Những hạn chế, bất cập trong tổ chức thi hành pháp luật và nguyên nhân đặt ra
Thực tiễn thi hành pháp luật trong các lĩnh văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch vẫn bộc lộ những điểm nghẽn có tính cơ cấu. Trước hết là độ vênh giữa tốc độ ban hành, sửa đổi văn bản với năng lực tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Dù hệ thống pháp luật đã tiếp tục được rà soát với quy mô lớn, riêng lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch đã rà soát 170 văn bản quy phạm pháp luật, nhưng ở nhiều mảng, chính sách vẫn chưa đồng bộ, việc thực hiện chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới. Điều đó cho thấy thách thức hiện nay không chỉ là “có luật hay chưa”, mà là chất lượng thực thi, mức độ liên thông giữa các quy định, và khả năng chuyển hóa pháp luật thành năng lực quản trị thực tế.
Trong lĩnh vực văn hóa, chưa tương xứng giữa vị thế chiến lược của văn hóa với nguồn lực, cơ chế thực hiện và hiệu quả vận hành của hệ thống thiết chế. Pháp luật ở một số lĩnh vực còn thiếu đồng bộ; việc tổ chức thực hiện chưa hiệu quả; công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại nhiều địa phương còn khó khăn về nguồn lực và cơ chế quản lý; việc gắn bảo tồn với phát triển kinh tế, du lịch chưa bền vững; công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa còn phát triển chậm; thiết chế văn hóa cơ sở ở nhiều nơi thiếu đồng bộ, hiệu quả hoạt động chưa cao; nhân lực văn hóa khu vực công gặp nhiều khó khăn. Những bất cập này càng đáng chú ý hơn nếu đặt trong bối cảnh Luật Di sản văn hóa năm 2024 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 với 9 chương, 95 điều, tăng đáng kể về quy mô điều chỉnh so với luật cũ; nghĩa là khuôn khổ pháp lý đã được mở rộng, nhưng hiệu quả thực thi phụ thuộc rất lớn vào năng lực thể chế hóa ở cấp dưới, chất lượng hướng dẫn thi hành và năng lực tổ chức thực hiện ở địa phương.
Hạn chế trong lĩnh vực văn hóa hiện nay không đơn thuần là thiếu tiền, mà là thiếu một cơ chế phân bổ và sử dụng nguồn lực đủ hiệu quả, đủ tập trung và đủ dài hạn. Đầu tư công trung hạn cho phát triển văn hóa giai đoạn 2021-2025 đạt 9.466 tỷ đồng, tăng 2,26 lần so với giai đoạn 2016-2020; ngoài ra còn có 2.728 tỷ đồng bổ sung cho một số công trình văn hóa và hơn 2.233 tỷ đồng được lồng ghép trong các chương trình mục tiêu quốc gia (Thảo Nguyên, 2022). Đây là sự gia tăng đáng kể, nhưng trên thực tế, nhiều địa phương vẫn lúng túng trong bảo tồn di sản, thiếu thiết chế cơ sở vận hành hiệu quả, và chưa hình thành được thị trường văn hóa đủ mạnh. Điều này cho thấy bài toán không chỉ nằm ở quy mô vốn, mà ở cách thiết kế chính sách, chọn ưu tiên đầu tư, gắn đầu tư với đầu ra và bảo đảm cơ chế giám sát thực chất.
Trong lĩnh vực gia đình, hạn chế lại mang tính xã hội sâu hơn và khó đo đếm hơn. Tài liệu chỉ rõ rằng chất lượng gia đình chưa thật sự bền vững; giá trị truyền thống của gia đình có nguy cơ bị mai một dưới tác động của lối sống hiện đại và mặt trái của kinh tế thị trường; tỷ lệ ly hôn có xu hướng gia tăng; bạo lực gia đình tuy giảm nhưng vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt với phụ nữ và trẻ em. Trong khi đó, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 đã được thông qua ngày 14/11/2022 và có hiệu lực từ 1/7/2023, gồm 6 chương, 56 điều, tăng 10 điều so với luật năm 2007. Như vậy, khung pháp lý đã được tăng cường đáng kể, nhưng hiệu quả thực thi vẫn phụ thuộc vào năng lực phòng ngừa từ sớm, hệ thống hỗ trợ nạn nhân, công tác truyền thông, giáo dục kỹ năng và sự phối hợp giữa gia đình, cộng đồng và các thiết chế công.
Trong lĩnh vực thể thao, những bất cập nổi bật thể hiện ở sự phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, miền; tỷ lệ người dân tập luyện thể dục thể thao thường xuyên ở một số địa phương còn thấp; hệ thống đào tạo vận động viên chưa thật sự bền vững; cơ sở vật chất ở nhiều nơi còn thiếu và chưa đồng bộ. Điều này tạo ra một nghịch lý: trong khi bề nổi của thể thao thành tích cao có nhiều điểm sáng, nền tảng thể thao quần chúng và hệ sinh thái đào tạo dài hạn vẫn còn mỏng. Gần 80% học sinh, sinh viên tham gia tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa và 100% trường phổ thông duy trì thể dục buổi sáng, giữa giờ, bài võ cổ truyền (Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, 2026), nhưng các con số đó mới phản ánh mức độ triển khai trên diện rộng, chưa đồng nghĩa với chất lượng đồng đều, tính bền vững hay khả năng chuyển hóa thành một nền thể thao mạnh ở tầm quốc gia.
Vì vậy, vấn đề đặt ra trong thể thao hiện nay là cần vượt qua mô hình phát triển nặng về thành tích ngắn hạn để đi tới một cấu trúc bền vững hơn, trong đó pháp luật phải hỗ trợ đồng thời cho thể thao học đường, thể thao quần chúng, thể thao chuyên nghiệp và kinh tế thể thao. Đồng thời, cần hoàn thiện khung pháp lý cho kinh tế thể thao, các loại hình thể thao mới như thể thao điện tử, thể thao mạo hiểm, cũng như cơ chế đãi ngộ vận động viên, huấn luyện viên, chuyên gia. Nếu khung thể chế không theo kịp sự vận động của thực tiễn, khoảng cách giữa phong trào và thành tích, giữa số lượng người tham gia và chất lượng phát triển thể thao sẽ còn kéo dài (Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, 2026).
Đối với lĩnh vực du lịch, hạn chế lớn nhất không phải là lượng khách, mà là chất lượng tăng trưởng và năng lực tạo ra giá trị đặc sắc, bền vững. Theo Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội (2026): năm 2025 du lịch Việt Nam đón 21,2 triệu lượt khách quốc tế; Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cũng công bố năm 2025 ngành Du lịch đạt khoảng 21,2 triệu khách quốc tế, 137 triệu lượt khách nội địa, tổng thu trên 1 triệu tỷ đồng. Tuy vậy, du lịch còn thiếu sản phẩm đặc sắc nổi bật; hạ tầng và chất lượng dịch vụ tại một số điểm đến chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh; quản lý điểm đến, liên kết vùng và phát triển chuỗi giá trị còn hạn chế; quảng bá xúc tiến ở một số thị trường chưa thật sự hiệu quả; chuyển đổi số mới ở giai đoạn đầu, hệ sinh thái du lịch thông minh chưa đồng bộ (Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, 2026). Điều đó cho thấy sự phục hồi mạnh chưa đồng nghĩa với sự phát triển sâu và bài toán trọng tâm hiện nay là phải chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu.
Nhìn sâu hơn, hạn chế của du lịch Việt Nam còn nằm ở chỗ mối quan hệ giữa du lịch với văn hóa chưa thực sự được tổ chức thành chuỗi giá trị bền vững. Nhiều nơi đã khai thác giá trị văn hóa, sinh thái, cộng đồng, nhưng chưa tạo được sản phẩm đủ khác biệt, đủ tinh luyện và đủ sức cạnh tranh dài hạn. Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa, văn hóa số, hệ sinh thái sáng tạo và coi văn hóa là nguồn lực nội sinh của phát triển; điều này cũng có nghĩa là du lịch không thể tiếp tục phát triển chủ yếu bằng khai thác tài nguyên tự nhiên hay mở rộng quy mô đơn thuần, mà phải dựa mạnh hơn vào hàm lượng văn hóa, công nghệ, quản trị điểm đến và năng lực kể chuyện quốc gia. Đây cũng là thước đo mới cho việc giám sát thi hành pháp luật trong lĩnh vực du lịch thời gian tới.
Từ những phân tích trên, có thể thấy nguyên nhân của các hạn chế không chỉ nằm ở từng ngành riêng lẻ mà còn ở một số điểm nghẽn chung: sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật; độ trễ giữa chủ trương lớn với các cơ chế thực hiện cụ thể; năng lực phối hợp liên ngành chưa cao; nguồn lực phân tán; nhân lực chất lượng cao còn thiếu và phương thức giám sát ở không ít nơi vẫn thiên về kiểm đếm hình thức hơn là đánh giá đầu ra chính sách. Đây chính là những nút thắt cốt lõi cần được tháo gỡ nếu muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật trong giai đoạn mới.
Những yêu cầu đặt ra đối với hoạt động giám sát và định hướng hoàn thiện trong giai đoạn mới
Từ thực trạng trên, yêu cầu đầu tiên đối với hoạt động giám sát là phải đổi mới mạnh mẽ cách tiếp cận. Giám sát việc thi hành pháp luật trong các lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch không nên chỉ dừng ở việc xem đã ban hành bao nhiêu văn bản, tổ chức bao nhiêu hội nghị hay triển khai bao nhiêu phong trào, mà cần chuyển trọng tâm sang đo lường hiệu quả thực thi, chất lượng đầu ra và tác động xã hội thực chất. Chẳng hạn, trong văn hóa, câu hỏi cần đặt ra không chỉ là có bao nhiêu thiết chế, mà là thiết chế đó có hoạt động thường xuyên, có thu hút người dân, có góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa hay không; trong du lịch, không chỉ là số lượng khách, mà là giá trị gia tăng, sức cạnh tranh điểm đến và mức độ gắn kết với văn hóa bản địa; trong gia đình, không chỉ là số lượng mô hình hay phong trào, mà là chất lượng quan hệ gia đình, năng lực phòng ngừa bạo lực và mức độ bền vững của hệ giá trị.
Yêu cầu thứ hai là phải gắn giám sát với hoàn thiện thể chế trong tinh thần phát triển mới. Nghị quyết 80-NQ/TW ban hành ngày 7/1/2026 xác định văn hóa là “nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, đồng thời nhấn mạnh các yêu cầu về hoàn thiện thể chế, phát triển công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng đầu tư cho văn hóa, bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Chương trình hành động của Chính phủ ban hành theo Nghị quyết 30/NQ-CP ngày 24/2/2026 đã cụ thể hóa các nhiệm vụ này ở cấp tổ chức thực hiện. Điều đó có nghĩa là hoạt động giám sát thời gian tới cần đặt trong một khung chiến lược lớn hơn, không chỉ xử lý những tồn tại ngắn hạn mà còn phải thúc đẩy sự hình thành các cơ chế mới, nhất là cơ chế về nguồn lực, thị trường, công nghệ và nhân lực cho các lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình.
Trong lĩnh vực văn hóa, giám sát cần tập trung vào ba trục lớn. Một là, giám sát việc tiếp tục hoàn thiện các luật, nghị định, thông tư và chính sách mới liên quan đến di sản, quảng cáo, điện ảnh, văn học, nghệ thuật và công nghiệp văn hóa; đặc biệt là các lĩnh vực chuẩn bị xây dựng luật như Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Luật Văn học, Luật về hoạt động nghệ thuật. Hai là, giám sát hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực, nhất là với Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, bảo đảm đầu tư có trọng tâm, tránh dàn trải, gắn với đầu ra cụ thể. Ba là, giám sát việc xây dựng văn hóa số, quản lý lễ hội, di sản, biểu diễn nghệ thuật và phát triển nhân lực văn hóa, bởi đây là các khâu quyết định khả năng chuyển hóa chủ trương thành kết quả thực tế.
Với lĩnh vực gia đình, yêu cầu giám sát đặt ra là phải chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu bằng phong trào sang cách tiếp cận dựa trên chỉ số, dựa trên chất lượng và dựa trên phòng ngừa từ sớm. Nghiên cứu định lượng hóa các chỉ tiêu chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; gắn “hệ giá trị gia đình” với “hệ giá trị quốc gia”; đồng thời nghiên cứu xây dựng Bộ chỉ số quốc gia về Hạnh phúc gia đình. Đây là một gợi mở rất quan trọng, bởi nếu không có thước đo rõ ràng, hoạt động giám sát sẽ khó thoát khỏi tình trạng định tính, cảm tính. Trong bối cảnh Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 đã có hiệu lực, việc giám sát cũng cần chú trọng hơn tới cơ chế hỗ trợ nạn nhân, giáo dục kỹ năng sống, tư vấn tiền hôn nhân, tư vấn tâm lý gia đình và hệ thống dịch vụ xã hội hỗ trợ gia đình.
Trong lĩnh vực thể thao, hướng giám sát cần chuyển từ tư duy “sự kiện - thành tích” sang tư duy “hệ sinh thái phát triển thể thao”. Điều đó có nghĩa là phải giám sát đồng thời việc phát triển thể thao quần chúng, thể thao học đường, thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp và kinh tế thể thao. Tài liệu đã nêu khá rõ nhu cầu xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn chuyên môn, định mức kinh tế - kỹ thuật, cơ chế đặc thù, chính sách đãi ngộ và hoàn thiện khung pháp lý cho các loại hình thể thao mới như thể thao điện tử, thể thao mạo hiểm. Vì vậy, giám sát không chỉ nhằm phát hiện bất cập, mà còn phải tạo áp lực chính sách để thể thao Việt Nam có thể chuyển từ phát triển theo từng đợt cao trào sang phát triển bền vững, chuyên nghiệp và hiện đại hơn.
Đối với du lịch, giám sát cần đi sâu vào chất lượng sản phẩm, năng lực liên kết vùng, quản lý điểm đến và chuyển đổi số. Khi ngành Du lịch đã đạt quy mô trên 21 triệu khách quốc tế và tổng thu trên 1 triệu tỷ đồng trong năm 2025, thước đo giám sát không thể chỉ dừng ở việc “phục hồi tốt” mà phải là “phát triển có chiều sâu đến đâu”. Việc thực hiện các mục tiêu phát triển du lịch theo hướng xây dựng thương hiệu quốc gia, tăng sức cạnh tranh, phát triển trung tâm dịch vụ hiện đại, logistics, cảng biển, cảng hàng không quốc tế, đào tạo nhân lực chất lượng cao cần được giám sát như những nhiệm vụ phát triển dài hạn, chứ không chỉ là các chỉ tiêu tăng trưởng ngắn hạn.
Ở tầm rộng hơn, hoạt động giám sát trong giai đoạn tới cần bảo đảm ít nhất 3 nguyên tắc: giám sát phải dựa trên dữ liệu và bằng chứng, tránh nặng về mô tả hình thức; giám sát phải gắn với trách nhiệm giải trình, nhất là trách nhiệm của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và người đứng đầu trong tổ chức thực hiện pháp luật; giám sát phải hướng tới hoàn thiện chính sách, tức là sau giám sát phải chỉ ra được cần sửa quy định nào, bổ sung cơ chế gì, ưu tiên nguồn lực ra sao và đánh giá bằng thước đo nào. Chỉ khi đó, giám sát mới thực sự trở thành một công cụ thúc đẩy phát triển, chứ không chỉ là một hoạt động hậu kiểm.
4. Kết luận
Giám sát việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể thao, du lịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng con người và văn hóa. Qua phân tích có thể thấy, những năm gần đây, hệ thống pháp luật trong các lĩnh vực này đã tiếp tục được rà soát, sửa đổi, bổ sung và từng bước hoàn thiện; nhiều kết quả tích cực đã đạt được trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, phát triển phong trào thể dục thể thao, phục hồi du lịch sau đại dịch và củng cố nền tảng pháp lý cho công tác gia đình. Quá trình thi hành pháp luật đã tạo ra những chuyển động thực tiễn đáng ghi nhận, từ gia tăng đầu tư cho văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa, đến mở rộng thể thao quần chúng, tăng trưởng khách du lịch và duy trì các phong trào xây dựng gia đình văn hóa (Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, 2026).
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó vẫn tồn tại một thực tế là khoảng cách giữa chủ trương, chính sách với hiệu quả tổ chức thực hiện còn khá rõ. Ở nhiều lĩnh vực, pháp luật tuy đã có bước tiến nhưng vẫn thiếu đồng bộ; cơ chế thực thi còn chậm được cụ thể hóa; nguồn lực phân bổ chưa thật sự hiệu quả; thiết chế ở cơ sở hoạt động chưa đồng đều; năng lực phối hợp liên ngành và chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế. Trong lĩnh vực văn hóa, đây là khoảng cách giữa yêu cầu phát triển văn hóa như một nguồn lực nội sinh với thực tế thị trường văn hóa, thiết chế văn hóa và nhân lực văn hóa còn chưa tương xứng. Trong lĩnh vực gia đình, đó là sự hiện hữu đồng thời của hành lang pháp lý tương đối đầy đủ với những thách thức xã hội ngày càng phức tạp như ly hôn gia tăng, bạo lực gia đình và nguy cơ mai một giá trị truyền thống. Trong lĩnh vực thể thao, đó là khoảng cách giữa một số thành tích nổi bật với nền tảng phát triển chưa thật sự bền vững. Trong du lịch, đó là sự chênh lệch giữa quy mô tăng trưởng với chiều sâu chất lượng và sức cạnh tranh dài hạn.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát theo hướng thực chất hơn, dựa trên dữ liệu, bằng chứng và tác động đầu ra của chính sách, thay vì dừng lại ở việc kiểm đếm văn bản hoặc mô tả phong trào. Giám sát cần hướng mạnh hơn tới việc phát hiện các điểm nghẽn thể chế, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực, làm rõ trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước và thúc đẩy hoàn thiện chính sách trên cơ sở thực tiễn. Đây cũng là tinh thần phù hợp với Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026 của Chính phủ về chương trình hành động thực hiện nghị quyết này, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, tăng đầu tư, phát triển công nghiệp văn hóa, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
Từ đó có thể khẳng định rằng, giám sát việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch không chỉ là một hoạt động hậu kiểm của quản lý nhà nước, mà phải được nhìn nhận như một công cụ quan trọng để thúc đẩy phát triển. Khi giám sát được tiến hành một cách khoa học, thực chất và gắn với trách nhiệm chính sách, nó không chỉ góp phần phát hiện sai sót hay bất cập, mà còn mở đường cho việc hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật, củng cố niềm tin xã hội và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển con người Việt Nam toàn diện trong giai đoạn mới.
____________________
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị. (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
2. Chính phủ. (2026). Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
3. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. (2026). Thông tin du lịch nổi bật năm 2025: Du lịch Việt Nam đạt kỷ lục mới.
4. Thảo Nguyên. (2022, 13 tháng 12). Đầu tư cho văn hóa cần đạt ngưỡng và tập trung. Báo Đại biểu nhân dân điện tử. https://daibieunhandan.vn/dau-tu-cho-van-hoa-can-dat-nguong-va-tap-trung-10299440.html
5. Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội (2026). Báo cáo cung cấp thông tin về kết quả giám sát thi hành pháp luật trong lĩnh vực Ủy ban phụ trách.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 5/3/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/4/2026; Ngày duyệt đăng: 29/4/2026.
PGS, TS BÙI HOÀI SƠN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 651, tháng 8/2026