trình thực hiện và thụ hưởng thành quả. Khi tiếng nói từ cơ sở đi được vào quá trình hình thành chính sách, khi phản ánh chính đáng được trả lời bằng hành động, khi cán bộ biết sửa mình từ những điều người dân chưa hài lòng, niềm tin sẽ được bồi đắp. Đó cũng là cách biến đại đoàn kết thành nguồn lực phát triển.

2. Con người, nhân tài và sức sáng tạo - điểm nối của các nghị quyết

Tôi đặc biệt chú ý tới yêu cầu đánh giá cán bộ qua phẩm chất, thực tài, uy tín và triển vọng, nhất là qua cách xử lý việc khó. Đây là cách tiếp cận rất thực chất. Trong giai đoạn mới, cần tiến từ “đúng quy trình, đúng tiêu chuẩn” tới “đúng người cho đúng việc”, và kết quả công việc phải là căn cứ quan trọng của đánh giá. Người cán bộ tốt không chỉ là người ít sai sót; còn phải là người dám nhận việc khó, biết kết nối nguồn lực, tạo được đồng thuận, đưa ra quyết định đúng lúc và chịu trách nhiệm đến cùng.

Một câu trong bài phát biểu rất đáng nhớ: mỗi nhiệm kỳ phải để lại một đội ngũ tốt hơn, một tổ chức mạnh hơn, năng lực thực thi cao hơn. Nếu nhìn từ góc độ văn hóa, đó là trách nhiệm đối với tương lai. Thành công của người đứng đầu không chỉ nằm ở những gì hoàn thành trong thời gian đương nhiệm, mà còn ở lớp người được phát hiện, bồi dưỡng và trao cơ hội. Một tổ chức có văn hóa phát triển là tổ chức không sợ người giỏi, không giữ người tài trong những khuôn khổ chật hẹp và luôn chuẩn bị cho mình một thế hệ kế cận tốt hơn.

Tinh thần này thống nhất với Nghị quyết 80 khi đặt con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng và mục tiêu của phát triển văn hóa. Nó cũng gặp gỡ Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Nghị quyết 19 xác định mô hình phát triển mới phải tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển; khơi dậy ý chí, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến. Phát triển con người như vậy không còn là kết quả ở cuối quá trình tăng trưởng, mà là điều kiện tạo ra chính quá trình tăng trưởng.

Đây cũng là nơi Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia có ý nghĩa đặc biệt. Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không phải câu chuyện thuần túy của máy móc hay hạ tầng. Đằng sau mọi công nghệ là con người, đằng sau mọi đổi mới là năng lực sáng tạo. Nếu thiếu nhân lực chất lượng cao, thiếu môi trường khuyến khích thử nghiệm và thiếu văn hóa chấp nhận rủi ro có kiểm soát, chuyển đổi số dễ dừng ở việc số hóa quy trình cũ thay vì tạo ra phương thức quản trị mới.

Bởi vậy, yêu cầu của Hội nghị Trung ương 4 về giao nhiệm vụ lớn, trao quyền thực chất, bảo đảm nguồn lực và đánh giá theo đóng góp cho nhân tài là rất quan trọng. Thu hút mà không trọng dụng sẽ dẫn tới lãng phí; trọng dụng mà không trao quyền tạo ra thất vọng; trao quyền mà không có nguồn lực thì sáng kiến khó thành hiện thực. Cần hình thành hệ sinh thái trong đó trường, viện, doanh nghiệp, khu vực công và tư, trí thức trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế có thể kết nối bằng những nhiệm vụ phát triển cụ thể.

Từ góc độ văn hóa, trọng dụng nhân tài trước hết là tôn trọng khác biệt và năng lực sáng tạo. Một xã hội quý trọng nhân tài không chỉ tôn vinh sau khi họ đã thành công, mà tạo điều kiện để người có năng lực được thử sức trước khi có danh tiếng. Văn hóa của một tổ chức hiện đại phải đủ bao dung để nghe ý kiến khác biệt, đủ bản lĩnh để bảo vệ sáng kiến đúng và đủ công bằng để đánh giá đóng góp bằng kết quả chứ không bằng quan hệ hay hình thức.

Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật bổ sung một mắt xích quan trọng: thể chế phải mở đường, khơi thông nguồn lực và hình thành văn hóa tuân thủ pháp luật. Trong lĩnh vực văn hóa, điều này đặc biệt cần thiết. Chúng ta muốn phát triển công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, kinh tế sáng tạo, nhưng nếu thủ tục còn phức tạp, quyền sở hữu trí tuệ chưa được bảo vệ tốt, hợp tác công - tư chưa thuận lợi, người sáng tạo sẽ khó biến tài năng thành giá trị kinh tế và xã hội. Muốn văn hóa trở thành nguồn lực, thể chế cho văn hóa phải thật sự là thể chế phát triển.

Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới lại mở thêm không gian cho văn hóa và con người Việt Nam: hội nhập để tranh thủ nguồn lực bên ngoài, nhưng đồng thời giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế. Hội nhập văn hóa không chỉ là đưa nghệ thuật Việt Nam ra thế giới. Sâu hơn, đó là năng lực đối thoại bình đẳng, khả năng tiếp thu tinh hoa nhân loại mà không đánh mất bản sắc, và sự tự tin để những giá trị Việt Nam tham gia vào dòng chảy sáng tạo toàn cầu.

3. Để văn hóa thấm vào mô hình phát triển và được đo bằng kết quả

Một trong những chuyển động tư duy quan trọng nhất hiện nay là văn hóa ngày càng được đặt ngay trong cấu trúc của mô hình phát triển, chứ không đứng bên ngoài để bổ sung cho kinh tế. Nghị quyết 80 khẳng định văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực, trụ cột và hệ điều tiết. Nghị quyết 19 tiếp tục xác định phát triển văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực và động lực nội sinh, sức mạnh mềm quốc gia. Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4 lại đặt giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở và an sinh xã hội trong chính khái niệm “chất lượng phát triển”. Thông điệp rất nhất quán: tăng trưởng chỉ có ý nghĩa khi làm cho con người phát triển tốt hơn và xã hội nhân văn hơn.

Chín tháng năm 2026, GDP cả nước đạt 9,01%, trong đó 12/34 tỉnh, thành phố tăng trên 10%. Đây là kết quả đáng ghi nhận. Nhưng ngay sau con số tăng trưởng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đánh giá chất lượng qua năng suất, sức khỏe doanh nghiệp, thu nhập và đời sống Nhân dân. Với năm 2027, khi đặt vấn đề phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, yêu cầu đồng thời là củng cố ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn và sức chống chịu của nền kinh tế. Mục tiêu hai con số vì thế không phải cuộc chạy đua với con số, mà là phép thử đối với năng lực đổi mới mô hình phát triển.

Nhưng để tiềm năng trở thành kết quả, điều quyết định vẫn là năng lực thực thi. Bài phát biểu nêu bốn yêu cầu rất rõ: xác định đúng vấn đề cần giải quyết; thể chế hóa đầy đủ và tổ chức thi hành hiệu quả các chủ trương lớn; bảo đảm con người, thẩm quyền và nguồn lực ngay khi quyết định; mỗi quyết sách phải có cách kiểm chứng kết quả và điều chỉnh từ thực tiễn. Đây là phương pháp để rút ngắn khoảng cách giữa nghị quyết và cuộc sống - khoảng cách trong lĩnh vực văn hóa đôi khi vẫn còn khá rõ.

Bởi vậy, Nghị quyết 66 với yêu cầu gắn chặt xây dựng và thi hành pháp luật, hình thành văn hóa tuân thủ pháp luật, có ý nghĩa trực tiếp với việc thực hiện Nghị quyết 80. Chính sách văn hóa phải đi vào đời sống của nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân. Thể chế không thể chỉ nhấn mạnh quản lý mà phải kiến tạo không gian phát triển: đủ chặt để bảo vệ lợi ích công cộng, bản sắc và an ninh văn hóa, nhưng cũng đủ mở để những mô hình mới, sản phẩm mới và phương thức sáng tạo mới có cơ hội hình thành.

Theo tinh thần Nghị quyết 57, chuyển đổi số cũng phải trở thành đòn bẩy lớn cho văn hóa. Số hóa di sản không chỉ để lưu trữ; dữ liệu văn hóa cần trở thành nguyên liệu cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và sản phẩm mới. Nền tảng số không chỉ là kênh truyền thông; có thể trở thành không gian phân phối sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thế giới. Trí tuệ nhân tạo không chỉ giúp tăng tốc sản xuất nội dung; phải được đặt trong hệ sinh thái tôn trọng bản quyền, đạo đức sáng tạo và bản sắc. Công nghệ chỉ thực sự phục vụ văn hóa khi làm tăng khả năng sáng tạo, tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của con người.

Tôi cho rằng tinh thần mạnh mẽ nhất của Hội nghị Trung ương 4 nằm ở câu: “Làm chắc để đi nhanh, không lấy thận trọng làm lý do trì hoãn. Nhưng cũng tuyệt đối không được chủ quan, nóng vội”. Đây là thái độ phát triển rất cần thiết đối với văn hóa. Văn hóa cần sự bền bỉ, bởi giá trị không thể hình thành trong một sớm một chiều; nhưng văn hóa cũng cần tốc độ, bởi cơ hội của thị trường sáng tạo, công nghệ và hội nhập không chờ chúng ta. Làm chắc là giữ được giá trị cốt lõi, chuẩn bị thể chế, nguồn lực và con người. Đi nhanh là dám thử nghiệm, dám phân quyền, dám lựa chọn ưu tiên và dám chịu trách nhiệm.

Cuối cùng, mọi quyết sách phải trở về với câu hỏi giản dị nhưng nghiêm khắc: Nhân dân được hưởng lợi gì? Người dân có thêm cơ hội tiếp cận văn hóa hay không? Trẻ em có được lớn lên trong môi trường giàu thẩm mỹ và an toàn hơn không? Nghệ sĩ có thêm không gian sáng tạo không? Doanh nghiệp văn hóa có thêm cơ hội phát triển không? Di sản có được bảo tồn tốt hơn và trở thành nguồn lực cho cộng đồng không? Những câu hỏi ấy làm cho khái niệm “lấy Nhân dân làm trung tâm” trở nên cụ thể và có thể kiểm chứng.

Từ Nghị quyết 80 đến Nghị quyết 19, từ Nghị quyết 57, 59, 66 đến Nghị quyết 25, rồi những gợi mở tại Hội nghị Trung ương 4, có thể thấy một mạch tư tưởng ngày càng rõ: đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải đồng thời nâng cấp thể chế, công nghệ, con người và văn hóa. Trong đó, văn hóa không chỉ là một lĩnh vực cần được đầu tư mà còn là cách chúng ta tổ chức sự phát triển. Đó là văn hóa tôn trọng sự thật, văn hóa trách nhiệm, văn hóa trọng dụng người tài, văn hóa đổi mới, văn hóa thượng tôn pháp luật, văn hóa phục vụ và văn hóa lấy kết quả làm thước đo.

Khi văn hóa ấy thấm vào từng tổ chức, từng chính sách và từng hành vi công vụ, nó sẽ trở thành một sức mạnh phát triển rất lớn. Một bộ máy biết lắng nghe sẽ tạo thêm niềm tin. Một người đứng đầu biết trao quyền sẽ giải phóng sáng tạo. Một thể chế biết mở đường sẽ khơi thông nguồn lực. Một chính sách biết lấy người dân làm điểm quy chiếu sẽ tạo ra đồng thuận. Và một đất nước biết biến những giá trị tốt đẹp thành năng lực hành động sẽ có nền tảng vững chắc để đi nhanh hơn, xa hơn trong kỷ nguyên mới.