Mở đầu
Nhìn từ góc nhìn văn hóa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không chỉ là thiết chế chính trị tập hợp các tầng lớp Nhân dân, mà còn là không gian kết nối các giá trị, nơi gặp gỡ của truyền thống yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, ý thức cộng đồng, trách nhiệm công dân và khát vọng phát triển đất nước. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, mỗi khi đất nước đứng trước những bước ngoặt lớn, sức mạnh lớn nhất bao giờ cũng bắt nguồn từ lòng dân, từ sự đồng tâm, hiệp lực, từ khả năng biến khác biệt thành đồng thuận, biến đồng thuận thành hành động, biến hành động thành sức mạnh phát triển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh rằng, trong suốt tiến trình cách mạng, nguyên tắc cốt lõi của Mặt trận vẫn là “đoàn kết toàn dân vì mục tiêu chung: độc lập dân tộc và phồn vinh, hạnh phúc của Nhân dân”; đồng thời khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là “cội nguồn sức mạnh” và là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước. Từ tinh thần ấy, Đại hội XI của Mặt trận cần được nhìn nhận không chỉ như một đại hội về tổ chức, chương trình hành động hay phương thức vận động quần chúng, mà còn là đại hội của văn hóa đồng thuận, văn hóa dân chủ, văn hóa phụng sự Nhân dân.

1. Đại đoàn kết toàn dân tộc – từ truyền thống văn hóa đến nguồn lực phát triển quốc gia
Đại đoàn kết toàn dân tộc trước hết là một giá trị văn hóa. Đó không chỉ là khẩu hiệu chính trị, mà là kết tinh của lịch sử dựng nước và giữ nước, của đời sống cộng đồng làng xã, của đạo lý “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, của tinh thần “bầu ơi thương lấy bí cùng”, của ý thức cùng chung một cội nguồn, một vận mệnh, một tương lai. Dân tộc Việt Nam đã đi qua bao thử thách chính nhờ biết đặt lợi ích chung lên trên khác biệt riêng, biết tìm thấy điểm gặp gỡ trong tình yêu nước, nghĩa đồng bào và khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc.
Trong bài viết nhân dịp Đại hội XI, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài khẳng định, đại đoàn kết toàn dân tộc là “truyền thống quý báu, là nguồn lực nội sinh của dân tộc Việt Nam”, được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Bà cũng nhấn mạnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm, nòng cốt chính trị trong củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Điều đáng chú ý là trong bối cảnh hiện nay, đại đoàn kết không chỉ cần được hiểu như sự tập hợp lực lượng, mà còn là năng lực kiến tạo đồng thuận xã hội. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải có nguồn vốn kinh tế, nguồn vốn khoa học - công nghệ, nguồn vốn con người, nhưng cũng rất cần nguồn vốn xã hội: niềm tin, sự gắn kết, tinh thần hợp tác, ý thức trách nhiệm, khả năng chia sẻ và cùng hành động vì mục tiêu chung. Nguồn vốn ấy không tự nhiên mà có. Nó phải được nuôi dưỡng bằng văn hóa đối thoại, văn hóa lắng nghe, văn hóa tôn trọng Nhân dân, văn hóa thực thi trách nhiệm công vụ và văn hóa đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết.
Ở điểm này, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt. Mặt trận là nơi quy tụ công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp và những cá nhân tiêu biểu. Mỗi thành phần ấy có lợi ích, tâm tư, cách tiếp cận, điều kiện sống khác nhau, nhưng đều có thể gặp nhau ở mẫu số chung là tình yêu Tổ quốc và khát vọng xây dựng một Việt Nam phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Vì vậy, phát huy đại đoàn kết trong kỷ nguyên mới chính là phát huy văn hóa Việt Nam ở chiều sâu nhất: văn hóa gắn kết con người, văn hóa quy tụ sức mạnh, văn hóa làm cho mỗi người dân cảm thấy mình không đứng ngoài tiến trình phát triển của đất nước, mà là một chủ thể tham gia, đóng góp và thụ hưởng.
2. Văn hóa dân chủ và đồng thuận xã hội – nền tảng để Nhân dân thực sự là chủ thể phát triển
Một trong những điểm mới rất quan trọng trong tư duy về Mặt trận hiện nay là chuyển mạnh từ vận động một chiều sang lắng nghe, đối thoại, phản biện, hiệp thương và kiến tạo đồng thuận. Nếu trước đây, công tác Mặt trận thường được nhìn nhận nhiều ở khía cạnh tuyên truyền, vận động, tập hợp, thì trong điều kiện xã hội hiện đại, dân trí cao hơn, nhu cầu tham gia chính sách lớn hơn, không gian số mở rộng hơn, vai trò của Mặt trận phải được nâng lên thành một thiết chế dân chủ xã hội chủ nghĩa, nơi tiếng nói của Nhân dân được lắng nghe, chắt lọc và chuyển hóa thành chính sách.
Hệ thống Mặt trận các cấp đã đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tập hợp ý kiến Nhân dân, đặc biệt trước và sau các kỳ họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; đồng thời phối hợp tổ chức đánh giá sự hài lòng của người dân đối với hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Giai đoạn 2024-2026, Mặt trận các cấp đã phối hợp tổ chức hơn 2.300 cuộc giám sát, hơn 1.300 hội nghị phản biện, tham vấn ý kiến vào quyết sách địa phương.
Những con số ấy cho thấy dân chủ không chỉ là một nguyên tắc, mà đang từng bước trở thành phương thức vận hành. Điều quan trọng hơn là phải làm cho dân chủ trở thành văn hóa. Văn hóa dân chủ không dừng ở việc “có diễn đàn để nói”, mà còn là “có cơ chế để nghe”, “có trách nhiệm để giải trình”, “có năng lực để tiếp thu”, “có hành động để sửa đổi”. Khi người dân được lắng nghe một cách thực chất, niềm tin xã hội sẽ được củng cố. Khi phản biện xã hội được coi trọng, chính sách sẽ bớt khoảng cách với đời sống. Khi đối thoại trở thành nếp nghĩ và nếp làm, những bức xúc từ cơ sở sẽ không tích tụ thành điểm nghẽn xã hội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng gợi mở rất sâu sắc rằng, Mặt trận Tổ quốc phải trở thành diễn đàn rộng rãi để các tầng lớp Nhân dân, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ở nước ngoài có thể gặp gỡ, trao đổi, bày tỏ ý kiến, nguyện vọng một cách dân chủ, cởi mở; đồng thời cần phát huy vai trò của nhân sĩ, trí thức, chuyên gia, người có uy tín trong xã hội và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong hiến kế xây dựng đất nước. Đây chính là yêu cầu rất mới đối với Mặt trận trong kỷ nguyên mới: không chỉ tập hợp về mặt tổ chức, mà còn phải tập hợp trí tuệ, tập hợp sáng kiến, tập hợp niềm tin, tập hợp khát vọng.
Từ góc nhìn văn hóa, điều này có ý nghĩa rất lớn. Một xã hội phát triển bền vững không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính, mà phải dựa vào sự đồng thuận tự giác. Đồng thuận không phải là xóa bỏ khác biệt, mà là biết tổ chức khác biệt trong một trật tự chung, biết biến đa dạng thành sức mạnh, biết làm cho mỗi ý kiến xây dựng đều có chỗ đứng trong tiến trình phát triển. Mặt trận vì thế cần tiếp tục là “ngôi nhà chung” của đại đoàn kết, nhưng đồng thời cũng phải là “không gian văn hóa đối thoại” của xã hội Việt Nam hiện đại.
3. Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận – từ gần dân, hiểu dân đến đồng hành cùng dân trong không gian số
Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI diễn ra trong bối cảnh đất nước đang triển khai mạnh mẽ đổi mới tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh ấy, Mặt trận càng phải gần dân hơn, sát cơ sở hơn, linh hoạt hơn, hiện đại hơn. Gần dân không chỉ là có trụ sở ở cơ sở; gần dân là hiểu được nhịp sống của dân, nỗi lo của dân, kỳ vọng của dân, những biến đổi trong tâm lý xã hội, nhất là trong thanh niên, công nhân, người yếu thế, người dân ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam ở nước ngoài.
Một điểm đáng chú ý của nhiệm kỳ mới là tư duy đổi mới theo hướng lấy người dân làm trung tâm, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng “Mặt trận số”, đổi mới phương thức tập hợp Nhân dân, tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến từ cơ sở. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn với phân cấp, phân quyền cho cơ sở, đã góp phần đưa hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng gần dân, sát cơ sở; đồng thời nâng cao năng lực số, trình độ quản trị hiện đại của hệ thống Mặt trận trong giai đoạn mới.
Đây là vấn đề rất đáng suy nghĩ từ góc độ văn hóa. Trong xã hội số, con người không chỉ sống trong không gian làng, phố, cơ quan, gia đình, mà còn sống trong không gian mạng. Tâm tư xã hội hình thành rất nhanh trên mạng. Niềm tin có thể được củng cố rất nhanh, nhưng cũng có thể bị tổn thương rất nhanh. Những vấn đề dân sinh, môi trường, văn hóa ứng xử, an sinh, giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, phúc lợi… đều có thể trở thành chủ đề xã hội rộng lớn chỉ sau vài giờ. Nếu Mặt trận không hiện diện một cách chủ động, thuyết phục và nhân văn trong không gian số, sẽ khó nắm bắt đầy đủ chuyển động của lòng dân.
Tuy nhiên, chuyển đổi số của Mặt trận không thể chỉ là lập thêm cổng thông tin, fanpage hay ứng dụng kỹ thuật. Cốt lõi của “Mặt trận số” phải là một phương thức mới để lắng nghe dân, đối thoại với dân, kết nối dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của dân, đồng thời lan tỏa những giá trị tích cực trong xã hội. Công nghệ chỉ là công cụ; văn hóa phục vụ Nhân dân mới là linh hồn. Một nền tảng số của Mặt trận chỉ có ý nghĩa khi người dân cảm thấy tiếng nói của mình được ghi nhận, kiến nghị của mình được theo dõi, phản ánh của mình được xử lý, đóng góp của mình có giá trị đối với chính sách công.
Ở đây, văn hóa Mặt trận trong kỷ nguyên mới cần được nhận diện bằng ba phẩm chất: lắng nghe sâu hơn, hành động nhanh hơn và kết nối rộng hơn. Lắng nghe sâu hơn để không bỏ sót những tâm tư thầm lặng ở cơ sở. Hành động nhanh hơn để phản ánh kịp thời các vấn đề đời sống. Kết nối rộng hơn để đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài, thế hệ lớn tuổi và người trẻ, trí thức và công nhân, doanh nhân và nông dân, người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không theo tôn giáo đều thấy mình trong khối đại đoàn kết dân tộc.
Kết luận
Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI diễn ra vào thời điểm đất nước bước vào một chặng đường phát triển mới, với khát vọng lớn hơn, yêu cầu cao hơn và những thách thức phức tạp hơn. Trong bối cảnh ấy, vai trò của Mặt trận càng trở nên đặc biệt: không chỉ tập hợp lực lượng, mà còn bồi đắp niềm tin; không chỉ vận động quần chúng, mà còn kiến tạo đồng thuận; không chỉ phản ánh tâm tư Nhân dân, mà còn góp phần làm cho Nhân dân thực sự trở thành chủ thể của sự nghiệp phát triển đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh rằng, lịch sử 95 năm xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để lại bài học sâu sắc: nhờ đoàn kết, dân tộc ta đã làm nên những điều tưởng chừng không thể; ngày nay, trước thời cơ và thách thức đan xen, càng phải củng cố khối đại đoàn kết như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Tinh thần ấy cũng gặp gỡ với thông điệp của Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài khi khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải tiếp tục phát huy truyền thống, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, niềm tin và khát vọng cống hiến, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.
Sức mạnh của Mặt trận chính là sức mạnh của lòng dân; chiều sâu của Mặt trận chính là chiều sâu của văn hóa dân tộc; tương lai của Mặt trận chính là khả năng làm cho đại đoàn kết trở thành một nguồn lực sống động trong từng cộng đồng, từng gia đình, từng con người Việt Nam. Khi văn hóa đồng thuận được bồi đắp, khi dân chủ được thực hành, khi Nhân dân được lắng nghe và đồng hành, đất nước sẽ có thêm một nguồn lực vô giá để vững bước trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.