vna potal tong bi thu tham tru 2331 9480 1748830141_result.jpg
Tổng Bí thư Tô Lâm thăm Trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu và Trường PTCS Xã Đàn - Hà Nội (tháng 6/2025)  - Ảnh: TTXVN

Toàn cầu hóa, chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, cùng với những vấn đề nội tại tích tụ qua nhiều giai đoạn phát triển đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, tái cấu trúc toàn diện quốc gia. Trong bối cảnh đó, tư tưởng “sắp xếp lại giang sơn” được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh không chỉ mang ý nghĩa cải cách hành chính hay tinh gọn bộ máy mà sâu xa hơn là cuộc chỉnh đốn tổng thể về tư duy phát triển, tổ chức xã hội, cấu trúc nguồn lực và nền tảng con người. Trong tiến trình đó, học tập suốt đời nổi lên không chỉ như một giải pháp giáo dục mà là điều kiện tiên quyết, con đường duy nhất và hướng đi tất yếu để đất nước phát triển

Học tập suốt đời là con đường duy nhất và hướng đi tất yếu để đất nước phát triển

Thứ nhất, học tập suốt đời - công cụ hữu hiệu nhất để đổi mới tư duy một cách căn cơ và bền vững. Trong điều kiện đất nước đang tiến hành “sắp xếp lại giang sơn”, học tập suốt đời còn mang ý nghĩa tái cấu trúc tư duy, phá bỏ những khuôn mẫu cũ kỹ, lối nghĩ nhiệm kỳ, tư duy manh mún, cục bộ; thay vào đó là tư duy hệ thống, tư duy dài hạn, tư duy phát triển bền vững và hội nhập. Một quốc gia muốn “sắp xếp lại giang sơn’ thành công không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính hay ý chí chủ quan mà phải xây dựng được xã hội học tập, nơi mọi người dân đều có khả năng và động lực học tập, tự hoàn thiện và thích ứng với cái mới. Xã hội học tập chính là môi trường nuôi dưỡng con người mới - con người có tri thức, có kỷ luật, có trách nhiệm và có khát vọng cống hiến: “Học tập suốt đời trở thành một quy luật sống; không chỉ giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại; cao hơn, đây là chìa khóa quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững”(1). Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ, trọng trách trong giai đoạn mới, học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng đang là đòi hỏi cấp thiết đối với từng cá nhân, mỗi công dân, đặc biệt là những cán bộ, nhân viên trong hệ thống chính trị.

Thứ hai, học tập suốt đời - động lực tái cấu trúc nền kinh tế và xã hội. Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, từ dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ sang dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, học tập suốt đời trở thành điều kiện sống còn của nền kinh tế. Nếu người lao động không liên tục học tập, nâng cao kỹ năng thì mọi chiến lược phát triển công nghiệp, chuyển đổi số hay kinh tế xanh đều khó có thể thành công. Do đó, học tập suốt đời chính là chìa khóa để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân: “Chỉ khi đẩy mạnh thực chất học tập suốt đời, chúng ta mới giàu có những ý tưởng, giải pháp, sáng kiến để giải quyết những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những vấn đề mới, chưa có tiền lệ; khắc phục triệt để những “điểm nghẽn” trong cơ chế, chính sách, biểu hiện hình thức trong tự phê bình và phê bình; xóa bỏ tình trạng trì trệ, lúng túng trong giải quyết công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị; tạo ra được đội ngũ cán bộ dũng cảm, nhận thức đúng quy luật khách quan, chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ, dám nói những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từ cuộc sống sinh động, từ đòi hỏi của đổi mới và yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân”(2). Một trong những nguy cơ lớn của quá trình phát triển nhanh là sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Học tập suốt đời, nếu được tổ chức tốt, sẽ tạo cơ hội cho mọi người dân - đặc biệt là nhóm yếu thế - được tiếp cận tri thức, nâng cao năng lực và cải thiện vị thế xã hội, thực sự “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và Nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”(3). Như vậy, học tập suốt đời không chỉ phục vụ tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần tái cấu trúc xã hội theo hướng công bằng, hài hòa, đúng với tinh thần “sắp xếp lại giang sơn” vì lợi ích lâu dài của dân tộc.

Thứ ba, học tập suốt đời - điều kiện để xây dựng văn hóa kỷ cương và pháp quyền, là quá trình xây dựng lại trật tự, kỷ cương xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và thượng tôn pháp luật. Điều này không thể đạt được nếu người dân thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu kỹ năng công dân và ý thức trách nhiệm xã hội. Học tập suốt đời giúp hình thành công dân học tập - những con người hiểu luật, tôn trọng luật, có năng lực phản biện và tham gia xây dựng chính sách: “Qua học tập suốt đời để nhận thức được trách nhiệm đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn, thời điểm cụ thể; có năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống; để không ngừng tiến bộ, có sức khoẻ, có chất lượng sống tốt hơn; hiểu biết, giữ gìn và góp phần xây dựng truyền thống văn hóa dân tộc; tin tưởng vào tương lai đất nước, vào đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(4). Một xã hội mà người dân không ngừng học tập chính là nền tảng vững chắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật giữ vị trí tối thượng nhưng pháp luật chỉ thực sự phát huy hiệu lực khi được thấm sâu vào đời sống xã hội và trở thành thói quen ứng xử của mỗi người dân. Học tập suốt đời góp phần hình thành đội ngũ công dân có tư duy pháp lý, biết tôn trọng kỷ luật, kỷ cương, đồng thời có năng lực phản biện, giám sát quyền lực một cách đúng đắn và xây dựng. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, học tập suốt đời không chỉ là yêu cầu về nâng cao trình độ chuyên môn mà còn là điều kiện để củng cố bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và năng lực thực thi pháp luật. Một xã hội mà mỗi cá nhân đều coi học tập là nhu cầu tự thân sẽ là xã hội có nền kỷ cương vững chắc, trật tự ổn định và pháp quyền được bảo đảm thực chất, bền vững.

Tiếp tục đưa học tập suốt đời trở thành trụ cột của chiến lược phát triển quốc gia

Một là, xác lập học tập suốt đời là trụ cột chiến lược trong quá trình tái cấu trúc quốc gia, gắn chặt với cải cách thể chế, xây dựng bộ máy và phát triển nguồn nhân lực. Học tập suốt đời phải được khẳng định rõ ràng trong các văn kiện chiến lược, chương trình hành động và hệ thống pháp luật như một nguyên tắc phát triển quốc gia, bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện từ Trung ương đến địa phương. Trên cơ sở đó, cần hoàn thiện thể chế theo hướng tạo hành lang pháp lý thông thoáng, khuyến khích và bảo vệ quyền học tập của mọi công dân, đồng thời xây dựng cơ chế công nhận, tích lũy và chuyển đổi kết quả học tập từ các hình thức chính quy, không chính quy và tự học. Đưa yêu cầu học tập liên tục trở thành tiêu chí bắt buộc trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng cơ chế khuyến khích, thậm chí ràng buộc trách nhiệm học tập suốt đời đối với đội ngũ này, coi kết quả học tập là một căn cứ quan trọng trong công tác cán bộ. Đối với phát triển nguồn nhân lực xã hội, cần hình thành hệ sinh thái học tập mở, linh hoạt, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số để tạo điều kiện cho người lao động học tập suốt đời, nâng cao kỹ năng, chuyển đổi nghề nghiệp và tham gia hiệu quả vào quá trình tái cấu trúc kinh tế. Đồng thời, phải chú trọng xây dựng văn hóa học tập trong gia đình, cơ quan, doanh nghiệp và cộng đồng, coi học tập suốt đời không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với sự phát triển chung của đất nước.

Hai là, xây dựng hệ sinh thái học tập mở, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, tạo điều kiện cho mọi người dân học tập linh hoạt, suốt đời. Cần thay đổi cách tiếp cận truyền thống về giáo dục theo hướng mở, coi việc học không bị giới hạn trong nhà trường, chương trình hay độ tuổi mà diễn ra liên tục trong suốt vòng đời con người, gắn với nhu cầu thực tiễn của cá nhân và xã hội. Trên nền tảng đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, xây dựng khung thể chế và hạ tầng số đồng bộ, bảo đảm kết nối giữa các cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng, hình thành một hệ sinh thái học tập đa dạng, liên thông và linh hoạt. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số là điều kiện quyết định để hệ sinh thái học tập mở vận hành hiệu quả. Việc phát triển các nền tảng học tập trực tuyến, kho học liệu số dùng chung, hệ thống đào tạo từ xa và các mô hình học tập kết hợp sẽ giúp người dân tiếp cận tri thức mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và năng lực cá nhân. Đồng thời, cần chú trọng thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền, nhóm xã hội thông qua đầu tư hạ tầng, nâng cao kỹ năng số và hỗ trợ các đối tượng yếu thế, bảo đảm tính bao trùm và công bằng trong tiếp cận học tập. Bên cạnh vai trò của Nhà nước, sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng là yếu tố quan trọng trong xây dựng hệ sinh thái học tập mở. Doanh nghiệp không chỉ là nơi sử dụng lao động mà còn là chủ thể đào tạo, cập nhật kỹ năng cho người lao động; các tổ chức xã hội và cộng đồng là không gian học tập gắn với đời sống thực tiễn.

Ba là, thiết lập học tập suốt đời là chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên, gắn kết quả học tập với đánh giá, sử dụng cán bộ. Chú trọng thể chế hóa rõ ràng yêu cầu học tập suốt đời trong các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ, coi kết quả học tập, bồi dưỡng và tự học là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá, xếp loại, quy hoạch, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ. Trên cơ sở đó, cần xây dựng cơ chế khuyến khích, đồng thời có chế tài phù hợp đối với những trường hợp thiếu tinh thần học tập, không chịu cập nhật tri thức, dẫn đến hạn chế về năng lực và hiệu quả công việc: “Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời, phát triển các mô hình, phương thức, phong trào học tập theo hướng đa dạng hóa, phù hợp với các đối tượng, từng địa phương. Phát huy vai trò và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong việc đẩy mạnh phát triển xã hội học tập; nâng cao ý thức tự học, tự rèn luyện, tự trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ của mọi người dân, mọi lứa tuổi”(5). Đổi mới nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng thiết thực, gắn lý luận với thực tiễn, lấy yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm làm trung tâm, tạo điều kiện để cán bộ học tập linh hoạt, suốt đời. Vai trò nêu gương của người đứng đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; khi lãnh đạo thực sự coi trọng và thực hành học tập suốt đời, tinh thần học tập sẽ lan tỏa trong toàn bộ hệ thống. Chỉ khi học tập suốt đời trở thành thước đo về phẩm chất, năng lực và uy tín của cán bộ, đảng viên, công tác xây dựng đội ngũ mới đạt được chiều sâu, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và củng cố niềm tin của Nhân dân.

__________________________

Chú thích:

1, 2, 4. Tô Lâm, Học tập suốt đời, tapchicongsan.org.vn, 2/3/2025.

3. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.208.

5. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, nhandan.vn, 6/2/2026.

BẢO NGUYÊN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 640, tháng 4-2026