Trang phuc 3_result.jpg
Nam, nữ người Tày thường mặc trang phục truyền thống trong các lễ nghi 

Trang phục - dấu hiệu nhận diện và bản sắc văn hóa của người Tày

Người Tày (còn gọi là Thổ, Ngan, Phen, Thu Lao, Pa Dí...), là một tộc người thuộc ngữ hệ Tày - Thái, sinh sống tập trung tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Với khoảng 1,84 triệu người; chiếm 1,9% dân số Việt Nam và là dân tộc thiểu số đông thứ hai sau người Kinh1. Tại tỉnh Cao Bằng có gần 220.000  người dân tộc Tày sinh sống; chiếm 40,84% dân số toàn tỉnh và là dân tộc đông dân nhất tại địa phương2.

Trang phuc 7_result.jpg
Sự tiết chế rõ rệt trong trang phục nữ Tày

Khác với nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sử dụng hoa văn rực rỡ và bố cục trang trí cầu kỳ, trang phục truyền thống của người Tày nổi bật bởi sự tiết chế rõ rệt trong tạo hình và màu sắc. Đây là dấu hiệu nhận diện rõ ràng nhất của người Tày trong cộng đồng. Thông qua kiểu dáng áo bốn thân, áo dài năm thân, quần đũng chéo, khăn đội đầu và đặc biệt là gam màu chàm chủ đạo, bộ y phục tạo nên sự thống nhất tương đối ổn định giữa các địa phương, là bản sắc riêng, bền vững của người Tày. Trang phục truyền thống Tày vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thường ngày, vừa là hình thức biểu đạt bản sắc văn hóa trong đời sống cộng đồng. 

Trang phục nữ giới Tày

Trang phục truyền thống của phụ nữ Tày mang vẻ đẹp tao nhã gồm: Áo cánh ngắn, áo dài, quần hoặc váy, thắt lưng, khăn đội đầu, giày vải và các đồ trang sức khác3. Áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, có hai túi nhỏ phía trước; được may vừa vặn để tôn dáng. Trong sinh hoạt thường ngày, phụ nữ Tày mặc áo cánh, còn khi dự lễ hội hay sự kiện họ mặc áo dài năm thân bên ngoài áo cánh ngắn màu trắng. Có lẽ vì vậy mà người Tày còn được gọi là cần slửa khao (người áo trắng) để phân biệt với người Nùng thường mặc màu tuyền chàm4

Trang phuc 2_result.jpg
Phụ nữ Tày trong trang phục truyền thống

Áo dài năm thân của phụ nữ có cúc cài sang nách phải (5 cái), thân áo dài và ôm nhẹ cơ thể tạo cảm giác mềm mại. Phần từ thắt lưng trở xuống có thể may bằng vải khác màu nhưng nhìn chung vẫn giữ sắc chàm trầm làm chủ đạo. Trước đây, váy kín cũng được phụ nữ Tày sử dụng rộng rãi, gồm cạp, thân và gấu ghép từ nhiều mảnh vải khổ nhỏ. Cách mặc váy, cũng như tư thế ngồi, đi đứng thể hiện sự ý tứ và chuẩn mực trong quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ Tày. Hiện nay, phụ nữ Tày phổ biến mặc quần, kiểu dáng tương tự quần nam nhưng kích thước nhỏ hơn.

Đi kèm trang phục là thắt lưng dài khoảng 3m, rộng chừng 30cm. Thắt lưng được buộc ngoài áo dài và thả mối ra phía sau, vừa tạo điểm nhấn vừa giúp cố định trang phục. Ngoài ra, khăn đội đầu là phụ kiện không thể thiếu, thường là khăn vuông gấp chéo kiểu “mỏ quạ” hoặc khăn dài để vấn tóc, màu sắc chủ yếu là chàm hoặc đen, ít hoa văn. 

Điểm nổi bật của trang phục nữ Tày là sự tiết chế trong trang trí. Y phục truyền thống hầu như không có hoa văn cầu kỳ, thiên về màu chàm đơn sắc, nhấn mạnh tính trang nhã, giản dị. Tuy nhiên, trong những dịp lễ hội hoặc cưới hỏi, phụ nữ có thể sử dụng vải tốt hơn và đeo thêm trang sức bạc như vòng cổ, vòng tay, xà tích,… để tăng phần trang trọng cho bộ lễ phục.

Trang phục nam giới Tày

Một bộ trang phục nam giới người Tày cơ bản gồm áo cánh ngắn (slửa cỏm), áo dài năm thân, quần (khóa), khăn (khân) đội đầu hoặc mũ nồi và giày vải. Toàn bộ trang phục cũng sử dụng vải bông nhuộm chàm. 

Trang phuc 9_result.jpg
Trang phục  của người Tày xưa do một nhiếp ảnh gia người Pháp chụp năm 1884 (Ảnh sưu tầm)

Áo cánh bốn thân là trang phục phổ biến nhất trong sinh hoạt hằng ngày. Áo được may kiểu xẻ ngực, cổ tròn, không có cầu vai, hai bên nẹp áo đính hàng cúc vải (7 cái)5, cùng hai túi nhỏ ở phần vạt trước. Theo quan niệm dân gian, bảy cúc áo tượng trưng cho bảy phẩm chất tốt đẹp của người đàn ông, bao gồm: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, hiếu. Phần tà áo xẻ cao dưới nách giúp người mặc dễ vận động khi làm nương rẫy hoặc đi lại trên địa hình đồi núi. So với áo nữ, áo nam rộng và dài hơn, nhấn mạnh sự khỏe khoắn và tính ứng dụng trong lao động.

Áo dài năm thân thường mặc trong những dịp quan trọng. Áo quá đầu gối, cài cúc qua ngực trái và phủ ngoài cạp quần, tạo dáng thẳng và trang nghiêm. Dù mang tính lễ nghi, áo vẫn giữ màu chàm thống nhất với toàn bộ trang phục, hầu như không có hoa văn trang trí. Kiểu áo này có những nét tương đồng với trang phục truyền thống của người Kinh. 

Trang phuc 1_result.jpg
Trang phục  của nam giới Tày

Quần nam được may theo kiểu đũng chéo (đũng chân què), dài tới mắt cá chân, cạp rộng và buộc dây phía trước khi mặc. Thiết kế này phù hợp với thói quen vận động và điều kiện lao động nặng nhọc. Đi kèm là khăn đội đầu dài khoảng hai mét, thường quấn theo hình chữ “nhân”6 hoặc mũ nồi và giày vải có đế khâu thủ công. Tuy nhiên, trong sinh hoạt thường ngày, nam giới thường sử dụng dép đơn giản, họ chỉ mang giày vải trong dịp nghi lễ. 

Trang phục truyền thống mang giá trị văn hóa bền vững

Trang phục Tày phản ánh những chuẩn mực đạo đức và quan niệm thẩm mỹ truyền thống. Kiểu áo kín đáo cho thấy người Tày đề cao sự chừng mực và giản dị. Cách ăn mặc của phụ nữ gắn với sự ý tứ, nề nếp gia phong. Trong khi trang phục nam giới nhấn mạnh tính thuận tiện, phù hợp với vai trò lao động và trách nhiệm trong gia đình. 

Trang phuc 8_result.jpg
Trang phục truyền thống của phụ nữ Tày

Trải qua những biến đổi của đời sống hiện đại, trang phục truyền thống của người Tày không còn được sử dụng phổ biến trong sinh hoạt thường ngày nhưng vẫn giữ vị trí quan trọng trong lễ nghi và sinh hoạt văn hóa. Khi khoác lên mình bộ trang phục truyền thống trong những dịp trọng đại, mỗi cá nhân thể hiện sự tôn trọng đối với phong tục tập quán, đồng thời góp phần gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng. Bộ trang phục truyền thống hiện diện trong đời sống thay minh chứng nhắc nhớ về nguồn cội và những giá trị được văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.

__________________________

1. Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.

2. Cổng thông tin điện tử Cao Bằng.

3. GS,TS Ngô Đức Thịnh, Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam - Nxb Tri thức, Hà Nội, 2023, tr 112.

4. GS,TS Ngô Đức Thịnh, Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam - Nxb Tri thức, Hà Nội, 2023, tr 117.

5. Viện Dân tộc học, Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam, Hà Nội, 1992, tr 128.

6. Viện Dân tộc học, Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam, Hà Nội, 1992, tr 129.

Bài và ảnh: LÊ THỊ HẰNG 

Nguồn: Tạp chí VHNT số 637, tháng 3-2026