Các bạn trẻ tiếp cận và thử nghiệm các công đoạn làm tranh.jpg
Các bạn trẻ tiếp cận và thử nghiệm các công đoạn làm tranh

Yêu cầu cấp bách về sự đổi mới cách tiếp cận

 Chia sẻ về di sản Tranh Đông Hồ, Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) Nguyễn Hữu Quả cho biết, làng tranh Đông Hồ xưa có tên là Đông Mại (thuộc vùng Kinh Bắc). Trong chữ Hán, “Mại” có nghĩa là buôn bán. Tại đình làng hiện vẫn còn lưu giữ đôi câu đối khẳng định sự thịnh vượng của một vùng đất “cận thị, cận giang” (gần chợ, gần sông), nơi giao thương tấp nập “trên bến dưới thuyền”. Vị thế của làng không chỉ nằm ở giá trị kinh tế mà còn ở chiều sâu văn hóa tri thức. Đó là nơi “văn vật hội tụ”, nơi lễ nghi và y quan (trang phục, phong thái) được coi trọng, thể hiện khát vọng về một cuộc sống thái bình, nhân văn. Theo ông, nghề làm tranh vốn xuất phát từ những lúc nông nhàn nhưng dần trở thành một nét di sản độc đáo. Làng Đông Hồ nằm trong quần thể di tích lịch sử quan trọng của vùng Kinh Bắc như: Lăng Kinh Dương Vương, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, lăng Sỹ Nhiếp (nơi truyền bá chữ viết và đạo học). Chính không gian văn hóa đồ sộ này đã hun đúc nên phần hồn cốt của tranh Đông Hồ. Dùng kỹ thuật khắc gỗ trên giấy điệp và hệ màu tự nhiên, từ lâu tranh Đông Hồ đã đóng vai trò là “cun bách khoa toàn thư” bng hình ảnh v tâm hn Vit, với triết lý chủ đạo là sự Chúc tụng: cầu mong cuộc sống bình yên, no đủ và hướng con người đến các giá trị Chân - Thiện - Mỹ.

NNƯT Nguyễn Hữu Quả cũng cho biết, hiện nay, di sản tranh Đông Hồ được lưu giữ qua 4 hình thức thể hiện chính: Tranh vẽ tay - Dành cho những bức họa khổ lớn, đòi hỏi kỹ năng hội họa điêu luyện của nghệ nhân. Tranh vừa in vừa vẽ - là sự kết hợp giữa khuôn bản in và nét vẽ thủ công. Tranh in mộc bản - là đặc trưng tiêu chuẩn của Đông Hồ với kỹ thuật in trên giấy Điệp (giấy dó phủ vỏ điệp). Và tranh ứng dụng đương đại - là sự kết hợp giữa giá trị truyền thống và không gian sáng tạo mới, đưa tranh Đông Hồ gần gũi hơn với giới trẻ và nhịp sống hiện đại. 

Để hiểu được tầm vóc của dự án Xiếc Họa Đông Hồ, cần nhìn thẳng vào thực trạng khắc nghiệt của làng nghề truyền thống này. Từ một trung tâm văn hóa sầm uất với 17 dòng họ cùng làm tranh, hiện nay làng Đông Hồ (Bắc Ninh) chỉ còn vỏn vẹn 3 gia đình nghệ nhân kiên trì giữ lửa nghề, tiêu biểu là gia đình NNƯT Nguyễn Đăng Chế, NNƯT Nguyễn Hữu Quả và NNƯT Nguyễn Thị Oanh. Đại đa số người dân trong làng đã chuyển sang làm hàng mã - một công việc mang lại lợi ích kinh tế tức  thời. Nguy cơ mai một không chỉ nằm ở số lượng nghệ nhân giảm mạnh mà còn ở sự đứt gãy thế hệ. Giới trẻ hiện nay thiếu động lực để theo đuổi một nghề thủ công đòi hỏi sự tỉ mỉ cực độ nhưng đầu ra lại bấp bênh. Khi tranh Đông Hồ mất đi thị trường tiêu thụ truyền thống là dịp Tết Nguyên đán, chúng dần trở thành những hiện vật “tĩnh” trong bảo tàng. Đây chính là lý do UNESCO đưa ra cảnh báo khẩn cấp. Khi một di sản bị đưa vào danh sách “cần bảo vệ khẩn cấp”, điều đó đồng nghĩa với việc các phương pháp bảo tồn truyền thống - vốn thiên về lưu giữ hiện vật và tư liệu hóa tĩnh - đã không còn đủ sức chống lại sự đứt gãy giữa di sản với đời sống đương đại. Nếu không có những chiến lược bảo tồn sáng tạo và tạo ra được sinh kế bền vững cho người làm nghề, dòng tranh này không chỉ mai một mà còn dần mất đi “hệ sinh thái cảm xúc” với công chúng trẻ.

NNƯT Nguyễn Hữu Quả là người rất tâm huyết trong việc bảo vệ các giá trị truyền thống của tranh Đông Hồ.jpg
NNƯT Nguyễn Hữu Quả là người rất tâm huyết trong việc bảo vệ các giá trị truyền thống của tranh Đông Hồ
Tranh dân gian Hứng dừa được chuyển thể một cách sinh động nhờ sự kết hợp với kỹ thuật trình diễn điêu luyện của các nghệ sĩ xiếc thu hút khán giả.jpg
Tranh dân gian Hứng dừa được chuyển thể một cách sinh động nhờ sự kết hợp với kỹ thuật trình diễn điêu luyện của các nghệ sĩ xiếc thu hút khán giả

Xiếc đương đại - Ngôn ngữ mới làm sống lại những bức tranh

Một nhóm sinh viên đến từ Khoa Truyền thông và Văn hóa Đối ngoại, Học viện Ngoại giao đã đưa ra một lời giải đầy táo bạo thông qua dự án mang tên Thức cùng di sản. Họ chọn Xiếc - loại hình nghệ thuật của hình thể, chuyển động và sự dẻo dai - để kết hợp với Tranh Đông Hồ - tinh hoa của mỹ thuật dân gian tĩnh lặng trên giấy điệp.

Hướng đi mới mà dự án Thức cùng di sản đề xướng chính là việc tái cấu trúc mô hình bảo tồn: Từ bảo tồn “tĩnh” sang bảo tồn “động”. Việc lựa chọn nghệ thuật Xiếc đương đại để “họa” lại tranh Đông Hồ là một tính toán kỹ lưỡng. Nếu tranh Đông Hồ là kết tinh của mỹ thuật dân gian với những thông điệp triết lý ẩn tàng, thì Xiếc là ngôn ngữ của chuyển động, hình thể và năng lượng trực quan. Sự kết hợp này phá vỡ rào cản về ngôn ngữ và sự khô khan của kiến thức, cho phép di sản thẩm thấu vào người xem thông qua trực giác và cảm xúc mạnh mẽ.

Một điểm nhấn mang tính bước ngoặt của dự án này chính là chủ thể thực hiện: Những sinh viên Khoa Truyền thông và Văn hóa đối ngoại, Học viện Ngoại giao. Đây không còn là câu chuyện của một bài tập tình huống trong môn học Quản trị Tổ chức sự kiện, mà là sự thực hành ngoại giao văn hóa ở cấp độ cơ sở, cho thấy thế hệ trẻ ngày nay không chỉ tiếp nhận di sản với thái độ chiêm bái.

Sinh viên Nguyễn Tất Đạt (năm 3, Học viện Ngoại giao) - Trưởng BTC dự án chia sẻ: “Thông qua sự kết hợp giữa xiếc đương đại và tranh dân gian Đông Hồ, dự án hướng tới việc đưa ra ý tưởng về việc làm mới cách tiếp cận di sản, giúp công chúng, đặc biệt là giới trẻ, cảm nhận được vẻ đẹp, tinh thần và giá trị văn hóa truyền thống bằng một ngôn ngữ nghệ thuật gần gũi hơn với đời sống hôm nay”.

Các sinh viên trẻ nhận diện được “khoảng trống” giữa kiến thức di sản và nhu cầu giải trí của xã hội. Họ hiểu rằng, để người trẻ yêu di sản, trước hết phải làm cho di sản trở nên “hấp dẫn” và “gần gũi”.

Trong công tác bảo tồn, thử thách lớn nhất là làm sao giữ được “hồn cốt” di sản khi thay đổi hình thức biểu đạt. Xiếc Họa Đông Hồ đã x lý bài toán này mt cách thuyết phc. Trong buổi biểu diễn vào tối 27/12/2025 tại Rạp xiếc Trung ương, các nhân vật như em bé ôm gà, đám cưới chuột hay các hoạt động hội làng bước ra khỏi khung giấy điệp để chuyển động trên sân khấu đã cho thấy một sự tái sinh về mặt biểu tượng. Xiếc, với đặc trưng là sự dẻo dai, khéo léo và kịch tính, đã nhân cách hóa các giá trị dân gian một cách sống động. Vở diễn Chuyện nhà Tí là mt ví d đin hình v s giao thoa t nhiên gia truyn thng và cm quan thm m hin đại. Nhng k thut nhào ln, thăng bng không ch để trình din k xo mà được lng ghép để k chuyn, để truyn ti thông đip v s lng nghe và thu hiu trong gia đình. Đây là mt hướng tiếp cn bo tn có tính giáo dc cao, đánh vào cm xúc ca c ph huynh và tr em, t đó xây dng mt cng đồng bo tn di sn bn vng ngay t gc r gia đình.

Việc xây dựng vở diễn Ký ức làng Hồ với cấu trúc ba phần mạch lạc, kết hợp giữa biểu diễn xiếc chuyên nghiệp và giao lưu cùng nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hữu Quả, đã cho thấy, dự án không chỉ trình diễn cái đẹp bề nổi mà còn nỗ lực giải mã những tầng sâu triết lý của tranh Đông Hồ - như ý nghĩa của bức Đánh ghen, Hng da - thông qua ngôn ng hình th và kch bn có chiu sâu.

Đám cưới chuột, Hứng dừa hay các sinh hoạt đời thường của làng tranh bỗng “bước ra” khỏi khuôn tranh, trở nên sống động, có hơi thở và nhịp điệu riêng trên sân khấu.jpg
Đám cưới chuột, Hứng dừa hay các sinh hoạt đời thường của làng tranh bỗng “bước ra” khỏi khuôn tranh, trở nên sống động, có hơi thở và nhịp điệu riêng trên sân khấu

Kỳ vọng về một hệ sinh thái bảo tồn di sản liên ngành

Sự thành công của Xiếc Họa Đông Hồ có thể coi là một khởi đầu đầy hứa hẹn cho chuỗi dự án Thức cùng di sản. Nó chứng minh rằng: Khi di sản được đặt vào tay thế hệ trẻ với một môi trường thực hành phù hợp, nó sẽ có một sức sống mới, mãnh liệt và đầy bất ngờ.

Từ dự án này, chúng ta có quyền hy vọng vào những sự kết hợp táo bạo hơn: Rối nước với múa đương đại, Chèo với nhạc điện tử, hay Thổ cẩm với công nghệ thực tế ảo... Mỗi di sản đều có những nét đặc trưng riêng và cần những ngôn ngữ đương đại phù hợp để “đánh thức”. Điều quan trọng nhất là tinh thần đối thoại: Người trẻ mang đến công nghệ, tư duy truyền thông và ngôn ngữ thời đại; di sản mang đến chiều sâu văn hóa và bản sắc dân tộc.

Nghiên cứu về dự án, có thể thấy tư duy rt thc tế ca ban t chc: Di sn không th tn ti nếu ngh nhân - nhng “bo tàng sng” - không sng được vi ngh. Các sinh viên đã nhn ra mt nghch lý: Nhiu MV ngh thut hay sn phm thi trang s dng hình ảnh tranh Đông H nhưng ngh nhân li không được hưởng li trc tiếp. Nhiều nghệ nhân làng Đông Hồ bộc bạch rằng, các dự án dùng hình ảnh tranh để in lên áo hay làm MV dù tốt cho truyền thông nhưng chưa giúp ích trực tiếp cho làng nghề. Nghệ nhân cần bán được tranh do chính tay mình làm ra. Bằng cách tận dụng lượng khán giả khổng lồ của xiếc - đặc biệt là các gia đình trẻ và khách quốc tế - dự án đã tạo ra một thị trường tiêu thụ trực tiếp. Khán giả đến vì tò mò với xiếc, nhưng ra về với một bức tranh Đông Hồ trên tay sau khi đã hiểu rõ lớp nghĩa tinh tế ẩn sau mỗi nét vẽ. Điều này gợi mở một hướng đi thực tế: bảo tồn di sản phải gắn liền với sinh kế của cộng đồng chủ thể.

Thống kê cho thấy, dự án đã tiếp cận hàng triệu người trên nền tảng số và thu hút   hơn 7.000 người trc tiếp tri nghim với lượng ln tranh được tiêu th, đặc bit là bi du khách quc tế. Kết quả này đã khng định tính hiu qu ca mô hình: Dùng ngh thut đương đại làm “phu” thu hút khán gi, sau đó dn dt h tr v vi giá tr th công nguyên bn. Đây là gii pháp ngn hn nhưng có giá tr gi m cho nhng chiến lược dài hơi hơn v vic kết ni du lch di sn vi ngh thut biu din.

Điều này cho thấy tiềm năng của việc kết hợp di sản với các loại hình nghệ thuật biểu diễn và du lịch văn hóa. Khi di sản trở thành một phần của ngành công nghiệp sáng tạo, nó sẽ tự tạo ra nguồn lực để nuôi sống chính mình và các nghệ nhân. Đây là hướng đi cấp thiết để đưa tranh Đông Hồ ra khỏi danh sách “cần bảo vệ khẩn cấp”, chuyển mình sang trạng thái phát triển bền vững. Thành công của Xiếc Họa Đông Hồ đã mở ra một tiền lệ quan trọng cho các dự án bảo tồn di sản sau này. Nó khẳng định rằng, thế hệ trẻ không hề hờ hững với truyền thống; họ chỉ đang chờ đợi những cách thức tiếp cận mới mẻ, năng động và phù hợp với tư duy thời đại.

Vở diễn sân khấu hóa Chuyện nhà Tí.jpg
Vở diễn sân khấu hóa Chuyện nhà Tí

NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG MINH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 635, tháng 2-2026