“Có thể nói, địa điểm khảo cổ học 18 Hoàng Diệu là công trường khai quật khảo cổ học lớn nhất trong lịch sử khảo cổ học Việt Nam. Nó đem lại một kho tàng tư liệu đồ sộ trên các phương diện di tích kiến trúc, cảnh quan, di vật, phản ánh lịch sử Thăng Long - Hà Nội qua suốt hàng nghìn năm. Giới khoa học trong và ngoài nước đã nhất trí khẳng định khu di tích nằm trong Trung tâm Cấm thành và Hoàng thành Thăng Long, với giá trị lịch sử, văn hóa to lớn, mang tầm vóc toàn cầu; phản ánh lịch sử của một kinh đô, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Đại Việt - nơi chứng kiến các sự kiện lịch sử Việt Nam có liên quan đến lịch sử thế giới, nơi giao thoa và hội tụ các tinh hoa của văn hóa thế giới và văn hóa bản địa, tạo nên một nền văn hóa giàu bản sắc văn hóa Việt Nam.” (Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí, 2000).

Chính tại khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu đã phát hiện nhiều hiện vật quý giá phục vụ Hoàng đế, Hoàng gia và quan lại triều đình Đại Việt. Trong bài viết này, chúng tôi giới thiệu hai chiếc bát sứ men trắng ngự dụng thời Lê sơ, có giá trị đặc biệt hiếm quý, được Viện Khảo cổ học phát hiện trong khu khai quật khảo cổ học 18 Hoàng Diệu vào năm 2002 và bàn giao cho Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội quản lý, phát huy giá trị và trưng bày.

Chiếc thứ nhất: Bát có chiều cao: 6,4cm, đường kính miệng: 14,5cm; đường kính đáy: 6,5cm và nặng 170gr. Bát có miệng loe, thành cong, chân đế cao. Trong lòng in nổi 2 hình rồng chân có 5 móng nối đuôi nhau xen giữa dải mây hình khánh, giữa lòng in nổi chữ 官 (Quan), khuôn trong 2 đường chỉ nổi song song. Bát có xương gốm mỏng, thấu quang, hiện rõ hình rồng kiểu “yên ngựa”. Bát được phủ men trắng cả trong và ngoài, trừ gờ miệng và chân đế bát không men. Bát có vết nứt ở thân, phục chế một phần (ảnh 1a,b)

Chiếc thứ hai: Bát có chiều cao: 6,5cm, đường kính miệng: 12,4cm; đường kính đáy: 5,2cm và nặng 115gr. Bát có miệng loe, thành cong, sâu lòng. Trong lòng bát in nổi 2 hình rồng chân có 5 móng và mây, giữa lòng in nổi chữ 官( Quan), khuôn trong 2 đường chỉ nổi song song. Bát được phủ men trắng cả trong và ngoài, trừ gờ miệng bát không men. Bát bị nứt nhưng còn đủ dáng (ảnh 2a,b).

Hai chiếc bát sứ men trắng này (còn gọi là bát gốm men trắng mỏng) thuộc loại đồ Ngự dụng có hình thức độc đáo đặc biệt với xương gốm mỏng đều, đạt độ thấu quang của đồ sứ. Khi có ánh sáng chiếu qua thân bát, hình rồng chân 5 móng và mây sẽ hiện ra rất huyền ảo. Loại bát sứ này chỉ tìm thấy tại Hoàng thành Thăng Long và khu mộ các vua Lê ở Lam Kinh (Thanh Hóa). Đây là loại hình sản phẩm gốm của lò Quan Thăng Long. Sản phẩm gốm lò Quan ở Việt Nam có lẽ bắt đầu từ thời Trần với dấu tích các mảnh gốm có viết 4 chữ men nâu:天長府制 (Phiên âm: Thiên Trường phủ chế) [Chế tạo ở phủ Thiên Trường]. Những mảnh gốm này tìm được tại Thiên Trường (Nam Định), nơi phát tích của vương triều Trần. Những phát hiện về đồ gốm sứ men trắng mỏng ở Thăng Long và Lam Kinh được xem như sự nối tiếp truyền thống gốm lò Quan ở Việt Nam. Vào thế kỷ XV, khi chính sách đóng cửa xuất khẩu gốm sứ của Minh Thành Tổ có hiệu lực cũng là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ thị trường của gốm sứ Đại Việt. Với nguồn nguyên liệu được tinh luyện kỹ và kỹ thuật chế tác tinh xảo, các nghệ nhân Đại Việt đã tạo ra những sản phẩm gốm sứ toàn hảo. Bằng kỹ thuật tạo hình vuốt tay trên bàn xoay kết hợp kỹ thuật in khuôn tinh xảo, người thợ trong lò Quan - Ngự xưởng (nơi tập trung nhiều thợ giỏi tuyển dụng trong nước) đã tạo ra những chiếc bát men trắng mỏng in nổi hình rồng mây như trên 2 chiếc bát này. Công việc tạo hoa văn vốn là một công đoạn rất quan trọng của người thợ gốm. Kỹ thuật tạo khuôn in bắt buộc phải có thiết kế chính xác để tạo ra hoa văn nổi 2 hình rồng kiểu “yên ngựa” có chân 5 móng nối đuôi nhau theo chiều kim đồng hồ, xen giữa dải mây hình khánh. Hình trang trí được khuôn lại trong 2 đường chỉ nổi song song bao quanh lòng bát. Giữa lòng bát là một chữ 官 (Quan) in nổi. Quan sát hình rồng mây trên 2 chiếc bát, dù khác nhau về kiểu dáng nhưng vẫn cùng thống nhất phong cách tạo hình. Hình rồng kiểu “yên ngựa”này vốn xuất hiện từ thời Trần, được bố cục trong tư thế thoải mái đang bay trong mây (ảnh 3). Chúng tôi đã gặp hình rồng “yên ngựa” trên trán bia chùa Sùng Khánh (Hà Giang) tạc năm Đại Tri thứ 10 (1367) (Nguyễn Đình Chiến và Ngô Thế Long, 1979: 64-74). Loại bát gốm men trắng mỏng này chưa tìm được ở đâu ngoài khu di tích Hoàng thành Thăng Long và khu mộ các vua Lê ở Lam Kinh. Theo Tống Trung Tín, bên cạnh gốm men trắng mỏng in nổi rồng mây ở Thăng Long còn có loại gốm trắng trang trí văn in hoa mẫu đơn, hoa cúc dây, sóng nước hình vảy cá, giữa lòng cũng in nổi hay viết chữ 官(Quan) bằng men xanh cobalt, nhưng phổ biến hơn là in hình một bông hoa mai 5 hay 6 cánh.Tại hố A10 cũng tìm được một khuôn in loại hoa văn này với đường nét tinh xảo chứng minh rõ sự hiện diện của các lò quan tại Thăng Long (Tống Trung Tín, 2020:594). Loại bát gốm men trắng mỏng này đều có gờ mép miệng không phủ men vì chúng được úp miệng theo từng cặp khi nung.Với kỹ thuật kiểu úp miệng này sẽ có hiệu quả là bát, đĩa sẽ tròn đều sau khi nung. Trong lòng bát đĩa sẽ không để lại dấu bàn kê như các loại bát, đĩa thời Lý- Trần.

Hai chiếc bát sứ men trắng ngự dụng thời Lê sơ lưu giữ tại Hoàng thành Thăng Long ảnh 3 (2).jpg

Những đồ gốm sản xuất dưới thời Lê sơ, thế kỷ XV,  không chỉ đáp ứng yêu cầu sử dụng của Hoàng cung triều Lê với các sản phẩm gốm đỉnh cao, đạt tiêu chuẩn đồ sứ, mà còn thúc đẩy việc cung ứng xuất khẩu. Hai chiếc bát sứ men trắng in nổi hình rồng mây và chữ 官(Quan) ở giữa lòng bát là loại hình mang giá trị tiêu biểu cho phong cách mỹ thuật tạo hình đồ gốm men trắng thời Lê sơ. Đây là minh chứng tiêu biểu về đỉnh cao của kỹ nghệ chế tác đồ gốm. Hai chiếc bát sứ thể hiện sự trang nhã trong hình khối nhưng tinh mỹ, cầu kỳ trong từng nét hoa văn trang trí; nước men trắng trong mượt mà có thể sánh ngang chất lượng của đồ gốm sứ thời Minh. Do vậy, hai chiếc bát này rất có giá trị cho việc nghiên cứu kỹ thuật chế tác, cũng như nghệ thuật tạo hình, trang trí của đồ sứ men trắng cao cấp thời Lê sơ.

Hai chiếc bát sứ men trắng này có giá trị mỹ thuật tiêu biểu của nghệ thuật Cung đình. Hình tượng rồng có chân 5 móng, tư thế bay hiên ngang giưa trời mây không chỉ là biểu tượng quyền uy của Hoàng đế mà còn là biểu tượng thanh bình của nước Đại Việt hùng cường ở khu vực Đông Nam Á dưới thời Lê sơ. Hai chiếc bát sứ men trắng này đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia theo Quyết định số 2198/QĐ-TTg, ngày 25/12/2021.

_______________

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Xem thêm: Nguyễn Đình Chiến và Ngô Thế Long, Tấm bia đời Trần Dụ Tông mới phát hiện ở Hà Tuyên. Khảo cổ học, số 3: 64-74. 1979.
2. Tống Trung Tín (Chủ biên), Văn hiến Thăng long Bằng chứng khảo cổ học. Nxb Hà Nội. 2020.
3. Tống Trung Tín - Bùi Minh Trí, Thăng Long - Hà Nội, Lịch sử nghìn năm từ lòng đất. Nxb KHXH Hà Nội. 2000.

NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 641, tháng 4-2026