
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giáo dục và đào tạo văn học, nghệ thuật Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu cấp thiết phải đổi mới để bắt kịp xu thế phát triển của thế giới. Vấn đề không chỉ chú trọng khoa học công nghệ, phát triển kinh tế trên thị trường cạnh tranh mạnh mẽ mà còn có vai trò lớn trọng việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, đây là nhiệm vụ quan trọng trên mặt trận văn hóa - tư tưởng - thẩm mỹ, là yếu tố quan trọng để khẳng định vị thế của một dân tộc cũng như chủ quyền quốc gia. Vì vậy, đổi mới giáo dục và đào tạo văn học, nghệ thuật là một nhiệm vụ tất yếu nhằm khẳng định vị thế của đất nước có văn hóa phát triển, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc; văn hóa còn thì dân tộc còn… và khẳng định văn hóa nghệ thuật phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước (Đài Tiếng nói Việt Nam, 2021).
Việt Nam có 54 dân tộc với các loại hình nghệ thuật rất đa dạng, phong phú như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, múa, sân khấu, điện ảnh, kiến trúc… Những sáng tạo văn học, nghệ thuật đó đã vượt khỏi phạm vi lãnh thổ đến với công chúng thế giới. Tuy nhiên, toàn cầu hóa văn học, nghệ thuật cũng chịu ảnh hưởng ngược từ sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội sâu sắc.
Bên cạnh toàn cầu hóa cũng đặt ra những cơ hội và thách thức lớn, nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, sự đồng hóa nghệ thuật khi chạy theo thị hiếu quốc tế, sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nền văn hóa thuận lợi trong hợp tác, giao lưu phát triển, cập nhật và phát huy giá trị sáng tạo mới.
Do đó giáo dục và đào tạo “phát triển con người toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; có tri thức, kỹ năng, trách nhiệm nghề nghiệp; khả năng tự học, sáng tạo” (Quốc hội, 2019) trong văn học, nghệ thuật hiện nay là rất cần thiết, vấn đề đặt ra không chỉ đổi mới nội dung và hình thức thể hiện mà còn phải giữ gìn, bảo tồn phát huy những giá trị cốt lõi của dân tộc, làm phong phú thêm tiếng nói riêng trong bức tranh văn hóa toàn cầu.
2. Thực trạng đổi mới giáo dục và đào tạo văn học, nghệ thuật
Chương trình giảng dạy văn học, nghệ thuật ở nước ta những năm gần đây từng bước được chú trọng đầu tư đổi mới, tại một số trường đại học, cao đẳng nghệ thuật đã nhanh chóng cập nhật phương pháp, nội dung theo hướng tiếp cận đa ngành, tích hợp công nghệ thông tin tư duy sáng tạo nghệ thuật. Các ngành công nghiệp văn hóa: “Quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; trở thành những ngành kinh tế dịch vụ quan trọng…” (Chính phủ, 2016).
Đổi mới giáo dục và đào tạo văn học, nghệ thuật hiện nay đã giúp nghệ sĩ trẻ không chỉ biết viết, vẽ, biểu diễn mà còn có tư duy của một nhà thiết kế, lập trình viên, đạo diễn, người có ảnh hưởng một cách chủ động thích ứng. Các tiếp cận đa ngành đã giúp kích hoạt đa chiều trong sáng tạo, tạo ra sản phẩm nghệ thuật có giá trị giao tiếp cao trong các lĩnh vực như truyền thông, thị trường nghệ thuật, giáo dục... giúp văn học, nghệ thuật tiếp cận nhanh đến công chúng, độc giả, khán giả.
Theo thống kê ở Việt Nam, hiện nay có nhiều trường đào tạo lĩnh vực văn học, nghệ thuật uy tín nằm trong hệ thống quản lý giáo dục quốc gia như các trường: Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh… Các trường cao đẳng, các khoa nghệ thuật trong các trường đại học đa ngành, các ngành đào tạo theo chuyên sâu như diễn viên, đạo diễn, quay phin, biên kịch, mỹ thuật, lý luận phê bình, văn học, ngôn ngữ học, sáng tác văn học, âm nhạc… cùng với các trường quốc tế, cơ sở giáo dục cung cấp chương trình đào tạo nghệ thuật chất lượng cao. Chương trình đào tạo đã kết hợp giữa phương pháp giảng dạy hiện đại cùng với cấp bằng quốc tế như trường đào tạo nghệ thuật quốc tế ICA Hà Nội, Đại học RMIT Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, British Univesity Việt Nam (BUV Hưng Yên), Trường Reigate Grammar School Việt Nam… mở các chuyên ngành âm nhạc, múa, kịch nghệ, thiết kế đồ họa, minh họa, nhiếp ảnh, thiết kế game… chương trình đào tạo từ cơ bản đến chuyên nghiệp phù hợp với mọi lứa tuổi theo chuẩn quốc tế IGCSE, IB.
Hiện nay, các trường nghệ thuật trong nước cũng đã nhanh trong cập nhật đổi mới chương trình, ứng dụng công nghệ mới vào đào tạo; và việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay không chỉ là công cụ sử dụng phục vụ công năng mà còn trở thành nguyên liệu phục vụ cho sáng tác nghệ thuật như văn học số, thơ tương tác, nghệ thuật số, tranh AI, video art, nghệ thuật dữ liệu (data art), thực tế ảo/ AR tạo ra sân khấu ảo cho thơ, ca, nhạc, múa, phim hoạt hình AI, chuyển thể tác phẩm văn học thành trải nghiệm thị giác.
Các mô hình giáo dục, đào tạo văn học, nghệ thuật kết hợp đa ngành bước đầu đã đóng góp tích cực cho đào tạo văn học, nghệ thuật hiện đại đã tạo ra sản phẩm nhanh, hiệu quả, thu hút sự quan tâm giới trẻ.
Mô hình tiếp cận đa ngành trong giáo dục đào tạo hiện đại

Tăng cường hợp tác đào tạo trong nước và quốc tế đã được thúc đẩy qua các chương trình, dự án, trao đổi học thuật với các tổ chức, các trường học nước ngoài, giúp sinh viên tiếp cận nhanh với nghệ thuật hiện đại, cùng với mở rộng giao lưu văn hóa, tiếp cận tinh hoa nghệ thuật toàn cầu đã nâng cao năng lực sáng tạo xuyên biên giới qua các chương trình trao đổi sinh viên, giảng viên tại các trường nghệ thuật như Quỹ Ford hỗ trợ các chương trình đào tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật, Quỹ Thụy Điển hỗ trợ giáo dục, văn học, nghệ thuật, thực hiện các dự án nghệ thuật âm nhạc, mỹ thuật, nghệ thuật biểu diễn… giảng viên được mời tham gia giảng dạy hoặc làm nghệ sĩ lưu trú (artist-in-residence) tại một số trường quốc tế.
Những năm gần đây, nhiều dự án văn học, nghệ thuật được thực hiện như liên hoan nghệ thuật quốc tế, diễn đàn văn học - nghệ thuật, trại sáng tác đa quốc gia cho sinh viên và nghệ sĩ; các dự án hợp tác làm phim, viết kịch bản, triển lãm đa quốc gia… giúp người học làm việc nhóm quốc tế, tiếp xúc với văn hóa đa dạng, cùng với tận dụng nền tảng kỹ thuật số, học sinh, sinh viên các nước có thể cùng học online qua MOOCs (Massive Open Online Courses), hội thảo ảo, trên nền tảng Workshop quốc tế. Nhiều Tổ chức quốc tế như UNESCO, ASEF (Quỹ châu Á, châu Âu về giao lưu nghệ thuật), Japan Foundation, Goethe Institut, British Council hỗ trợ học bổng và chương trình hợp tác trực tuyến, tổ chức hàng trăm sự kiện, hội thảo, lớp học nghệ thuật hằng năm.
Trên thế giới, ở những nước phát triển giáo dục, đào tạo văn học, nghệ thuật đa phần tập trung vào việc kết hợp giữa truyền thống và sáng tạo hiện đại, nhằm nuôi dưỡng năng lực tư duy phản biện độc lập, cảm thụ thẩm mỹ, khả năng biểu đạt cá nhân. Về phương pháp giảng dạy, ví dụ như, đối với người học văn học không chỉ có tác phẩm kinh điển mà còn có các tác phẩm đương đại, đa văn hóa như văn học nữ quyền, văn học di dân… Ở Hoa Kỳ, Anh, người học có thể phân tích tác phẩm qua góc nhìn hậu hiện đại, phân tích tâm lý, chủ nghĩa hiện sinh... Trong nghệ thuật, thay vì giảng lý thuyết khô khan, người học được thực hành nhiều hơn thông qua bài tập dự án cá nhân như trưng bày, diễn xuất, viết kịch bản…; sử dụng các phương pháp kết hợp, như Văn học + Nghệ thuật + Khoa học + Kỹ thuật để hình thành nên tác phẩm mới như viết kịch bản cho phim khoa học viễn tưởng, dùng nghệ thuật kể chuyện để giải thích các khái niệm khoa học… Các nước như Pháp, Đức, Canada, Nhật Bản, Hoa Kỳ mở nhiều trường nghệ thuật chuyên biệt, đào tạo nhà văn, biên kịch, họa sĩ truyện tranh, nghệ sĩ biểu diễn, chú trọng kỹ năng trình bày, kể chuyện, viết sáng tạo, phân tích phê bình. Đồng thời, không gian học tập, như học ngoài lớp tại các viện bảo tàng, rạp hát, phòng trưng bày, lễ hội văn hóa, tổ chức cuộc thi viết, tạo sân chơi nghệ thuật, cũng như mở rộng số lượng lớp học cho người học, chú trọng công bố sản phẩm ra công chúng.
Khuyến khích sáng tạo cá nhân trong các hoạt động thực hành sáng tác văn học nghệ thuật, được coi là yếu tố cốt lõi để phát triển tư duy độc lập, cảm hứng nghệ thuật và bản sắc riêng của người nghệ sĩ.
Tạo không gian tự do tư tưởng và biểu đạt, giúp người sáng tạo thoát khỏi khuôn mẫu và giới hạn về hình thức, chủ đề… không áp đặt đúng - sai trong cảm nhận và diễn đạt nghệ thuật. Nhiều nhà văn, nghệ sĩ sáng tạo, biểu diễn đã hứng khởi phá cách để thể hiện góc nhìn mới về lịch sử, xã hội, nghệ thuật. Khuyến khích thử nghiệm để phá vỡ truyền thống bằng tôn trọng nỗ lực thử nghiệm hình thức, kỹ thuật như thơ không vần, truyện ngắn phi tuyến tính, nghệ thuật sắp đặt, video art… Khuyến khích kết hợp chất liệu truyền thống với hiện đại, liên ngành như văn học kết hợp điện ảnh, âm nhạc, kết hợp mỹ thuật…
Hiện nay, ở nước ta, giáo dục khơi gợi tư duy phản biện và cá nhân hóa được nhiều trường nghệ thuật áp dụng, chuyển từ truyền thụ kiến thức truyền thống sang khơi dậy tiềm năng, đặt câu hỏi mở, gợi cảm hứng thay vì áp công thức, giảng viên đóng vai trò dẫn dắt không phải người áp đặt để kiểm tra kiến thức học thuộc.
Phát triển sân chơi nghệ thuật tự do qua các cuộc thi sáng tác, workshop, triển lãm mở… nơi cá nhân có thể thể hiện bản thân mà không bị đánh giá theo chuẩn mực cứng nhắc. Các nghệ sĩ được ghi nhận và tôn vinh cá tính nghệ thuật riêng qua truyền thông. Giới phê bình nghệ thuật đổi mới tư duy ủng hộ sự khác biệt, không quy chuẩn hóa nghệ thuật theo gu thị trường hay thẩm mỹ cũ kỹ qua trại sáng tác đương đại, mô hình trại sáng tác trẻ, tạo động lực tinh thần để cá nhân dám theo đuổi phong cách riêng qua nghệ thuật trình diễn, trại sáng tác và các hoạt động nghệ thuật được tổ chức thường xuyên để phát triển tư duy cá nhân.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong sáng tạo văn học, nghệ thuật ở một số ngành nước ta diễn ra mạnh mẽ như, thiết kế đồ họa, âm nhạc điện tử, điện ảnh số… công nghệ thông tin được đào tạo giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng từng bước phát triển mở ra nhiều cơ hội sáng tạo, tương tác và cá nhân hóa trong học trực tuyến các nội dung số như E-learning (Moodle, google Classroom, Canvas) giúp thuận lợi giảng dạy lý thuyết văn học, phân tích tác phẩm, học lịch sử mỹ thuật… truy cập kho tư liệu số văn bản văn học, phim ảnh, triển lãm tranh, thư viện ảo… sử dụng phần mềm soạn thảo nâng cao (Scrivener, Notion), AI hỗ trợ phát triển ý tưởng, phản biện sáng tác. Ứng dụng Adobe Photoshop, illustrator, Procreate… giúp sáng tạo tranh, minh họa, nghệ thuật sắp đặt, thiết kế đồ họa. Dùng DAWs (Digital Audio Wokstations) như FL Studo, Logic Pro để phối khí, thu âm, hòa âm… ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR/AR) mô phỏng không gian, cho phép học viên tham quan viện bảo tàng, phòng tranh, sân khấu ảo. Ứng dụng công nghệ thông tin vào phân tích, phê bình văn học, truyền thông sáng tạo, xuất bản, AI và sáng tạo nghệ thuật hiện nay được dùng như công cụ khơi gợi ý tưởng, giúp kết hợp đa chất liệu, tạo hiệu ứng mới trong nghệ thuật.
3. Những thuận lợi hạn chế
Thuận lợi
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giáo dục và đào tạo văn học, nghệ thuật ở Việt Nam đã có nhiều bước phát triển cập nhật nhanh kiến thức, quy trình công nghệ trang bị nhiều lý thuyết thực hành, trải nghiệm, tương tác sáng tạo, thích ứng với xu hướng đa ngành, tiếp cận nghệ thuật đương đại, kỹ năng nghề nghiệp toàn cầu, sáng tạo cá nhân cao.
Nghị quyết của Đảng về phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển văn hóa; Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nhiều chương trình mục tiêu quốc gia hỗ trợ các ngành Văn hóa, nghệ thuật được quan tâm đầu tư, đặc biệt nghệ thuật truyền thống, văn học dân gian được chú trọng. Công nghiệp văn hóa như phim, ảnh, âm nhạc, mỹ thuật số, thiết kế… đang phát triển nhanh, tạo nhu cầu mới về nhân lực sáng tạo. Các nhà sáng tạo trẻ có nhiều cơ hội nghề nghiệp hơn qua mạng xã hội, nền tảng số YouTube, TikTok, Spotify… giao lưu quốc tế và hội nhập văn hóa tạo thuận lợi cho nhiều sinh viên, nghệ sĩ Việt được tiếp cận với các chương trình đào tạo, học bổng và hội thảo quốc tế. Sự kết nối với UNESCO và các tổ chức nghệ thuật nước ngoài giúp cập nhật xu hướng mới. Chuyển đổi số hỗ trợ đào tạo văn học, nghệ thuật được tích hợp vào chương trình học tại một số trường lớn được đẩy mạnh qua trí tuệ nhân tạo, phần mềm sáng tạo photoshop, ableton, final cut…
Hạn chế
Do thiếu nguồn lực đầu tư đồng đều, cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành nghệ thuật như nhạc cụ, phòng vẽ, xưởng điêu khắc, phòng dựng phim… hiện thiếu hoặc lạc hậu tại nhiều trường, nhất là ở các địa phương. Một số ngành văn học, tuồng, chèo, cải lương… khó thu hút người học do ít cơ hội việc làm. Công tác đào tạo nhiều trường còn thiên về lý thuyết, thiếu thực tiễn, vẫn giảng dạy theo phương pháp truyền thống, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với tư duy sáng tạo hiện đại. Thiếu môi trường trình diễn, triển lãm, sản xuất để sinh viên được rèn kỹ năng thực tế. Chưa gắn kết thị trường và doanh nghiệp, thiếu sự hợp tác giữa nhà trường và các hãng sản xuất nghệ thuật, công ty giải trí, nhà xuất bản, bảo tàng… Người học khó định hướng nghề nghiệp, thiếu kỹ năng kinh doanh sáng tạo, thêm vào đó một số phụ huynh còn xem nghệ thuật là ngành “khó kiếm sống”, dẫn đến ít khuyến khích con theo học. Việc đánh giá thành công trong nghệ thuật thường thiếu tiêu chí rõ ràng, dễ khiến người học mất phương hướng. Thiếu giảng viên giỏi đa năng, giảng viên chưa được cập nhật kỹ năng công nghệ, thiếu kinh nghiệm làm nghề thực tế cũng như giao lưu quốc tế. Một số ngành mới như thiết kế tương tác, nghệ thuật đa phương tiện chưa có nhiều giảng viên dạy chuyên sâu. Thiếu cập nhật nghệ thuật, văn học thế giới, ít tài liệu tra cứu, giáo trình theo xu hướng hiện đại như văn học hậu hiện đại, nghệ thuật đương đại, truyền thông đa phương tiện. Giới hạn về ngôn ngữ và chuyển ngữ, khiến sinh viên khó tiếp cận với các tác phẩm nghệ thuật toàn cầu. Cơ sở vật chất công nghệ chưa đồng bộ thiếu phòng lab, thiết bị công nghệ cao, studio hiện đại phục vụ nghệ thuật dựng phim, diễn tập, việc ứng dụng công nghệ thông tin AI, AR/VR, dữ liệu lớn còn manh mún, thiếu chiến lược tổng thể. Thiếu liên kết với doanh nghiệp và ngành công nghiệp văn hóa. Sinh viên ngành văn học, nghệ thuật còn gặp khó khăn do thiếu môi trường thực hành chuyên nghiệp, chưa kết nối chặt chẽ với thị trường. Thiếu mô hình học qua dự án nghệ thuật với các tổ chức sáng tạo, truyền thông, nhà xuất bản, công ty thiết kế, hãng phim… Hệ thống đánh giá và tuyển sinh còn lạc hậu, chủ yếu dựa trên thi năng khiếu hoặc kiến thức học thuật, chưa đánh giá đúng tiềm năng sáng tạo cá nhân, thường mang tính định lượng, thiếu phản ánh chiều sâu tư duy nghệ thuật. Hạn chế trong quốc tế hóa chương trình, thiếu kết nối, liên kết mạnh trong đào tạo nghệ thuật so với một số nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan. Sinh viên, giảng viên có ít cơ hội trao đổi, giao lưu nghệ thuật xuyên biên giới. Thiếu chính sách hỗ trợ và định hướng lâu dài từ nhà nước, nhiều ngành nghệ thuật được xem là không thiết yếu, dẫn đến khó thu hút người học.
4. Đề xuất một số giải pháp
Đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, đa dạng hóa thể loại tác phẩm văn học đương đại, văn học thế giới, văn học thiểu số, nghệ thuật đa phương tiện… cập nhật nội dung chương trình sát với thực tế nghề nghiệp, lồng ngép kiến thức truyền thống với xu hướng nghệ thuật hiện đại, công nghệ số. Tăng cường thời lượng thực hành, sáng tác, biểu diễn, triển lãm, kết nối với các hoạt động nghệ thuật thực tế. Mở ngành học và môn học mới phù hợp với xu thế, thể nghiệm kỹ thuật số, truyền thông nghệ thuật, thiết kế tương tác, sản xuất đa phương tiện. Đầu tư cơ sở vật chất và thiết kế chuyên dụng, trang bị xưởng thực hành, phòng thu, phòng dựng phim, nhà hát nhỏ, studio thiết kế, thư viện nghệ thuật số tại các trường. Xây dựng trung tâm sáng tạo nghệ thuật tại các khu vực lớn, kết nối nhà trường - nghệ sĩ - doanh nghiệp sáng tạo. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và nghệ sĩ giảng dạy hoặc cố vấn thực hành.
Tạo điều kiện để giảng viên, sinh viên trao đổi học tập, giao lưu quốc tế, cập nhật tư duy nghệ thuật đương đại. Phát triển mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp. Tổ chức các dự án nghệ thuật liên ngành cho sinh viên tham gia thực tế. Thúc đẩy chuyển đổi số và tích hợp công nghệ thực tế ảo VR, thực tế tăng cường AR, AI, kỹ xảo điện ảnh, thiết kế 3D, dựng phim kỹ thuật số… trong giảng dạy. Phát triển nền tảng học tập nghệ thuật trực tuyến, giúp học viên vùng sâu, vùng xa tiếp cận chương trình tốt hơn. Thay đổi tư duy xã hội, nâng cao vị thế ngành nghề nghệ thuật trong đời sống, kinh tế sáng tạo. Khuyến khích học sinh phổ thông tiếp cận nghệ thuật từ sớm qua các câu lạc bộ, cuộc thi sáng tạo, chương trình ngoại khóa. Nhà nước cần có các chương trình hỗ trợ học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật khó tuyển sinh, nhưng có vị trí văn hóa truyền thống như tuồng, chèo, cải lương…
Nhà nước cần có chính sách ưu đãi tín dụng, khởi nghiệp cho sinh viên nghệ thuật muốn tự phát triển sản phẩm nghệ thuật, triển lãm, xuất bản…; chuyển từ phương pháp dạy học theo lối đọc, chép sang khám phá - sáng tạo. Tổ chức học theo chương trình dự án, thảo luận, biểu diễn, viết sáng tạo/ phân tích tác phẩm từ nhiều góc nhìn khác nhau. Khuyến khích học sinh, sinh viên sáng tác, thể hiện cá tính nghệ thuật, bên cạnh học kiến thức lý thuyết. Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên, kỹ năng sáng tạo, cập nhật xu hướng mới (digital art, văn học số…), tạo điều kiện cho giảng viên đi thực tập, giao lưu quốc tế, làm nghệ sĩ thực hành để có kinh nghiệm truyền đạt lại cho sinh viên. Tăng cường hợp tác nhà trường, nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo bằng kết nối với nhà xuất bản, nhà hát, đài truyền hình, công ty game, phim ảnh, truyền thông để đưa sinh viên đi thực tập, làm các dự án thực tế. Mời nghệ sĩ, nhà văn, đạo diễn, họa sĩ đến giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm tại trường.
Đẩy mạnh ứng dụng công cụ số phục vụ nghệ thuật như phần mềm làm phim, vẽ kỹ thuật số, dàn dựng sân khấu ảo, phân tích văn học bằng AI… xây dựng thư viện số, nền tảng học trực tuyến, học tập qua mạng xã hội, podcast, video… Mở rộng không gian và hình thức học tập ngoại khóa như triển lãm nghệ thuật, câu lạc bộ sáng tác, sân khấu học đường, diễn đàn văn học trẻ… đưa học sinh đi học tập tại bảo tàng, rạp hát, thư viện, tổ chức các trại sáng tác, cuộc thi văn nghệ. Tăng cường hợp tác quốc tế tạo cơ hội cho sinh viên tham gia hội thảo, liên hoan văn học, nghệ thuật quốc tế, nhận học bổng, giao lưu văn hóa.
Cập nhật chương trình theo hướng thực hành, hiện đại, gần gũi với thị trường, hướng tới nghệ sĩ toàn năng, khai phóng, giúp người nghệ sĩ biết nhiều kỹ năng, kết nối nhiều lĩnh vực, tư duy mở sẵn sàng thử nghiệm chất liệu và hình thức mới, có tư duy nền tảng văn hóa, nhân văn vững chắc, để phát huy tốt các giá trị văn hóa dân tộc hiện đại. Bằng thiết kế chương trình linh hoạt thực tiễn và liên ngành, rút ngắn khoảng cách lý thuyết và thực hành, bằng tăng thời lượng thực hành sáng tác, biểu diễn, tổ chức sự kiện, sản xuất nội dung số… Kết hợp văn học, nghệ thuật với công nghệ, truyền thông, marketing, kinh doanh văn hóa, giúp người học có năng lực đa ngành, dễ thích nghi với thị trường lao động. Đưa nội dung văn hóa đại chúng, xu hướng nghệ thuật đương đại, văn học số, nghệ thuật đa phương tiện vào chương trình.
Gắn đào tạo với nhu cầu xã hội và thị trường nghệ thuật qua khảo sát thị trường lao động, từ đó cập nhật chương trình theo các kỹ năng và vị trí việc làm mới như biên kịch game, sáng tác podcast, thiết kế nội dung số, sáng tạo kỹ thuật số, đưa sinh viên đến gần hơn với thực tiễn sáng tạo ra sản phẩm.
Tăng cường đội ngũ giảng viên là nghệ sĩ thực hành như đạo diễn, nhà văn, họa sĩ, nhà sản xuất, nhằm đem lại kinh nghiệm thực tế, kỹ năng nghề nghiệp và tinh thần đổi mới cho sinh viên. Tổ chức workshop, Talkshow, lớp học thực chiến, thay vì chỉ học theo giáo trình cổ điển.
Đẩy mạnh liên kết giữa nhà trường với các đơn vị biểu diễn, nhà xuất bản, phòng tranh, hãng phim… trường học cần dạy học theo dự án liên ngành như làm phim ngắn, tạo phòng lad nghệ thuật số, nơi người học được thực hành công nghệ, mời nghệ sĩ công nghệ, nhà thiết kế kỹ thuật số đến giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm, tạo ra mối quan hệ gắn kết nghệ thuật và thị trường, tạo ra nhiều ý tưởng mới trong các sáng tạo nghệ thuật.
Để đổi mới giáo dục và đào tạo văn học, nghệ thuật theo hướng hiện đại hiện nay cần có tư duy liên ngành, kết nối công nghệ, truyền thông và con người, chỉ như vậy, người nghệ sĩ mới tạo ra tác phẩm có sức lan tỏa trong thời đại kỹ thuật số và toàn cầu hóa hiện nay. Cụ thể, để xây dựng chương trình đào tạo nghệ thuật giàu tính dân tộc và cập nhật quốc tế, bằng việc thiết kế chương trình kết hợp nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng, cải lương, ca trù, nghệ thuật làng nghề như tranh Đông Hồ, thủ công mỹ nghệ… cần đưa nội dung chủ đề liên quan văn hóa vào giảng dạy để người học hiểu biết cả văn hóa dân tộc và quốc tế.
Đào tạo đội ngũ giảng viên nghệ thuật có năng lực hội nhập, có kiến thức về nghệ thuật truyền thống, có khả năng tiếp cận xu hướng nghệ thuật toàn cầu; mặt khác cần tăng cường hợp tác đào tạo quốc tế, cử giảng viên đi học tập, trao đổi chuyên môn ở các nước có nền nghệ thuật phát triển.
Liên kết chặt chẽ giữa nhà trường, nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng, bằng xây dựng hệ sinh thái mở, kết nối với nghệ nhân dân gian, nhà hát, công ty sản xuất nghệ thuật như bảo tàng, trung tâm văn hóa tạo động lực tích cực cho phát triển sản phẩm văn học, nghệ thuật. Khuyến khích nghệ sĩ trẻ sáng tạo chất liệu dân tộc và hợp tác với tổ chức quốc tế trong biểu diễn, sản xuất, xuất bản.
Nhà nước cần có chính sách ưu tiên đầu tư cho ngành nghệ thuật truyền thống nhất là cấp cơ sở, làng nghề, các dân tộc thiểu số; khuyến khích thành lập quỹ phát triển nghệ thuật, tài trợ sáng tạo qua các dự án nghệ thuật gắn với văn hóa Việt; xây dựng chương trình giáo dục nghệ thuật dân tộc từ nhỏ ở cấp học phổ thông và đại học, giúp học sinh hiểu, yêu, tự hào về bản sắc dân tộc. Tạo sân chơi nghệ thuật đa dạng trong trường học, thúc đẩy học sinh sáng tạo và thể hiện bản sắc Việt trong thời đại hội nhập.
Để đổi mới giáo dục và đào tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật - một yêu cầu tất yếu được đặt ra là để phát triển con người Việt Nam toàn diện, sáng tạo và có bản sắc. Việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa nghệ thuật dân tộc và nghệ thuật quốc tế sẽ giúp tạo ra một thế hệ học sinh, sinh viên yêu văn hóa, trân trọng các giá trị dân tộc, giàu cảm xúc và có tư duy khả năng sáng tạo, giúp văn học, nghệ thuật định vị được giá trị với nghệ thuật quốc tế, cùng với bảo tồn, phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa đất nước bền vững.
_____________________________
Tài liệu tham khảo
1. Đài Tiếng nói Việt Nam. (2021, 24 tháng 11). Tổng Bí thư nhắc lại quan điểm “văn hóa còn dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất”. https://vov.gov.vn/tong-bi-thunhac-lai-quan-diem-van-hoa-con-dan-toc-con-van-hoa-matthi-dan-toc-dtnew-327493
2. Thủ tướng Chính phủ. (2016, 8 tháng 9). Quyết định số 1755/QĐ-TTg 2016, Phê duyệt chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa 2020, tầm nhìn 2030. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=2716 0&docid=186367
3. Quốc hội. (2018, 19 tháng 11). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid= 27160&docid=206102
4. Quốc hội. (2019, 14 tháng 6). Luật Giáo dục 2019 số 43/2019/QH thông qua tại kỳ họp thứ 7. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=197310
TS HOÀNG MINH CỦA
Nguồn: Tạp chí VHNT số 636, tháng 3-2026