lmnbgh.jpg
Rước kiệu trong Lễ hội Đền Hùng - Ảnh tư liệu:

1. Bối cảnh chung

Lịch sử phát triển lâu đời, sự đa dạng về tộc người và môi trường sinh thái đa dạng đã tạo nên sự phong phú, độc đáo và sâu sắc của văn hóa Việt Nam, thể hiện rõ nét qua hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, lễ hội, nghi lễ, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công, ẩm thực, tín ngưỡng... được tích lũy và trao truyền qua nhiều thế hệ. Việt Nam tự hào có 8 di sản thế giới được UNESCO ghi danh, 15 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, 3.750 di tích quốc gia và 485 di sản phi vật thể quốc gia, mỗi di sản thường gắn liền với các lễ hội hoặc sự kiện văn hóa ở nhiều quy mô khác nhau. Mỗi vùng, tỉnh, thành phố ở Việt Nam đều mang những đặc trưng văn hóa riêng biệt, bắt nguồn từ sự khác biệt về môi trường sống, lịch sử phát triển và nguồn gốc tộc người, theo đó, các lễ hội cũng được hình thành và phát triển phản ánh sự đặc sắc đó.

Trong vòng hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành và triển khai hiệu quả nhiều chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, thể hiện cam kết và tầm nhìn chiến lược, lâu dài và tổng thể về phát triển văn hóa, nghệ thuật, đặt trọng tâm vào các vấn đề gồm: a) Chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: bao gồm việc quản lý và bảo vệ các di tích lịch sử, di sản văn hóa vật thể cũng như hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong đời sống đương đại, khuyến khích khai thác các giá trị này trong phát triển kinh tế du lịch và các ngành Công nghiệp văn hóa (Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) 2024, Quyết định số 2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030); b) Đầu tư và tài trợ cho văn hóa: xây dựng và triển khai chính sách đầu tư và hỗ trợ tài chính công như cam kết tăng mức đầu tư cho văn hóa lên 2% (tới năm 2030), đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và các thiết chế văn hóa công lập trên cả nước, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2030 với tổng mức đầu tư 122.250 tỷ; b) Triển khai chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư tư nhân: cho phép áp dụng cơ chế đối tác công tư cho lĩnh vực văn hóa theo quy định mới của Luật sửa đổi Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu 2024; c) Gắn kết văn hóa với phát triển bền vững (Nghị quyết 33-NQ/TW năm 2014), Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 (2021), Đề án Phát triển mạng lưới thành phố sáng tạo trong hệ thống thành phố sáng tạo của UNESCO (2021)... d) Phát triển các ngành Công nghiệp văn hóa và sáng tạo (Chiến lược quốc gia phát triển các ngành Công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (2016) và Chỉ thị số 30/CT-TTg về phát triển các ngành Công nghiệp văn hóa Việt Nam (2024), Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi (2022)... e) Phát triển du lịch văn hóa (Quyết định số 147/QĐ-TTg nhằm mục tiêu phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, nhấn mạnh các sản phẩm du lịch văn hóa và tận dụng các sự kiện văn hóa truyền thống và đương đại).

Với nguồn tài nguyên văn hóa phong phú và đa dạng cùng khuôn khổ chính sách đồng bộ, cập nhật, phản ánh năng động với bối cảnh phát triển thực tế của lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật ở Việt Nam; sự nhất quán và đồng thuận về cam kết đặt văn hóa, nghệ thuật vào vị trí trọng tâm của sự phát triển bền vững của chính quyền các cấp... các lễ hội truyền thống và đương đại ở Việt Nam đang có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển, đóng góp tích cực vào bối cảnh văn học, nghệ thuật chung của cả nước.

2. Hệ sinh thái lễ hội văn hóa và nghệ thuật ở Việt Nam

Phát triển trên nền tảng văn minh lúa nước, văn hóa Việt Nam ngày nay vẫn phản ánh nhiều giá trị cốt lõi của nền văn hóa nông nghiệp ấy, trong đó lễ hội luôn đóng vai trò trung tâm trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân, cộng đồng, các dân tộc. Lễ hội văn hóa, đặc biệt là lễ hội truyền thống, được đánh giá cao như những môi trường, nền tảng bảo tồn các giá trị văn hóa, thể hiện và thúc đẩy sự gắn kết cộng đồng và phản ánh bản sắc của từng cộng đồng, dân tộc và địa phương.

Lễ hội là sự kiện thường kỳ gắn với các lĩnh vực văn hóa, di sản, tôn giáo, nghệ thuật và sáng tạo, có mục tiêu nhằm thúc đẩy trao đổi và mở rộng đối tượng khán giả và công chúng cho các lĩnh vực đó. Lễ hội có lịch trình cố định, có chương trình có cấu trúc, có thể có các hoạt động chuyên biệt và liên lĩnh vực, liên ngành. Theo Nghị định 110/2018/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam, các loại hình lễ hội chính được xác định như sau: lễ hội truyền thống bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa và lễ hội dân gian, đây là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân; lễ hội văn hóa là các hoạt động giới thiệu, quảng bá những giá trị văn hóa, thể thao tiêu biểu, đặc sắc; cũng như tiềm năng du lịch về đất nước và con người Việt Nam; lễ hội ngành nghề tập trung vào việc quảng bá đặc trưng, thế mạnh của các ngành nghề; đồng thời tôn vinh các tổ chức, nghệ nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp trong việc giữ gìn và phát triển ngành nghề đó; lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài là những hoạt động giới thiệu văn hóa, kinh tế, xã hội của các quốc gia khác đến với công chúng Việt Nam.

Ở Việt Nam, lễ hội là những sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang tính thiết yếu, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và xã hội của người dân. Trên thực tế, các lễ hội ở Việt Nam về cơ bản được chia thành hai nhóm lớn: lễ hội văn hóa truyền thống (bao gồm lễ hội dân gian, lễ hội gắn liền với nghề thủ công hoặc tôn giáo và tín ngưỡng) và lễ hội văn hóa, nghệ thuật mới.

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam hiện có hơn 11.000 lễ hội văn hóa truyền thống gắn liền với các hoạt động văn hóa của cộng đồng làng xã, phản ánh lịch sử và sự hình thành đất đai của họ (lễ hội đền Hùng, hội Lim, lễ hội chùa Hương…); các nhân vật lịch sử - huyền thoại (lễ hội đền Trần, lễ hội Gióng, lễ hội đình Nguyễn Trung Trực, lễ hội Lam Kinh, lễ hội đền Hai Bà Trưng…); mùa vụ (lễ hội tịch điền ở Hà Nam, lễ hội cầu ngư ở miền Trung, lễ hội chọi trâu ở Hải Phòng, lễ hội cầu mùa…); môi trường sinh thái (lễ hội cầu mưa của người Raglai, các lễ hội liên quan đến rừng của một số dân tộc ở miền núi phía Bắc, lễ hội đua thuyền trên sông, lễ hội cúng biển...); lễ hội làng nghề (lễ hội làng Bát Tràng, lễ hội đúc đồng Phước Kiều, lễ hội yến sào...); tín ngưỡng địa phương (lễ hội múa lửa của người Pà Thẻn, lễ hội Quan Âm, lễ hội Tháp Bà Ponagar, lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam - An Giang, lễ hội Bà Thiên Hậu ở Bình Dương...).

Từ những năm 2000, Việt Nam dần gia nhập nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. Đời sống kinh tế được nâng cao, đời sống văn hóa, tinh thần của người dân cũng được cải thiện nhờ sự phong phú và đa dạng của các hoạt động văn hóa, nghệ thuật với sự tham gia ngày càng tăng của khu vực tư nhân và sự hỗ trợ của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật quốc tế. Đặc biệt từ năm 2010, khi các ngành Công nghiệp văn hóa và sáng tạo có xu hướng phát triển mạnh mẽ hơn ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế… các lễ hội văn hóa và nghệ thuật mới đã phát triển cả về số lượng, quy mô và phân bố địa lý, nổi bật phải kể tới một số lễ hội đặc trưng cho một số ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo như:

Điện ảnh: Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội, Gặp gỡ Mùa Thu (Autumn meeting), Liên hoan Phim quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh (HIFF - HCM International Film Festival), Liên hoan Phim ASEAN Đà Nẵng, Liên hoan Phim Việt Nam…

Âm nhạc: Lễ hội âm nhạc quốc tế Gió mùa (Monsoon Festival), Tuần lễ Âm nhạc Việt Nam, Lễ hội Âm nhạc quốc tế Hozo, Liên hoan Âm nhạc cổ điển Việt Nam, SUPERFEST 2025 - Concert Mùa hè rực sáng...

Nghệ thuật thị giác: Festival Mỹ thuật trẻ, Nổ cái bùm, Ồ Ạt Oh art, Hanoi art connecting...

Sân khấu và nghệ thuật biểu diễn: Liên hoan Sân khấu Mở Hà Nội, Liên hoan Nghệ thuật Krossing Over, Liên hoan Múa quốc tế…

Vai trò của các lễ hội văn hóa và nghệ thuật ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, vai trò của các lễ hội truyền thống và lễ hội mới được công nhận rộng rãi và đánh giá cao vì những đóng góp đa diện của chúng đối với từng cá nhân, cộng đồng, địa phương trên cả nước. Riêng đối với lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật, lễ hội, đặc biệt là các lễ hội mới và đương đại, đã đang có tác động then chốt tới sự phát triển của các ngành này.

Nhiều lễ hội và sự kiện nghệ thuật tương đương như: Liên hoan Phim Việt Nam, Tuần lễ Âm nhạc Việt Nam, Festival Mỹ thuật trẻ… đã đang giữ vai trò tích cực là nền tảng để trình hiện, tôn vinh tài năng sáng tạo văn hóa, nghệ thuật và giới thiệu, ra mắt các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, mới mẻ tới công chúng.

Lễ hội văn hóa, nghệ thuật cũng là không gian, môi trường ươm mầm, nuôi dưỡng, thúc đẩy, khuyến khích và nâng cao năng lực sáng tạo cho thế hệ trẻ tài năng của cả nước. Qua việc tham gia vào các lễ hội và sự kiện văn hóa, nghệ thuật ở các quy mô, cấp độ khác nhau, nghệ sĩ và đặc biệt là các tài năng, nghệ thuật trẻ có thể phát triển ý tưởng sáng tạo của mình, được hỗ trợ về nguồn lực để theo đuổi quá trình sáng tạo và thử nghiệm, nâng cao năng lực chuyên môn để tạo ra các tác phẩm nghệ thuật mới mẻ, phản ánh tinh thần thời cuộc như Festival Mỹ thuật trẻ toàn quốc

Một số lễ hội mới, gắn với các thực hành nghệ thuật đương đại, đa phương tiện đã đang tạo ra các nền tảng, không gian khuyến khích, ủng hộ các xu hướng thể nghiệm nghệ thuật mới mẻ, năng động, sáng tạo của cộng đồng nghệ sĩ độc lập như Nổ cái bùm, Ồ Ạt Oh art, Krossing Over... Nổ cái bùm là một lễ hội nghệ thuật đương đại “di động” do cộng đồng nghệ sĩ đương đại độc lập khởi xướng và vận hành từ năm 2020, tại Huế, sau đó tiếp tục được tổ chức tại Đà Lạt vào năm 2022. Năm 2024, Nổ cái bùm: Tập thể (dục) do A sông, MORUA và Symbioses đồng tổ chức tại Đà Nẵng và Hội An từ 22 đến 28/8/2024. Sự kiện nghệ thuật đặc sắc này nhận được sự đóng góp và ủng hộ của nhiều cơ quan, tổ chức văn hóa ở các địa phương nơi tổ chức như các sở, ngành, trường đại học và cao đẳng, hiệp hội và hội, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế về văn hóa và nghệ thuật, cá nhân mạnh thường quân và nghệ sĩ… Ở mỗi mùa lễ hội, Nổ cái bùm đều có khả năng quy tụ hơn 100 nghệ sĩ và tập thể nghệ thuật Trung - Nam - Bắc, bao gồm hơn 20 sự kiện đa dạng về hình thức: triển lãm, sắp đặt, trình chiếu phim, trình diễn, múa và sân khấu thể nghiệm, âm nhạc truyền thống kết hợp đương đại, workshops, tọa đàm, giải đấu hip hop và tour nghệ thuật, đặc biệt tập trung giới thiệu những (nhóm) nghệ sĩ đến từ khu vực miền Trung.

Các lễ hội văn hóa nghệ thuật được tổ chức thường xuyên, qua nhiều năm, ở quy mô lớn, có các sự kiện có tính tương tác hoặc được tổ chức ở không gian công cộng chính là phương thức hiệu quả để phát triển, đa dạng hóa công chúng và khán giả cho nhiều lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Thường xuyên tham gia các sự kiện, lễ hội công chúng và khán giả được bồi đắp thường xuyên tình yêu với văn hóa, nghệ thuật, có thái độ trân trọng và hiểu biết hơn đối với các tác phẩm, sản phẩm văn hóa…

Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội là một lễ hội thường niên do thành phố Hà Nội tổ chức như một trong sáu sáng kiến mà thành phố cam kết khi gia nhập Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO (UCCN) vào năm 2019. Năm 2024, mùa thứ tư của lễ hội này được đánh giá là một trong những sự kiện văn hóa nghệ thuật tạo ấn tượng mạnh mẽ trên cả nước với hơn 110 hoạt động thuộc 12 lĩnh vực công nghiệp văn hóa tiêu biểu như kiến trúc, mỹ thuật, biểu diễn, điện ảnh... thu hút gần 300.000 lượt người và du khách. Điểm nhấn của lễ hội năm 2024 nằm ở sự đa dạng của các sự kiện; các hình thức thể hiện nghệ thuật; sự tham gia của nhiều bên liên quan công và tư, các tổ chức quốc tế, không gian sáng tạo, nghệ sĩ độc lập (500 đơn vị, hơn 1.000 người sáng tạo) và đặc biệt là thể hiện khả năng kết nối hài hòa bản sắc và hội nhập quốc tế, giữa các giá trị văn hóa truyền thống của Hà Nội và Việt Nam với các yếu tố đương đại, thử nghiệm... tôn vinh sự sáng tạo và khả năng thích ứng của thế hệ trẻ Việt Nam. Thành công của lễ hội đã tạo tiếng vang và khuyến khích các địa phương khác trên cả nước học hỏi mô hình và kinh nghiệm để áp dụng vào địa phương mình.

Trên phương diện kinh tế, lễ hội, liên hoan hay hội chợ văn hóa, nghệ thuật cũng là nền tảng cơ bản để hỗ trợ phát triển thị trường văn hóa, nghệ thuật qua cơ chế kết nối người sản xuất (bao gồm nghệ sĩ, nghệ nhân, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa) với người tiêu dùng, các nhà sưu tập, nhà phân phối và các đối tác tiềm năng khác; giới thiệu các tác phẩm, sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, qua đó tăng cường nhận diện thương hiệu, thúc đẩy các hoạt động hợp tác, cộng tác và thương mại.

Lễ hội văn hóa và nghệ thuật: đòn bẩy cho giao lưu và hội nhập quốc tế của Việt Nam

Các lễ hội văn hóa và nghệ thuật đang ngày càng thể hiện rõ vai trò là nhân tố then chốt, thúc đẩy các hoạt động giao lưu và hội nhập quốc tế của Việt Nam một cách sâu sắc và thực chất hơn, như được xác định rõ trong Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2030 (Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 30/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ) và Chỉ thị số 25-CT/TTg ngày 10/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh triển khai Chiến lược ngoại giao văn hóa Việt Nam đã nhấn mạnh mục tiêu: sử dụng công cụ văn hóa trong ngoại giao nhằm đưa quan hệ Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực bên ngoài, biến điều kiện thuận lợi, vị thế đất nước thành nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời dùng các biện pháp ngoại giao để tôn vinh các giá trị, vẻ đẹp của văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, qua đó khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tăng cường sức mạnh mềm, nâng cao vị thế đất nước. Sự hiện diện và phát triển mạnh mẽ của các lễ hội văn hóa nghệ thuật mới mẻ và phong phú ở nhiều địa phương trong vòng chục năm qua đã tạo ra một nền tảng vững chắc để Việt Nam không chỉ tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới mà còn tự tin giới thiệu bản sắc độc đáo của mình ra bạn bè quốc tế.

Việc phát triển các thương hiệu lễ hội, festival và sự kiện văn hóa, nghệ thuật chất lượng cao tại Việt Nam là một trong những mục tiêu chiến lược. Trong khuôn khổ hợp tác văn hóa ASEAN - Hàn Quốc và Kế hoạch quốc gia xây dựng mạng lưới các Thành phố Sáng tạo Việt Nam tham gia Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO, 9 thành phố tiềm năng đã được xác định. Đặc biệt, năm 2023, Đà Lạt (lĩnh vực âm nhạc) và Hội An (lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và nghệ thuật dân gian) đã thành công trở thành thành viên UCCN. Sự kiện này không chỉ khẳng định vị thế của Việt Nam mà còn thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giao lưu quốc tế về lễ hội và văn hóa, nghệ thuật trong mạng lưới UCCN và các đối tác rộng lớn hơn, mang lại những giá trị sâu sắc và thực chất cho tiến trình hội nhập văn hóa của đất nước.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác văn hóa cấp chính phủ hoặc cấp bộ với nhiều đối tác quốc tế, bao gồm Hungary, Lào, Thái Lan, UAE, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ... Chính từ những khuôn khổ hợp tác này, các sự kiện như Tuần lễ Văn hóa Việt Nam hay các Ngày Văn hóa Việt Nam đã được tổ chức thành công ở cả trong và ngoài nước. Đặc biệt, các lễ hội và sự kiện văn hóa quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật và nghệ thuật dân gian đã trở thành cầu nối hiệu quả, mang văn hóa Việt đến gần hơn với thế giới và ngược lại. Minh chứng rõ nét cho vai trò này là Bản ghi nhớ hợp tác nghệ thuật và văn hóa giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam và Hội đồng Anh (ký ngày 14/6/2023). Việc triển khai UK Vietnam Season 2023 đã cung cấp hỗ trợ trực tiếp cho nhiều dự án văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo, đồng thời tạo cơ hội quý giá để các nghệ sĩ, nhà hoạt động nghệ thuật, doanh nhân văn hóa và các tổ chức nghệ thuật của cả hai quốc gia xây dựng mạng lưới quốc tế bền chặt. Chương trình diễn ra từ tháng 6 đến tháng 12/2023, với các hoạt động trực tiếp và trực tuyến đa dạng trong nhiều lĩnh vực như sân khấu, điện ảnh, nghệ thuật thị giác, khiêu vũ, thiết kế, âm nhạc, văn học và nghiên cứu, đã thúc đẩy mạnh mẽ sự trao đổi văn hóa nghệ thuật giữa hai nước.

Xu hướng phát triển các lễ hội văn hóa và nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay

Nhận thấy vai trò của các lễ hội mới phù hợp với các xu hướng văn hóa và nghệ thuật đa dạng, năng động trong việc định hình và củng cố thương hiệu địa phương, nhiều tỉnh, thành phố trên khắp Việt Nam, đặc biệt là những nơi có du lịch văn hóa mạnh như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Hội An và Đà Lạt, đã đang quan tâm tới việc tổ chức, hỗ trợ tổ chức các hoạt động lễ hội mới bên cạnh các lễ hội truyền thống.

Xu hướng đa dạng hóa các bên tham gia, tăng cường sự tham gia và tính hòa nhập trong các lễ hội đã trở nên rõ nét hơn. Mặc dù chính quyền địa phương thường là đơn vị chủ trì các sự kiện này, nhưng nội dung, hoạt động và nguồn lực vận hành thường bắt nguồn từ khu vực ngoài nhà nước, bao gồm các doanh nghiệp, không gian sáng tạo, nghệ sĩ cá nhân và các tổ chức quốc tế. Ví dụ như Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2024 (nơi Hà Nội tổ chức các cấu phần cốt lõi và cung cấp địa điểm, nhưng hầu hết các hoạt động đều do các đối tác và cộng tác viên sáng tạo địa phương đóng góp và thực hiện) và Liên hoan Phim quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh (được tài trợ khoảng 20% từ thành phố và 80% từ các nguồn tư nhân, được vận hành chuyên nghiệp bởi khu vực tư nhân và cộng đồng điện ảnh).

Về cơ bản, các lễ hội này đang được phát triển để phù hợp với đặc điểm văn hóa và tầm nhìn phát triển của từng địa phương, với sự khuyến khích tích hợp các yếu tố văn hóa truyền thống và bản sắc văn hóa địa phương vào các định dạng mới, đương đại. Tuy nhiên, các yếu tố phát triển bền vững, như các sáng kiến xanh, bảo vệ môi trường và tính hòa nhập xã hội, vẫn chưa nhận được sự quan tâm đáng kể và nhất quán trong suốt các lễ hội ở nhiều quy mô khác nhau tại nhiều địa phương.

3. Kết luận

Số lượng lễ hội văn hóa và nghệ thuật đa dạng, ngày càng tăng ở Việt Nam hiện nay phản ánh sự phát triển của bối cảnh văn hóa và nghệ thuật trong nước. Đây là một nền tảng quan trọng để thể hiện năng lực sáng tạo, nghệ thuật của nghệ sĩ, người thực hành, cộng đồng và các tổ chức, doanh nghiệp đang phát triển mạnh mẽ. Các lễ hội không chỉ khuyến khích, quảng bá và tôn vinh tài năng sáng tạo mà còn cung cấp những không gian kết nối thiết yếu trong và giữa các ngành, thúc đẩy cơ hội đầu tư, phát triển dự án mới và giới thiệu các sản phẩm văn hóa đổi mới ra thị trường. Sự tham gia thường xuyên của công chúng và giới trẻ vào các lễ hội này cũng góp phần nâng cao sự hiểu biết và đánh giá của công chúng và thị trường về các sản phẩm văn hóa chất lượng, khuyến khích thái độ tiêu dùng tôn trọng sở hữu trí tuệ và ưu tiên hỗ trợ các sản phẩm văn hóa trong nước mang đậm bản sắc dân tộc.

Ngoài tình trạng thiếu nguồn lực và hỗ trợ tài chính, những hạn chế mà nhiều lễ hội nghệ thuật độc lập, ngoài công lập hoặc đương đại ở Việt Nam đang phải đối mặt là quy trình xin cấp phép sự kiện, đôi khi dựa trên các tiêu chí đánh giá mơ hồ và chủ quan; thiếu không gian vật lý tốt với diện tích đủ lớn và giao thông thuận tiện cho các sự kiện và lễ hội, đặc biệt là các lễ hội lớn. Đối với các lễ hội tích hợp công nghệ và yếu tố đa phương tiện, nguồn lực kỹ thuật hạn chế và thiết bị trong nước giá cả phải chăng cũng phần nào ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo và trình bày nghệ thuật của các lễ hội ở Việt Nam.

Để phát triển và nâng cao hiệu quả cũng như các tác động đa chiều (kinh tế, xã hội, môi trường và phát triển con người) của các lễ hội và sự kiện văn hóa tại Việt Nam, các địa phương, đơn vị tổ chức các lễ hội văn hóa, nghệ thuật cần chú trọng những điểm sau:

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về quản lý lễ hội (đặc biệt chú trọng vào các kỹ năng như quản lý ứng dụng dự án văn hóa nghệ thuật, giám sát và đánh giá, phê bình văn hóa và nghệ thuật, sở hữu trí tuệ, quản lý khủng hoảng, phát triển khán giả, truyền thông số...).

Triển khai các khuôn khổ giám sát và đánh giá lễ hội và sự kiện văn hóa, nghệ thuật khung, đặc biệt đối với các lễ hội do khu vực công khởi xướng và tổ chức để cung cấp cơ sở dữ liệu đánh giá tác động và xây dựng chính sách đối với lĩnh vực lễ hội.

Đảm bảo hỗ trợ kỹ thuật, chuyên môn và tư vấn từ các chuyên gia lễ hội quốc tế để phát triển các lễ hội tích hợp hợp tác quốc tế, phát triển bền vững, sáng kiến xanh và tính hòa nhập trong lĩnh vực lễ hội của Việt Nam.

Rà soát và cải thiện khuôn khổ pháp lý cho việc áp dụng mô hình hợp tác công tư (PPP) trong việc tổ chức các lễ hội và sự kiện văn hóa, nghệ thuật lớn ở địa phương và quốc gia.

Khi nhu cầu về trải nghiệm văn hóa và nghệ thuật đa dạng, mới mẻ và mang tầm quốc tế thông qua các lễ hội và sự kiện ngày càng tăng, các địa phương cần đầu tư nhiều hơn vào việc phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp, tiện lợi và dễ tiếp cận để tổ chức các lễ hội với quy mô và chủ đề khác nhau. Đồng thời, cũng cần thiết rà soát, xem xét lại và điều chỉnh các quy định hiện hành về tổ chức lễ hội, chẳng hạn như quy trình cấp phép sự kiện, để tạo môi trường và cơ chế thuận tiện hơn cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực lễ hội văn hóa, nghệ thuật ở nước ta.

_____________________________

1. Cục Di sản văn hóa. Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. https://dsvh.gov.vn/danh-muc-di-san-van-hoa-phivat-the-quoc-gia-1789

2. Hồng Hà. (2023, 21 tháng 11). Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ XXIII: Đưa điện ảnh Việt đến gần công chúng hơn. Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. https://bvhttdl.gov.vn/lien-hoan-phim-viet-nam-lan-thu-xxiiidua-dien-anh-viet-den-gan-cong-chung-hon20231121125231605.htm

3. Phương Vi. (2024, 18 tháng 7). Khách quốc tế đến Đà Nẵng dịp Lễ hội pháo hoa quốc tế tăng 33% so với cùng kỳ. Báo Thanh niên https://thanhnien.vn/khach-quoc-te-den-danang-dip-le-hoi-phao-hoa-quoc-te-tang-33-so-voi-cung-ky185240718172016626.htm

Ngày Tòa soạn nhận bài: 2/3/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 10/3/2026; Ngày duyệt đăng: 25/3/2026.

TS NGUYỄN THỊ THU HÀ

Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026