50 năm sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, ca khúc Việt Nam có thể ví như một bức tranh với nhiều màu sắc nối tiếp, đan xen lẫn nhau. Điều đó là hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển chung của âm nhạc, mà nhìn rộng ra/ hoặc hiểu theo cách khác, ca khúc là sự phản ánh phần nào tinh thần, thái độ, tâm thái, tâm thức, tâm thế của một lớp người, của dân tộc, đất nước trong những bối cảnh lịch sử nhất định. Để đánh giá khách quan về những sắc màu của ca khúc Việt Nam, cần nhìn lại cội nguồn lịch của nó.

Những năm đầu thế kỷ XX, do cuộc tiếp biến giao lưu văn hóa với các nước phương Tây thông qua văn hóa Pháp, nước ta đã xuất hiện những hiện tượng, trào lưu văn hóa mới, mà âm nhạc không phải trường hợp ngoại lệ. Những ngày đầu, với tinh thần hồ hởi, không ít người đã có tâm thế sẵn sàng tiếp cận/ tiếp nhận cái mới. Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử lúc đó, một số người đã nhìn thấy sức mạnh của âm nhạc có thể sử dụng như một công cụ trong việc tuyên truyền cách mạng. Với ý thức của con dân đất Việt, những người cộng sản đã chọn lọc, tiếp thu thành quả của âm nhạc phương Tây kết hợp với nét tinh túy của âm nhạc dân tộc để cho ra đời một thể loại/ bản thể mới. Bài Cùng nhau đi hồng binh của Đinh Nhu là minh chứng điển hình cho sự kết hợp ấy, đây cũng là một trong những ca khúc đầu tiên đặt nền móng cho dòng ca khúc cách mạng Việt Nam.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, nhưng phải hơn 10 năm sau, Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 với phương châm: dân tộc - khoa học - đại chúng, đã xác định vị trí và định hướng cho văn hóa, nghệ thuật nước nhà, nhất là khi văn hóa được xác định như thứ vũ khí tinh thần trong thời kỳ hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược vĩ đại của dân tộc, thì dòng ca khúc cách mạng phát triển theo định hướng ấy. Mặc dù trong quá trình phát triển có nhiều thể loại khác nhau, nhưng ca khúc trong hai thời kỳ này, có điểm chung là sự nhất quán về tư tưởng, vì vậy nó đã tạo ra một âm hưởng hào hùng, hào sảng, tác động mạnh mẽ đến lòng yêu nước của cả một thế hệ, một dân tộc. Những bà mẹ miền Nam tay không thắng giặc, ngày đêm vẫn đào hầm nuôi những đoàn quân; những người chị thay chồng con tham gia sản xuất hay làm giao liên dưới làn bom đạn khốc liệt của kẻ thù; những anh bộ đội, thanh niên xung phong vẫn hiên ngang hành quân trên dặm dài dải Trường Sơn… để cùng nhau đạt tới mục đích là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Non sông thu về một mối, ý chí và tinh thần cùng niềm vui chiến thắng vẫn còn hiện hữu trên gương mặt của những người đã trải qua chiến tranh, vì thế âm hưởng chủ đạo của ca khúc Việt Nam trong giai đoạn này vẫn là sự vui tươi, hào sảng: Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng (Phạm Tuyên), Đất nước trọn niềm vui (Hoàng Hà), Mùa Xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh (Xuân Hồng), Tiếng hát từ thành phố mang tên Người, Cung đàn mùa Xuân (Cao Việt Bách), Bài ca thống nhất (Võ Văn Di), Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ (Nguyễn Văn Thương - Tố Hữu), Mùa Xuân trên quê hương (Hoàng Mai), Đường tàu mùa Xuân (Phạm Minh Tuấn)… Niềm vui chưa được tày gang, nhân dân ta lại bước vào cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại ở hai đầu đất nước. Cái âm hưởng hào hùng trong ca khúc cách mạng vẫn được nối mạch chảy với thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: Lời tạm biệt trước lúc lên đường (Vũ Trọng Hối), Chiều dài biên giới (Trần Chung), Tình ca tuổi trẻ (Tôn Thất Lập), Tiếng đàn bên bờ sông biên giới, Rừng biên cương âm vang điệu then mới (Nguyễn Cường), Hát mãi khúc quân hành (Diệp Minh Tuyền)… là minh chứng cụ thể cho cái âm hưởng vui tươi, hào sảng đó.

Chiến tranh đi qua, vị thế của Việt Nam đã ghi đậm vào bản đồ chính trị thế giới, đó là thành quả đáng ghi nhận của cả dân tộc, tuy nhiên đời sống vật chất của nhân dân vẫn gặp vô cùng khó khăn. Năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đất nước ta bắt đầu bước vào thực hiện một công cuộc đổi mới mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bởi văn hóa được xác định như “động lực để phát triển kinh tế - xã hội”. Cũng bắt đầu từ đó, Việt Nam chính thức bước vào cuộc giao lưu văn hóa lần thứ ba của thế kỷ XX. Cuộc giao lưu lần này mang tính tự nguyện, tuy nhiên vẫn có định hướng cụ thể: giao lưu với tất cả các nước trên thế giới, nhưng phải tôn trọng và đề cao văn hóa, chủ quyền dân tộc. Bắt đầu từ đây, văn hóa Việt Nam trong đó có âm nhạc - mà biểu hiện rõ nhất là lĩnh vực ca khúc - đã có sự phân dòng với nhiều sắc màu đa dạng.

Thứ nhất, dòng ca khúc cách mạng vẫn được tiếp nối, nhưng không phản ánh cái hào hùng của chiến tranh, mà đi vào chiều sâu của cuộc sống thực tại. Âm hưởng hào hùng, vui tươi dần chuyển sang chất tự sự mang giá trị cao cả của cá nhân - những con người đã một thời không tiếc xương máu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đó là anh thương binh “vẫn đến trường làng, vẫn ôm đàn dạy các em thơ bài hát quê hương” (Vết chân tròn trên cát - Trần Tiến); đó là những người mẹ Việt Nam: “Nhìn mái tóc mẹ bạc phơ, và ánh mắt mẹ như mơ, là biết mấy chờ mong mỏi mòn, từng đứa con ra đi không bao giờ trở lại” (Mẹ Việt Nam anh hùng - An Thuyên); hay, “Nước mắt không còn để khóc những đứa con lần lượt ra đi mãi mãi. Thời gian trôi qua, vết thương trên thịt da đã lành theo năm tháng. Nhưng vết thương lòng, mẹ vẫn còn nặng mang” (Người mẹ của tôi - Xuân Hồng). Đó là những chiến sĩ đã nằm lại dưới lòng đất mẹ, như lời nhắc nhở mỗi người sống phải nên nhớ: “Cỏ non thành cổ một màu xanh non tơ/ Nào có ai ngờ nơi đây một thời máu đổ… Thắp một nén nhang cho người nằm dưới cỏ/ Cỏ non xanh tơ, xin chớ vô tình/ Với người hy sinh trên mảnh đất quê mình” (Cỏ non thành cổ - Tân Huyền). Đất nước trở lại thanh bình, khi nghĩ về những mối tình trong thời chiến, không ít người đã ngậm ngùi, khắc khoải như cánh chim tử quy “bay bay đi tìm nhau”, bởi “một tình yêu như bão giông khát khao, đến bên nhau giữa đạn bom, đi tìm nhau suốt chiều dài đất nước, đi tìm nhau mãi mãi không về” (Miền xa thẳm - Đức Trịnh).

Ngoài những bài đi vào chiều sâu mang tính tự sự, thì nhánh thứ hai của dòng ca khúc này vẫn tiếp nối được những gì mà trước đó đã có. Đó là sự ca ngợi về vẻ đẹp những con người, miền quê của đất nước; không quá hào sảng, nhưng vẫn trong sáng, dặt dìu, bởi các nhạc sĩ biết khai thác thông qua chất liệu dân gian (cả âm nhạc và văn học), để gợi mở, dẫn dắt người nghe vào miền cảm xúc nội tâm với nhiều cung bậc khác nhau. Có thể điểm những ca khúc ghi được dấu ấn cho nhánh này là: Chảy đi sông ơi, Về quê, Bên dòng sông Cái, Trên đỉnh Phù Vân, Tửu ca… (Phó Đức Phương); Nhớ tuổi thơ Hà Nội, Ly cà phê Ban Mê, Say trăng, Trái cam mặt trời, Đôi mắt Pleiku, Thành phố miền quan họ (thơ: Giáp Đình Chiến), Và ta vừa thấy mặt trời... (Nguyễn Cường); Ngẫu hứng sông Hồng, Ngẫu hứng Lý ngựa ô, Tùy hứng qua cầu, Sao em nỡ vội lấy chồng, Chuyện tình thảo nguyên, Chị tôi, Giấc mơ Cha pi(Trần Tiến), Hà Nội đêm trở gió (Trọng Đài - Chu Lai), Bài ca đất phương Nam (Lư Nhất Vũ), Những nẻo đường phù sa (Bảo Chấn), Quê em miền nước lũ
(Tiến Luân)…

Thứ hai, dòng ca khúc nhạc nhẹ là hệ quả trực tiếp của cuộc giao lưu văn hóa âm nhạc giữa nước ta với nhiều nước trên thế giới. Cuộc giao lưu văn hóa âm nhạc lần này diễn ra, về các bước không khác nhiều so với những năm tháng đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận trên về tâm thế của người tiếp nhận thì thấy có sự khác nhau, bởi cuộc tiếp biến văn hóa đầu thế kỷ XX mang tính cưỡng bức, còn bây giờ là hoàn toàn tự nguyện. Do nhận thức khác nhau, dẫn đến cách tiếp cận của lớp nhạc sĩ trẻ cũng không giống nhau, do đó với dòng ca khúc này cũng đa dạng về thể loại.

Thể loại nhạc rock, thực ra đã xuất hiện ở Việt Nam trước năm 1975, nhưng phải đến những năm 2000, nó mới thực sự bùng nổ qua sáng tác của một số nhạc sĩ, đặc biệt là của ban nhạc Bức tường: Mắt đen, Ngày hôm qua, Bông hồng thủy tinh, Qua ô cửa thời gian, Đừng nhìn lại, Hoa ban trắng, Người đàn bà hóa đá, Lý quạ kêu, Nối vòng tay lớn, Đường tới vinh quang… Thể loại này, chủ yếu đáp ứng nhu cầu thị hiếu của lớp trẻ (chủ yếu là sinh viên, học sinh ở thành phố lớn), một thời làm sôi động thị trường, sân khấu ca nhạc nước nhà. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, sức nóng cuốn hút của thể loại nhạc rock đã bắt đầu giảm nhiệt.

Thể loại nhạc nhẹ bắt chước Tây. Một số người sáng tác trẻ cho rằng, trong thời buổi giáo lưu văn hóa, âm nhạc là không biên giới, muốn để ca khúc của Việt Nam vươn tầm thế giới, thì phải dùng tiếng nước ngoài. Thiếu một tầng nền văn hóa cơ bản, nên mới có ý nghĩ mơ hồ như vậy, tuy nhiên nó lại trở thành một hiện tượng, một trào lưu, dẫu chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng thẩm mỹ của giới trẻ. What is love? Bad boy, Just love, My everything, Forever alone, I’m sorry baby, Daydreams, Say you do, I’m in love, Hold me tonight, Really love you... là những ca khúc điển hình dùng tiêu đề bằng tiếng Anh để câu khách. Nhiều ca khúc trong lời ca còn sử dụng cả tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Trung, làm cho người thưởng thức chỉ thấy tác giả đang khoe khoang cái hào nhoáng bên ngoài, mà không hiểu được nội dung phản ánh cái gì. Thể loại ca khúc này không mang nhiều giá trị về phương diện nghệ thuật và nhân văn, mà chỉ thể hiện một cách tư duy hời hợt, sính ngoại, tạo thành một hiện tượng, thậm chí thành trào lưu ở một thời điểm nhất định. Đến nay, cách tư duy này không rầm rộ như mấy năm trước đây, nhưng nó vẫn còn và được nhiều người viết trẻ sử dụng ở chừng mực nhất định, thậm chí nó được đặt trong ca khúc có giá trị về phương diện nội dung, chẳng hạn như Bắc Bling là một ví dụ điển hình. 

Thể loại nhạc rap thuộc văn hóa hip hop xuất phát từ Âu Mỹ, nó có đặc trưng là ca từ thường được người sáng tác viết theo vần điệu. Trong cách diễn chủ yếu là đọc theo vần hoặc hô vang lời của bài hát kết hợp với động tác nhảy nhót, xiên, xỉa, tạo hình. Chỉ mấy năm gần đây, nhạc rap vào Việt Nam đã tạo nên một cơn sốt, thu hút được sự quan tâm của giới trẻ. Không đòi hỏi kỹ thuật về thanh nhạc, không cần biết nhiều (thậm chí không biết) về kiến thức âm nhạc, chỉ cần có sự nhanh nhạy nghĩ ra lời ca có nhịp điệu là trở thành nhạc sĩ,
rapper nổi tiếng. Nội dung của các bài nhạc rap rất đa dạng, phản ánh các ngõ ngách của cuộc sống. Với thể loại này cũng có thể chia thành hai nhánh chính: nhánh rap thuộc bản năng và nhánh rap được Việt hóa (tất nhiên cách chia này chỉ mang tính tương đối, để dễ phân biệt đối tượng).

Nhánh ráp bản năng, tiêu biểu có các bài: Ghệ mới, Chịu cách mình nói thua, Teen sái cổ, Anh chỉ muốn, Yêu anh đi mẹ anh bán bánh mỳ, Không phải gu, À lôi, Phóng zìn zin, Đâu phải vợ anh, Nói là làm, Quit vẫn lít, Tim anh ghen, Đổi tư thế, Như cái lò… Trong lời ca của nhiều ca khúc thuộc nhánh này, mặc dù người biểu diễn đọc lời ca theo vần trên nền nhạc, nhưng thiếu chất thơ, thậm chí lời ca còn thể hiện sự thô ráp, tục tĩu kiểu chỉ trích, gây sự, cãi vã. Đối tượng của ca khúc thuộc nhánh này, thường là những thanh niên ăn chơi, lêu lổng có lối sống không lành mạnh.

Nhánh ráp được Việt hóa, đó là những ca khúc được biến đổi cả về nội dung và hình thức của nhạc rap để phù hợp với thẩm mỹ của đại đa số công chúng. Tác giả của những ca khúc này đã có sự lựa chọn khôn khéo về ca từ, hình tượng âm nhạc, văn học dân gian, đặc biệt là làm giảm tốc độ trong quá trình đọc lời ca, giúp người thưởng thức dễ nghe, dễ tiếp cận. Nhánh này có một số ca khúc tiêu biểu:
 Để Mỵ nói cho mà nghe (nhóm DTAP), Gieo quẻ (Khắc Hưng), Duyên âm (Đình Dũng), Buôn Trăng, Rock hạt gạo (nhóm DTAP), Kén cá chọn canh, Bắc Bling (Tuấn Cry), Thị Màu (Nguyễn Hoàng Phong)… Nhánh rap được Việt hóa, hiện đang thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng. Tuy nhiên, dòng nhạc này, khi kết hợp với vũ đạo mới chỉ dừng ở mức độ tạo dựng được không khí vui tươi trong thời điểm mà ca khúc đang có chiều hướng thị trường hóa.

Thứ ba, thuật ngữ ca khúc dân gian đương đại chưa được chuẩn xác, bởi xét về thủ pháp sáng tác nó không khác nhiều với một số ca khúc: Xa khơi (Nguyễn Tài Tuệ), Câu hò bên bờ Hiền Lương (Hoàng Hiệp), Quảng Bình quê ta ơi (Hoàng Vân)… Không bàn tới độ chuẩn xác của thuật ngữ, ca khúc dân gian đương đại có thể hiểu là: những ca khúc mang âm hưởng dân gian được viết ở thời điểm gần đây. Dòng ca khúc dân gian đương đại (tạm gọi như vậy) đã thể hiện được tinh thần cũng như sự kết nối với nhánh ca khúc mang âm hưởng dân gian thuộc dòng ca khúc cách mạng. Chính vì sự thân quen đó, mà nó được khán thính giả dễ dàng đón nhận. Một số ca khúc dân gian đương đại nổi bật có thể kế đến: Lời văn tự của người Dao (Ngô Quốc Tính); Chuồn chuồn ớt, Bên bờ ao nhà mình, Người ở đừng về, À í a, Cặp ba lá, Đá trông chồng (Lê Minh Sơn); Bà tôi, Giọt sương bay lên (Nguyễn Vĩnh Tiến); Con cò (Lưu Hà An), Độc Huyền cầm (Bảo Lan), Hết quan hoàn dân (Lê Đăng Khoa), Duyên nợ tang bồng (Nguyễn Văn Tân), Giấc mơ trưa (Giáng Sol - Nguyễn Vĩnh Tiến)… Một số ca khúc thuộc dòng dân gian đương đại, đã được sử dụng trong các hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc.

Như vậy, với cái nhìn sơ lược có thể thấy, từ năm 1975 đến nay, ca khúc Việt Nam đã xuất hiện nhiều dòng/ thể loại khác nhau, nếu xét trên những yếu tố về lịch sử, nhu cầu thưởng thức của công chúng, thì điều đó hoàn toàn hợp lý. Nội dung của ca khúc phản ánh nhiều mặt (tốt, chưa tốt, thậm chí cả tiêu cực, đặc biệt nhiều bài khai thác sâu về cái tôi bản thể) trong cuộc sống. Về hình thức đã có sự khác biệt nhất định, nhưng cạnh đó không ít sản phẩm vẫn còn là hình bóng của các ca khúc nước ngoài. Với sự cố gắng của các nhạc sĩ và người viết nhạc, với sự đang dạng về nội dung và hình thức, mặc dù chưa ai đưa ra thống kê cụ thể, nhưng bằng cảm quan có thể thấy: ca khúc thiên về giải trí luôn chiếm ưu thế hơn về số lượng so với ca khúc mang tính nghệ thuật. Có lẽ do lợi ích của kinh tế thị trường, nên ca khúc thiên về tính giải trí được nhiều ca sĩ đầu tư, thậm chí còn được nhiều cơ quan truyền thông quan tâm, tiếp sức.

Nếu cho rằng: ca khúc chỉ để hát cho vui, thì ý nghĩ/ nhận định đó chưa đầy đủ, thậm chí là sai lầm. Là một bộ phận của âm nhạc, ca khúc ngoài chức năng giải trí cón có một số chức năng quan trọng khác là: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ. Bản chất của văn hóa nói chung, ca khúc nói riêng  sự sáng tạo vươn lên các giá trị chân, thiện, mỹ cao đẹp, tạo nên tinh thần nhân văn cho con người, đem hạnh phúc đến cho nhân loại. Chính những chức năng, bản chất và vai trò của ca khúc, cùng với việc định hướng về văn hóa, nghệ thuật của Đảng, nhìn lại lịch sử thì thấy: dòng ca khúc cách mạng Việt Nam đã có những đóng góp không nhỏ trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta ở thế kỷ XX. Thời kỳ đổi mới, Đảng xác định văn hóa là “nền tảng, là mục tiêu, động lực phát triển kinh tế - xã hội”. Để thực hiện đúng định hướng về văn hóa của Đảng, nhà quản lý, nhạc sĩ, người viết nhạc nên suy ngẫm lựa chọn dòng/ thể loại ca khúc nào làm mũi nhọn để đầu tư, từ đó mới nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, phục vụ tốt cho việc hòa nhập và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.

_________________________

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1988). Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

2. Nguyễn Đăng Nghị. (2005). Chặng đường trước và sau Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp 2005. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Số 12.

3. Nguyễn Đăng Nghị. (2007). Lời ca khúc những điều cần bàn. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Số 3.

4. Nguyễn Đăng Nghị. (2009). Ca khúc dân gian đương đại. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Số 303.

PGS, TS NGUYỄN ĐĂNG NGHỊ

Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026