Từ khóa: múa dân gian; múa Mường; nghệ thuật múa; văn hóa Mường.
Abstract: Muong traditional dance was formed and developed within the community’s life, closely associated with labor, production, beliefs, and traditional rituals, thereby reflecting the worldview and spiritual life of the Muong people. This article analyzes Muong dance - an art form inseparable from folk beliefs and daily life - through three main aspects: Rhythmic dynamics (a combination of soft, expressive movements and the powerful, decisive rhythms found in ceremonial rituals); Choreographic lines and forms (characterized by simplicity, stability, and a high degree of communality, suited to traditional performance spaces); Props (a key element that helps shape the dance language and directly influences the structure and expression of various dances). The study affirms the unique artistic identity of Muong dance, reflecting the cultural characteristics of the community while highlighting its significance in the research, preservation, and promotion of folk dance in the modern context.
Keywords: folk dance; Muong dance; dance art; Muong culture.
1. Đặt vấn đề
Nghệ thuật múa cổ truyền của người Mường do chính cộng đồng nông dân sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Loại hình nghệ thuật này phản ánh sinh động đời sống vật chất và tinh thần của người Mường, từ lao động sản xuất, sinh hoạt xã hội đến tín ngưỡng và nghi lễ. Thông qua ngôn ngữ động tác, múa Mường tái hiện mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, cũng như với thế giới hữu hình và vô hình, thể hiện những phong tục tập quán và các lễ thức gắn với đời sống nhân sinh.
Khác với các hình thức múa sân khấu chuyên nghiệp, múa Mường tồn tại chủ yếu trong không gian lễ thức và diễn xướng cộng đồng, nơi chức năng nghi lễ, tâm linh và giao tiếp xã hội hòa quyện với giá trị thẩm mỹ. Qua quá trình khảo sát và nghiên cứu, có thể nhận thấy nghệ thuật múa của người Mường sở hữu nhiều đặc điểm phong phú và đa dạng, thể hiện rõ bản sắc văn hóa địa phương cũng như tư duy nghệ thuật của cộng đồng. Trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều hình thức diễn xướng dân gian đứng trước nguy cơ mai một, việc nghiên cứu một cách hệ thống các đặc điểm nghệ thuật của múa Mường có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo tồn, giảng dạy và phục dựng.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ đặc điểm nghệ thuật múa truyền thống của người Mường, bài viết sử dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, trong đó chú trọng các phương pháp đặc thù trong nghiên cứu nghệ thuật múa và văn hóa dân gian, cụ thể như sau:
Phương pháp khảo sát thực địa được sử dụng nhằm thu thập tư liệu trực tiếp tại các địa bàn có cộng đồng người Mường sinh sống và còn bảo lưu được các hình thức múa truyền thống. Thông qua việc quan sát, ghi chép, ghi hình các buổi diễn xướng trong lễ hội, nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng, tác giả tiếp cận được ngữ cảnh tồn tại tự nhiên của múa Mường, từ đó nhận diện rõ mối quan hệ giữa động tác múa với môi trường văn hóa - xã hội.
Phương pháp phân tích - tổng hợp được vận dụng để xử lý các tư liệu thu thập được. Các yếu tố cấu thành nghệ thuật múa như luật động, tuyến múa, tạo hình và đạo cụ được tách ra phân tích ở từng phương diện, sau đó tổng hợp lại nhằm rút ra những đặc điểm chung mang tính bản chất của múa Mường.
Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm đối chiếu giữa các điệu múa khác nhau trong cùng một cộng đồng Mường, cũng như giữa múa Mường với một số loại hình múa dân gian khác. Qua đó làm nổi bật tính đặc thù, tính địa phương và bản sắc riêng của nghệ thuật múa Mường.
Phương pháp phân tích ngôn ngữ múa được áp dụng để nghiên cứu cấu trúc động tác, tổ hợp động tác, quy luật vận động và hình tượng múa. Phương pháp này giúp làm rõ cách thức tổ chức luật động, đặc điểm tiết tấu, nhịp điệu cũng như khả năng biểu đạt của động tác trong từng loại hình múa cụ thể.
Phương pháp liên ngành được vận dụng thông qua việc kết hợp tri thức của các lĩnh vực như dân tộc học, văn hóa học và nghệ thuật học. Cách tiếp cận này cho phép lý giải nghệ thuật múa không chỉ như một hiện tượng thẩm mỹ mà còn như một thực thể văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng, phong tục và cấu trúc xã hội của người Mường.
Ngoài ra, bài viết còn kế thừa các kết quả nghiên cứu của những công trình đi trước thông qua phương pháp nghiên cứu tài liệu, góp phần củng cố cơ sở lý luận và đối chiếu, kiểm chứng các nhận định khoa học.
3. Kết quả và thảo luận
Kết cấu luật động trong múa Mường
Luật động trong nghệ thuật múa là sự phản ánh và tổ chức các quy luật vận động của con người trong đời sống. Các hoạt động như đi, đứng, ngồi, quay, nhảy, lao động hay vui chơi đều tuân theo những quy luật nhất định của cơ thể và môi trường: trước khi nhảy phải nhún, trước khi quay phải lấy đà; khi tăng tốc phải lao người về phía trước; khi nâng, đỡ phải phối hợp nhịp nhàng giữa lực và tư thế. Những quy luật ấy chịu sự chi phối của trọng lực, địa hình, ánh sáng, cấu trúc cơ thể, cũng như tâm lý, thói quen và trình độ văn hóa của con người.
Luật động của múa là sự sắp xếp, phát triển logic những hình tượng, động tác, tổ hợp động tác, đoạn múa và đội hình nhằm đạt đến một tư tưởng, tình cảm và yêu cầu thẩm mỹ nhất định. Vì vậy, mọi sự dập khuôn, mô phỏng, máy móc, giản đơn trong phản ánh tái tạo những hoạt động thực tiễn của con người thì không thể đạt đến tiêu chí nghệ thuật của ngôn ngữ nghệ thuật múa. Luật động của múa còn phụ thuộc vào tính chất và kết cấu của âm nhạc, trình độ tiến bộ mang tính cơ học của chính bản thân loại hình nghệ thuật.
Luật động của múa Mường mang đậm tính địa phương. Qua các điệu múa như quạt ma, múa bông trong trò mỡi, múa khăn, múa sênh tiền, có thể nhận thấy sắc thái chung là sự dàn trải, dịu dàng và ấm áp, gợi cảm giác như lời hát ru hay tiếng chiêng trầm lắng. Ngược lại, trong các điệu múa mang tính lễ hội và nghi thức như: chằm thau, đâm trống đồng, đâm đuống, chèo đình, hay cầu lành làm mùa, luật động có xu hướng ngắn gọn, dứt khoát, giàu nhịp điệu và năng lượng, tạo nên không khí sôi động và linh thiêng.
Luật động trong múa Mường cũng có thể phân thành các loại theo chức năng biểu đạt: luật động dư hứng và luật động hành động. Các điệu múa dư hứng thường xuất hiện xen kẽ trong các trò diễn, có kết cấu ổn định, tiết tấu chậm, động tác lặp lại với biến đổi nhẹ, tạo sắc thái dịu dàng, vui tươi và giàu chất thơ. Với kết cấu bình ổn, chuyển dáng trong động tác, ít biến động và tương đối chậm, tạo hình và cấu trúc động tác, tổ hợp động tác múa chủ tâm khai thác tính cách, những nét vui buồn mang chất thơ nhiều hơn là tạo hình đối chọi, khúc chiết tạo nên kịch tính xung đột. Động tác tổ hợp, luật động múa dư hứng thường lặp đi lặp lại, có biến đổi chậm tạo nên sắc thái vui, rộn ràng, hoặc dịu dàng uyển chuyển. Luật động các điệu múa rõ ràng, tình cảm và đậm tính cách. Múa dư hứng dồi dào sức biểu hiện, ít tính chất mô phỏng. Trong khi đó, luật động múa hành động gắn với các tình huống kịch tính, phát triển theo diễn biến tâm lý và xung đột của nhân vật, với các hình tượng chuyển động đa chiều, lúc mạnh mẽ, lúc khúc chiết, giàu khả năng biểu hiện. Luật động luôn luôn phát triển biến đổi không ngừng theo tâm trạng, tư tưởng và những mâu thuẫn xung đột tạo nên kịch tính của những cá thể cụ thể và những tập thể người. Luật động múa hành động nhiều khi như là sự độc thoại, đối thoại bên trong của chủ thể nhân vật.
Động tác múa là tổ chức kết cấu logic gồm một số hình tượng múa có chức năng biểu cảm của một khoảnh khắc tâm tư, tính cách một cá thể hoặc cộng đồng người. Cấu trúc và chuyển động từ hình tượng múa bắt đầu, hình tượng nối, hình tượng phát triển, hình tượng đỉnh điểm và hình tượng kết thúc. Bắt đầu là hình tượng động và kết thúc là hình tượng tĩnh. Hình tượng đỉnh điểm và chuyển động với tiết tấu, nhịp điệu và khắc họa đường nét chuyển động tạo lên tính chất của động tác.
Trong hiện thực cuộc sống muôn màu, luôn luôn biến động. Có thể cùng một sự việc, công việc nhưng lại có những thao tác, hành động nội tâm, hình thể khác nhau. Sự khác nhau phụ thuộc vào tư tưởng, tình cảm, tính cách và hoàn cảnh người biểu hiện, cấu trúc động tác múa còn phụ thuộc đặc điểm, tính chất ngôn ngữ múa, hình thức thể loại tác phẩm múa quy định, chẳng hạn kết cấu khác nhau của các loại động tác múa: động tác múa biểu diễn, động tác múa tình tiết, động tác múa tính cách.
Trong múa một động tác có thể chưa thể hiện rõ ràng một nội dung, một ý đồ nhưng xuyên nối một số hình tượng, động tác múa lại với nhau theo một cấu trúc tổ chức logic thì có thể biểu hiện rõ được một nội dung, một tình tiết nhất định của hiện thực. Đó là cấu trúc tổ chức logic của một tổ hợp động tác múa. Tổ hợp động tác múa là kết cấu gồm một số động tác, hình tượng được sắp xếp, liên kết trong một cấu trúc, chuyển động hợp lý nhằm biểu cảm một tính cách, một nội dung tư tưởng nhất định.
Có tổ hợp động tác múa dài, ngắn khác nhau nhưng phổ biến là kết cấu của một tổ hợp động tác múa từ ba đến năm động tác múa trong một số tổ hợp phụ thuộc vào cá tính, thủ pháp của các tác giả trong các tổ hợp động tác múa có thể chen vào, hoặc dôi ra một hình tượng múa để mở đầu, phát triển hoặc kết thúc tổ hợp động tác múa. Trong một tổ hợp tuy còn rất ngắn nhưng đã phải chú ý xây dựng chủ đề múa, hình tượng chủ đề động tác chủ đề. Từ động tác chủ đề lặp lại, hoặc lặp lại biến đổi phát triển thành tổ hợp động tác múa dư hứng, tổ hợp động tác múa hành động.
Tuyến múa, tạo hình trong múa Mường
Trong múa dân gian dân tộc Mường, khi nói về đội hình, tuyến múa, tạo hình múa nhìn chung còn đơn giản, thiên về tính cân xứng và ổn định. Tuy người Mường đã cố gắng sáng tạo để làm mới nhưng các điệu múa vẫn thực hiện một cách đơn điệu. Khác với múa hiện đại hay múa cổ điển châu Âu là xử lý động tác di chuyển nhanh, tốc độ, biến hóa không gian, tuyến hành động múa, phát triển nhanh nhiều khí lắt léo, đột ngột, tính sáng tạo trong luật động mang tính tích cực. Các đội hình, tuyến múa của múa Mường rất ít các động tác di chuyển nhanh, có động tác gần như chỉ đứng im tại chỗ, chủ yếu là các động tác múa nhẹ nhàng uyển chuyển, chậm rãi.
Múa trống đồng được kết cấu tạo hình, phát triển luật động múa từ những chiếc dùi đánh trống, cây nến, mâm chay mà tạo nên đội hình tuyến múa gắn chặt với nghi thức. Ở điệu múa quạt ma, đội hình múa được xếp theo thứ tự bậc dâu cả, dâu thứ, dâu cháu, dâu chắt… đứng vây quanh ghế và quan tài, hướng về phía thày Mo để múa. Động tác còn đơn giản chưa được phát triển về tiết tấu và tạo hình nhưng luật động, kết cấu lại chặt chẽ, nền nếp, nhuần nhuyễn, tinh tế. Khi múa, các nàng dâu theo tiếng trống chiêng và tay cầm quạt múa, động tác múa khoan thai được lặp đi lặp lại trên tuyến vòng tròn và hình lượn sóng theo thứ tự từ người dâu đầu cho đến các nàng dâu khác.
Trong điệu múa mặt mẻ, ở lễ tang, diễn viên đeo mặt nạ tự tạo hình mặt người hoặc mặt khỉ, động tác múa đơn giản, chỉ là đứng lên, ngồi xuống, tiến và lùi với hai hoặc ba người. Múa mặt mẻ ở lễ hội Đình Cổi lại trình diễn theo hàng ngang. Động tác múa linh hoạt, biến hóa, diễn viên múa ngẫu hứng theo khả năng sáng tạo của mình.
Động tác trong múa đâm đuống là giơ chày lên lấy đà rồi đâm chày xuống cái đuống (máng giã lúa). Số lượng người giã gạo thường phụ thuộc vào diện tích của máng, thường là khoảng từ 4-8 người. Khi giật chày vào thành đuống toàn thân phải lui lại và ngửa thân về đằng sau, quá trình thực hiện động tác phải dướn người lên và nhún lao nửa thân trên về đằng trước. Đuống được đặt cố định trên hai cái kệ cách mặt đất độ 0,2m và đặt theo chiều ngang của nhà, chiều dọc của sân khấu, cho nên khi thực hiện động tác người chơi chỉ đứng tại chỗ chứ không di chuyển. Nhịp điệu và tiết tấu âm nhạc rộn ràng, thôi thúc rất gần với nhịp điệu tiết tấu của múa hiện đại.
Điệu múa chèo đình cũng là một trong những điệu múa dân gian cổ truyền của người Mường, là một tổ khúc bao gồm nhiều đoạn múa. Khi múa, chỉ sử dụng lời hát, kể, trống phách. Đội hình múa hướng về phía bàn thờ để múa, các đoạn múa lần lượt được diễn viên lặp lại suốt một đến hai canh giờ mới hết. Có những đoạn múa xếp đội hình tuyến múa là hình vuông, hoặc tuyến hàng ngang… Tất cả các đoạn múa trong tổ khúc múa chèo đình người diễn viên không di chuyển đội hình. Bố cục kết cấu tổ khúc múa, lời hát minh họa, âm nhạc, ngôn ngữ và lối trình diễn có phần rời rạc, trì trệ và khô khan.
Múa Mường kết hợp với đạo cụ
Một đặc điểm nổi bật của múa Mường là sự gắn bó mật thiết với đạo cụ. Từ múa lao động, múa tín ngưỡng đến múa lễ hội, hầu hết các điệu múa đều được xây dựng trên cơ sở một loại đạo cụ cụ thể. Đạo cụ không chỉ là phương tiện hỗ trợ mà còn là yếu tố cấu thành ngôn ngữ múa và nội dung nghệ thuật. Chiếc roi trong múa chèo đình, trống và dùi trong múa trống đồng, chày và cối trong múa đâm đuống, hay quạt, khăn, sênh tiền trong các điệu múa cùng tên đều trực tiếp chi phối cấu trúc động tác, tuyến múa và tạo hình. Nếu tách rời đạo cụ, ý nghĩa và sức biểu hiện của điệu múa sẽ bị suy giảm hoặc trở nên mơ hồ. Do phụ thuộc vào hình dáng, kích thước và tính chất (cứng - mềm) của đạo cụ, ngôn ngữ động tác trong múa Mường luôn được tổ chức sao cho phù hợp. Ví dụ, múa quạt có thể gợi hình ảnh cánh bướm, làn gió hay hành động phe phẩy làm mát cho linh hồn trong nghi lễ tang ma; trong khi đó, múa đâm đuống lại đòi hỏi động tác mạnh, dứt khoát và nhịp điệu dồn dập.
Kết cấu tạo hình luật động của múa phụ thuộc vào tính cá biệt của loại đạo cụ múa. Ngôn ngữ múa phụ thuộc nhiều vào nguồn vật liệu tạo nên đạo cụ múa. Người Mường là cư dân nông nghiệp, trồng lúa nước, lúa nương, hoa màu và chăn nuôi gia súc. Điều kiện sản xuất, canh tác, lối sống phụ thuộc nhiều vào môi trường, điều kiện tự nhiên. Con người đã biết tận dụng, khai thác nguồn vật liệu sẵn có như nứa, tre, đá. Những xương, da các loại thú rừng và gia cầm để tạo nên những bộ nhạc cụ, đạo cụ múa mang sắc thái của núi rừng. Khi con người tìm ra đồ đồng và chế tác được những chiếc trống đồng, bộ chiêng thì dàn nhạc đệm cho múa cũng có sức mạnh và đạt được hiệu quả nâng cánh cho ngôn ngữ múa, nghệ thuật múa dân tộc phát triển lên một tầm cao hơn.
Những chiếc roi làm bằng gỗ tạo nên cấu trúc chính thức của múa chèo đình. Những chiếc hoa bông đạo cụ của múa hoa bông được làm từ ruột những cây bấc cắt ra từng đoạn ngắn, nhuộm màu, cắm vào những que tre rồi đính vào một cái trục bằng gỗ mềm tạo nên hoa bông. Chiếc quạt giấy, quạt lông chim, một quạt lá cọ đã tạo nên ngôn ngữ đạo cụ múa quạt ma, múa của mo, của mỡi. Tất cả những điệu múa Mường đều gắn liền với một đạo cụ. Các đạo cụ múa đã ảnh hưởng, chi phối cấu trúc tạo hình của động tác múa.
4. Kết luận
Nghệ thuật múa của người Mường là một bộ phận quan trọng trong hệ thống diễn xướng dân gian, hình thành và phát triển gắn bó chặt chẽ với đời sống lao động, tín ngưỡng, phong tục và sinh hoạt cộng đồng. Thông qua hệ thống luật động, tuyến múa, tạo hình và việc sử dụng đạo cụ đặc trưng, múa Mường phản ánh sinh động thế giới quan, nhân sinh quan cũng như tư duy thẩm mỹ của cộng đồng cư dân nông nghiệp miền núi. Đây không chỉ là phương tiện biểu đạt cảm xúc, niềm tin và khát vọng của con người Mường, mà còn là không gian lưu giữ và truyền tải các giá trị văn hóa truyền thống qua nhiều thế hệ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, múa Mường mang những đặc điểm nghệ thuật riêng biệt, thể hiện rõ tính địa phương, tính cộng đồng và chức năng nghi lễ. Luật động múa thiên về sự dàn trải, ổn định, giàu tính biểu cảm; tuyến múa và tạo hình đơn giản nhưng chặt chẽ, phù hợp với không gian diễn xướng truyền thống; đạo cụ giữ vai trò trung tâm, chi phối trực tiếp cấu trúc động tác và ý nghĩa biểu đạt của điệu múa. Chính những đặc điểm này đã tạo nên bản sắc độc đáo của múa Mường trong bức tranh chung của nghệ thuật múa dân gian các dân tộc Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, khi quá trình đô thị hóa và giao thoa văn hóa diễn ra mạnh mẽ, nhiều hình thức diễn xướng dân gian đứng trước nguy cơ biến đổi hoặc mai một, việc nghiên cứu một cách hệ thống các đặc điểm nghệ thuật của múa Mường có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận và thực tiễn. Nghiên cứu không chỉ góp phần làm rõ giá trị nghệ thuật và văn hóa của múa Mường, mà còn là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn, giảng dạy, phục dựng và phát huy loại hình nghệ thuật này trong đời sống đương đại. Trên cơ sở tôn trọng cấu trúc nội tại và bối cảnh văn hóa truyền thống, múa Mường có thể được kế thừa và phát triển một cách phù hợp, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc và nền nghệ thuật múa Việt Nam.
_______________________
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Chí Thanh. (2001). Nghệ thuật múa Mường. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
2. Lâm Tô Lộc. (1994). Múa dân gian các dân tộc Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
3. Lê Ngọc Canh. (2001). 100 điệu múa truyền thống Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.
4. Lê Ngọc Canh. (2002). Đại cương nghệ thuật múa. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.
5. Trần Từ. (1996). Người Mường ở Hòa Bình. Hội Khoa học lịch sử Việt Nam.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 28/2/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 10/3/2026; Ngày duyệt bài: 27/3/2026.
Ths LANG THỊ THANH VÂN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026