Lễ hội Tràng An  Ảnh Ninh Mạnh Thắng.jpg
Lễ hội Tràng An- Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

1. Không để văn hóa dừng lại ở nhận thức đúng và chương trình đúng

Sau nửa năm triển khai Nghị quyết số 80, chúng ta có thể thấy một sự chuyển động tích cực trong toàn hệ thống chính trị. Cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương từng bước được hình thành; việc học tập, quán triệt Nghị quyết được triển khai đồng bộ; 34/34 tỉnh, thành phố đã xây dựng chương trình hành động. Nhiều văn bản quan trọng về phát triển văn hóa, hệ giá trị, hạ tầng văn hóa số và công nghiệp văn hóa đã được ban hành hoặc đang được hoàn thiện.

Đó là những kết quả đáng ghi nhận, bởi trong một thời gian dài, văn hóa dù luôn được khẳng định là nền tảng tinh thần của xã hội nhưng chưa phải lúc nào cũng được đặt ở vị trí tương xứng trong chương trình phát triển. Việc văn hóa ngày càng được đưa vào trung tâm của tư duy lãnh đạo, quản trị và hoạch định chính sách cho thấy một bước tiến quan trọng về nhận thức. Nhưng bài phát biểu không dừng ở sự ghi nhận ấy. Điều được nhấn mạnh chính là “khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình đến tác động thực tế còn lớn”. 

Đây là cách đặt vấn đề rất đúng với yêu cầu phát triển hiện nay. Bởi khó khăn lớn nhất của chúng ta trong nhiều lĩnh vực không còn nằm ở chỗ chưa có chủ trương đúng, mà ở việc chủ trương đúng ấy được tổ chức thực hiện như thế nào. Văn hóa cũng vậy. Chúng ta có thể ban hành nhiều nghị quyết, chiến lược, đề án, chương trình hành động, nhưng nếu đời sống văn hóa ở cơ sở chưa được cải thiện; nghệ sĩ, người sáng tạo và doanh nghiệp văn hóa vẫn gặp khó khăn; người dân chưa được thụ hưởng những sản phẩm văn hóa có chất lượng; và văn hóa Việt Nam vẫn chưa có sức cạnh tranh tương xứng trên thị trường trong nước và quốc tế, thì những chủ trương đó vẫn chưa hoàn thành sứ mệnh của mình.

Một chính sách văn hóa không thể chỉ được đánh giá qua số lượng hội nghị đã tổ chức, văn bản đã ban hành hay công trình đã khánh thành. Điều quan trọng hơn là chính sách ấy có tạo ra tác phẩm tốt hơn không; có làm cho người nghệ sĩ yên tâm sáng tạo hơn không; có giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư hơn không; có làm cho trẻ em hiểu hơn về lịch sử và văn hóa dân tộc không; có tạo ra thêm việc làm, doanh thu, tài sản trí tuệ và những giá trị mới cho xã hội hay không.

Nhìn từ góc độ đó, con số nguồn chi ngân sách cho văn hóa hiện mới khoảng 1,5% tổng chi ngân sách nhà nước, trong khi yêu cầu tối thiểu là 2%, không đơn thuần chỉ là một chênh lệch về tỷ lệ. Nó phản ánh khoảng cách giữa nhận thức và hành động, giữa vị trí được khẳng định của văn hóa và mức độ ưu tiên thực tế dành cho văn hóa.

Không thể nói văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội nhưng lại đầu tư cho văn hóa theo tư duy phần còn lại. Không thể xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh nhưng lại chưa dành đủ nguồn lực để đánh thức và phát huy nguồn lực ấy. Càng không thể kỳ vọng văn hóa trở thành động lực tăng trưởng nếu thiếu những đầu tư căn cơ vào con người, thiết chế, dữ liệu, công nghệ, thị trường và hạ tầng sáng tạo.

Đầu tư cho văn hóa không phải là chi tiêu cho những hoạt động bên lề của phát triển. Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho chất lượng con người, cho niềm tin xã hội, cho khả năng sáng tạo, cho bản lĩnh của dân tộc và cho sự bền vững của đất nước.

Bài phát biểu đã chỉ ra “bốn khoảng trống” lớn, qua đó giúp nhận diện rõ hơn những vấn đề mà phát triển văn hóa Việt Nam đang đối diện.

Khoảng trống đầu tiên là “sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số”. Đây là một cảnh báo không thể xem nhẹ. Ngày nay, không gian số không chỉ là nơi con người tìm kiếm thông tin hay giải trí. Đó đã trở thành không gian sống, nơi hình thành nhận thức, cảm xúc, thị hiếu, quan niệm đạo đức và lối sống. Với thế hệ trẻ, ảnh hưởng của mạng xã hội, nền tảng xuyên biên giới và thuật toán đôi khi còn mạnh hơn ảnh hưởng của các thiết chế giáo dục và văn hóa truyền thống.

Nếu văn hóa Việt Nam không hiện diện đủ mạnh trên không gian này, nếu những giá trị tốt đẹp của dân tộc không được chuyển tải bằng những hình thức hiện đại, hấp dẫn và gần gũi, thì khoảng trống đó sẽ được lấp đầy bởi những hệ giá trị khác. Khi đó, vấn đề không chỉ là sự cạnh tranh giữa các sản phẩm giải trí, mà là sự cạnh tranh về khả năng định hình nhận thức và hệ giá trị của con người.

Khoảng trống thứ hai là “năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia”. Việt Nam có một kho tàng di sản đồ sộ với hàng chục nghìn di tích, di sản phi vật thể, hiện vật, tư liệu, lễ hội, ngôn ngữ nghệ thuật, nghề thủ công và tri thức dân gian. Nhưng phần lớn kho tàng ấy vẫn chưa được tổ chức thành một hệ thống dữ liệu có thể kết nối, khai thác và tái sử dụng.

Chúng ta có nhiều di sản, nhưng chưa có một hạ tầng tri thức tương xứng với quy mô di sản. Chúng ta có nhiều chất liệu văn hóa, nhưng chưa tạo ra đủ những cơ chế để chất liệu ấy trở thành tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, khoa học, du lịch, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo.

Khoảng trống thứ ba là khoảng cách giữa vốn văn hóa phong phú với năng lực tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh. Việt Nam có nhiều câu chuyện hay, nhiều hình tượng đẹp, nhiều chất liệu độc đáo, nhưng chưa có nhiều tác phẩm và sản phẩm đủ sức trở thành biểu tượng quốc gia. Không phải chúng ta thiếu lịch sử, thiếu di sản hay thiếu tài năng sáng tạo. Điều còn thiếu là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng tài năng, kết nối sáng tạo với công nghệ, kết nối nghệ thuật với thị trường, kết nối giá trị truyền thống với ngôn ngữ đương đại.

Khoảng trống thứ tư là “thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa”. Đây có thể xem là khoảng trống có tính nền tảng. Bởi nếu không có thể chế phù hợp, dữ liệu đầy đủ, thị trường minh bạch, cơ chế tài chính linh hoạt và chính sách bảo vệ tài sản trí tuệ, thì khó có thể chuyển sức sáng tạo thành sức sản xuất mới.

Nhận diện “bốn khoảng trống” không phải để nhìn văn hóa bằng tâm thế bi quan, mà để thấy chính xác nơi cần tập trung nguồn lực. Một quốc gia chỉ có thể phát triển nhanh khi nhận diện đúng điểm nghẽn và dám tác động vào những điểm nghẽn đó.

Từ đây, bài phát biểu đã đặt ra ba chuyển dịch lớn: chuyển từ coi văn hóa là một lĩnh vực sang xác lập văn hóa là trụ cột phát triển; chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang đồng thời phát triển văn hóa trong không gian thực và không gian số; chuyển từ bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp bảo tồn với sáng tạo.

Ba chuyển dịch này cho thấy văn hóa phải vượt ra khỏi khuôn khổ của một lĩnh vực chuyên ngành để trở thành một hệ điều tiết của phát triển. Văn hóa phải hiện diện trong cách chúng ta làm kinh tế, quy hoạch đô thị, phát triển công nghệ, tổ chức giáo dục, bảo vệ môi trường và xây dựng quan hệ xã hội.

Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh, nhưng nếu làm suy giảm niềm tin, gia tăng bất bình đẳng, phá vỡ cộng đồng và làm nghèo đời sống tinh thần thì chưa thể là một nền kinh tế phát triển bền vững. Một đô thị có thể hiện đại về hạ tầng, nhưng nếu thiếu bản sắc, thiếu ký ức, thiếu không gian chung và thiếu sự gắn kết con người thì chưa phải là một đô thị đáng sống.

Đặt văn hóa vào trung tâm vì thế không phải là bổ sung thêm một vài hoạt động văn nghệ vào các chương trình phát triển. Đó là bảo đảm mỗi quyết sách phát triển đều hướng tới con người, tôn trọng giá trị, gìn giữ bản sắc và tạo dựng niềm tin xã hội.

2. Xây dựng chủ quyền văn hóa trong kỷ nguyên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo

Trong nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã phải đấu tranh để bảo vệ nền độc lập, tiếng nói, phong tục, tín ngưỡng và hệ giá trị của mình trước những sức ép đồng hóa. Nhờ sức sống bền bỉ của văn hóa, dân tộc ta vẫn giữ được bản sắc, ý chí độc lập và khả năng tự phục hồi qua nhiều biến động của lịch sử.

Ngày nay, nguy cơ đồng hóa không còn chủ yếu diễn ra bằng sức ép cưỡng bức, mà bằng sự hấp dẫn của sản phẩm, nền tảng, lối sống và các dòng nội dung xuyên biên giới. Đó là một cuộc cạnh tranh mềm, nhưng có khả năng tác động sâu sắc và lâu dài.

Dữ liệu, thuật toán và trí tuệ nhân tạo đang tham gia ngày càng mạnh vào việc định hình điều con người nhìn thấy, điều con người quan tâm và cách con người đánh giá thế giới. Một nội dung được thuật toán ưu tiên có thể tiếp cận hàng triệu người trong thời gian ngắn. Một hình tượng được lặp lại đủ nhiều có thể trở thành khuôn mẫu của thị hiếu. Một cách diễn giải lịch sử được phổ biến rộng rãi có thể ảnh hưởng đến cách cả một thế hệ nhìn nhận quá khứ.

Trong bối cảnh đó, chủ quyền văn hóa không chỉ là bảo vệ di sản vật thể, tiếng nói, chữ viết hay phong tục. Chủ quyền văn hóa còn là khả năng làm chủ dữ liệu, nền tảng, nội dung và câu chuyện về chính mình.

Nếu dữ liệu văn hóa Việt Nam nghèo nàn, phân tán, thiếu chuẩn hóa, thì không chỉ công chúng mà các hệ thống trí tuệ nhân tạo trong tương lai cũng có thể hiểu sai, hiểu thiếu hoặc tái tạo méo mó hình ảnh Việt Nam. Khi đó, câu chuyện về lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam có nguy cơ được kể chủ yếu từ những nguồn bên ngoài.

Xây dựng chủ quyền văn hóa số vì thế trước hết phải bắt đầu từ dữ liệu. Chúng ta cần những kho dữ liệu văn hóa có định danh, có nguồn gốc, có tiêu chuẩn kỹ thuật, có khả năng tìm kiếm, kết nối và tái sử dụng. Dữ liệu về tiếng Việt, lịch sử, di tích, di sản phi vật thể, hiện vật bảo tàng, thư viện, văn học, nghệ thuật truyền thống và di sản tư liệu phải được tổ chức như những tài sản chiến lược.

Nhưng dữ liệu chỉ có ý nghĩa khi được đưa vào sử dụng. Một kho dữ liệu dù lớn đến đâu nhưng bị chia cắt, khép kín, không thể chia sẻ và không phục vụ sáng tạo thì vẫn chỉ là một kho lưu trữ.

Vì vậy, bài phát biểu đã nhấn mạnh rằng số hóa không thể chỉ là chụp ảnh, quét tài liệu hay đưa thông tin lên mạng. Một di sản chỉ thực sự được số hóa khi dữ liệu về nó có thể phục vụ quản lý, giáo dục, nghiên cứu, du lịch, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo.

Đây là sự thay đổi rất quan trọng trong cách tiếp cận. Số hóa không phải là đích đến, mà là phương tiện để tạo ra giá trị mới. Không nên đánh giá kết quả số hóa bằng số lượng dữ liệu đã được đưa lên hệ thống, mà bằng khả năng dữ liệu ấy tạo ra tri thức, sản phẩm và những ứng dụng hữu ích cho xã hội.

Từ một di sản được số hóa đúng nghĩa, chúng ta có thể tạo ra bài giảng tương tác cho học sinh; xây dựng bảo tàng ảo; phát triển tuyến du lịch thông minh; thiết kế trò chơi lịch sử; sản xuất phim hoạt hình; sáng tạo thời trang, mỹ thuật ứng dụng và các sản phẩm lưu niệm; cung cấp dữ liệu cho các mô hình trí tuệ nhân tạo bằng tiếng Việt.

Di sản từ đó không còn chỉ là ký ức được lưu giữ, mà trở thành nguồn nguyên liệu cho tương lai. Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa này phải được đặt trên nền tảng tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ và quyền lợi của cộng đồng. Di sản không phải là nguồn tài nguyên vô chủ. Đằng sau mỗi làn điệu, lễ hội, nghề thủ công, tri thức dân gian là những cộng đồng đã sáng tạo, thực hành và trao truyền qua nhiều thế hệ.

Nếu doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo khai thác di sản để tạo ra lợi nhuận, thì cộng đồng, nghệ nhân và những người gìn giữ di sản phải được tham gia vào chuỗi giá trị và được hưởng lợi một cách công bằng. Chỉ khi người dân nhìn thấy lợi ích từ việc bảo tồn, họ mới có thêm động lực để gìn giữ di sản. Ngược lại, nếu di sản bị thương mại hóa mà cộng đồng đứng ngoài, bảo tồn sẽ mất đi nền tảng xã hội bền vững nhất.

Xây dựng chủ quyền văn hóa số cũng đòi hỏi chúng ta phải tạo ra một hệ sinh thái nội dung đủ hấp dẫn. Trong môi trường số, không thể bảo vệ giá trị văn hóa chỉ bằng những mệnh lệnh hành chính hay lời kêu gọi. Sức mạnh lớn nhất của văn hóa là sức hấp dẫn. Một sản phẩm văn hóa chỉ có thể lan tỏa khi chạm đến cảm xúc, phù hợp với thẩm mỹ và đáp ứng nhu cầu của công chúng.

Vì thế, điện ảnh, âm nhạc, văn học, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, thiết kế, trò chơi điện tử, hoạt hình và nội dung số phải được xem là những phương tiện quan trọng để kể câu chuyện Việt Nam.

Chúng ta không thiếu những câu chuyện có sức lay động. Lịch sử dựng nước và giữ nước, đời sống của 54 dân tộc, kho tàng truyền thuyết, văn học, âm nhạc, ẩm thực và phong tục Việt Nam là nguồn chất liệu gần như vô tận. Nhưng chất liệu chỉ trở thành sức mạnh mềm khi được chuyển hóa thành những sản phẩm có chất lượng nghệ thuật, công nghệ và truyền thông cao.

Không thể yêu cầu người trẻ yêu văn hóa dân tộc nếu những sản phẩm dành cho họ khô cứng, giáo điều và xa lạ với ngôn ngữ của thời đại. Tình yêu văn hóa không thể được áp đặt; nó phải được đánh thức bằng trải nghiệm.

Một bộ phim lịch sử hấp dẫn có thể giúp người trẻ hiểu quá khứ sâu sắc hơn hàng trăm trang sách giáo khoa khô cứng. Một trò chơi điện tử tốt có thể đưa kiến trúc, trang phục và huyền thoại Việt Nam đến với hàng triệu người chơi. Một tác phẩm âm nhạc hiện đại sử dụng chất liệu dân gian có thể làm cho những làn điệu truyền thống sống lại trong đời sống của thế hệ mới.

Điều đó đòi hỏi chính sách văn hóa phải dám đầu tư có trọng điểm. Không thể chỉ chia nhỏ nguồn lực để bảo đảm sự đồng đều hình thức. Muốn có tác phẩm lớn, sản phẩm có khả năng trở thành biểu tượng quốc gia, cần có cơ chế phát hiện tài năng, đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro sáng tạo và kết nối đội ngũ nghệ sĩ với công nghệ, doanh nghiệp và thị trường.

Đặc biệt, cần chuyển từ tư duy truyền thông một chiều sang tạo ra sự tham gia. Người trẻ không chỉ là đối tượng tiếp nhận văn hóa mà phải trở thành chủ thể sáng tạo, diễn giải và lan tỏa văn hóa. Khi người trẻ sử dụng chất liệu truyền thống để làm phim, thiết kế, âm nhạc, thời trang, trò chơi hay nội dung số, họ không làm giảm giá trị truyền thống. Ngược lại, họ đang tạo cho truyền thống một đời sống mới, miễn là quá trình sáng tạo được đặt trên nền tảng hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm.

Chủ quyền văn hóa số, vì thế, không phải là đóng cửa trước thế giới. Một nền văn hóa có bản lĩnh không sợ giao lưu. Điều quan trọng là chúng ta đủ năng lực để lựa chọn, tiếp nhận tinh hoa nhân loại và đồng thời tạo ra những sản phẩm của chính mình.

Bản sắc không phải là cái bất biến được cất giữ khỏi mọi ảnh hưởng bên ngoài. Bản sắc là khả năng hấp thụ, chuyển hóa và sáng tạo để vẫn là mình trong một thế giới luôn vận động.

3. Biến công nghiệp văn hóa thành sức sản xuất mới và động lực tăng trưởng

Nếu hai thông điệp đầu tiên tập trung vào chuyển đổi tư duy và xây dựng chủ quyền văn hóa số, thì thông điệp thứ ba có tính hành động rất rõ: phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đây là một bước tiến quan trọng trong nhận thức về văn hóa. Trong một thời gian dài, văn hóa thường được nhìn nhận chủ yếu như lĩnh vực cần ngân sách bảo trợ, như kết quả của phát triển kinh tế hoặc như một công cụ phục vụ những nhiệm vụ xã hội khác.

Ngày nay, văn hóa phải được nhìn nhận đầy đủ hơn. Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực sản xuất; vừa bồi đắp con người, vừa tạo ra sản phẩm, dịch vụ, việc làm, thu nhập và giá trị xuất khẩu.

Mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045 cho thấy kỳ vọng rất lớn. Nhưng khoảng cách từ tỷ trọng hiện tại khoảng 4% đến các mục tiêu ấy không thể được lấp đầy bằng những nhận định chung về tiềm năng. Nó đòi hỏi một hệ sinh thái đồng bộ về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực, công nghệ, đầu tư và tài sản trí tuệ.

Trước hết, cần hoàn thiện thể chế để giải phóng sức sáng tạo. Hoạt động sáng tạo luôn chứa đựng rủi ro. Không phải tác phẩm nào được đầu tư cũng thành công. Không phải sản phẩm văn hóa nào cũng có thể dự báo chính xác thị trường. Vì thế, nếu chúng ta tiếp tục áp dụng cơ chế quản lý cứng nhắc, thiên về an toàn thủ tục hơn hiệu quả sáng tạo, thì rất khó hình thành những sản phẩm đột phá.

Việc xây dựng Luật Bản quyền tác giả, Luật Hoạt động nghệ thuật, Luật Công nghiệp văn hóa và nghiên cứu Luật Văn học cần được nhìn nhận trong tinh thần đó. Mục tiêu không chỉ là có thêm các đạo luật, mà là tạo dựng một môi trường pháp lý trong đó người sáng tạo được bảo vệ, doanh nghiệp yên tâm đầu tư, tài sản trí tuệ được định giá và giao dịch, thị trường vận hành minh bạch.

Nhà nước cần chuyển mạnh từ quản lý hoạt động sang kiến tạo hệ sinh thái. Nhà nước không thể và không nên làm thay nghệ sĩ, doanh nghiệp hay cộng đồng sáng tạo. Vai trò của Nhà nước là xây dựng luật chơi công bằng, đầu tư cho hạ tầng nền tảng, hỗ trợ đào tạo, bảo vệ bản quyền, điều tiết thị trường và đặt hàng những sản phẩm có giá trị cao mà thị trường chưa thể tự bảo đảm.

Bên cạnh thể chế, vấn đề dữ liệu và đo lường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong nhiều năm, chúng ta nói nhiều đến tiềm năng công nghiệp văn hóa nhưng chưa có một hệ thống thống kê đầy đủ và thống nhất. Nếu không biết chính xác từng ngành đang đóng góp bao nhiêu, tạo ra bao nhiêu doanh thu, việc làm và giá trị xuất khẩu, thì rất khó xây dựng chính sách hiệu quả.

Yêu cầu hình thành số liệu gốc, phương pháp tính thống nhất và cơ chế công bố định kỳ trong năm 2026 thể hiện một cách tiếp cận thực chất. Phải đo được đóng góp của điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, thiết kế, quảng cáo, trò chơi điện tử, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ và các lĩnh vực khác. Phải biết địa phương nào đang có lợi thế, doanh nghiệp nào có khả năng dẫn dắt và mắt xích nào trong chuỗi giá trị đang bị bỏ trống.

Dữ liệu không chỉ phục vụ báo cáo. Dữ liệu giúp Nhà nước lựa chọn đúng chính sách, giúp doanh nghiệp nhận diện thị trường và giúp các địa phương tránh đầu tư theo phong trào.

Một thông điệp rất đáng chú ý trong bài phát biểu là yêu cầu “mỗi địa phương trọng điểm chỉ lựa chọn một số ít lĩnh vực và không quá ba dự án dẫn dắt”. Đây là tinh thần tập trung nguồn lực và tạo khác biệt. Trong phát triển công nghiệp văn hóa, không thể nơi nào cũng làm mọi thứ. Càng không thể sao chép một mô hình và áp dụng cho tất cả các địa phương.

Hà Nội có lợi thế của một Thủ đô nghìn năm văn hiến, trung tâm lớn về giáo dục, nghệ thuật, thiết kế, truyền thông và di sản. TP.HCM có sức mạnh về thị trường, công nghệ, giải trí và mạng lưới doanh nghiệp. Huế có lợi thế đặc biệt về di sản, nghệ thuật cung đình, lễ hội và cảnh quan. Đà Nẵng có khả năng kết nối du lịch, công nghệ và sáng tạo nội dung. Hải Phòng, Cần Thơ và những địa phương khác cũng cần xác định những lĩnh vực thực sự phù hợp với bản sắc, nguồn lực và thị trường của mình.

Nếu địa phương nào cũng xây phố đi bộ, trung tâm sáng tạo, lễ hội ánh sáng hay tổ hợp biểu diễn giống nhau, chúng ta sẽ tạo ra sự trùng lặp và cạnh tranh nội bộ thay vì hình thành một mạng lưới bổ trợ lẫn nhau.

Mỗi trung tâm công nghiệp văn hóa phải trả lời được mình khác gì, phục vụ thị trường nào, do chủ thể nào đầu tư, tạo ra sản phẩm gì và liên kết với địa phương khác ra sao.

Đặc biệt, mỗi dự án phải làm rõ sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ và đóng góp dự kiến vào GRDP, việc làm, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch. Đây chính là cách chuyển từ tư duy xây dựng công trình sang tư duy xây dựng hệ sinh thái và tạo ra giá trị.

Một khu công nghiệp văn hóa không thể chỉ là một khu đất với những tòa nhà đẹp. Nó phải là nơi quy tụ tài năng, doanh nghiệp, công nghệ, tài chính, đào tạo, sản xuất và phân phối. Nếu thiếu những chủ thể sáng tạo thực sự, thiếu doanh nghiệp dẫn dắt và thiếu thị trường, công trình dù hiện đại đến đâu cũng khó trở thành động lực phát triển.

Cũng cần đặc biệt coi trọng vai trò của doanh nghiệp tư nhân. Công nghiệp văn hóa không thể phát triển chỉ dựa vào ngân sách nhà nước. Chính doanh nghiệp là lực lượng có khả năng kết nối sáng tạo với công nghệ, thị trường và công chúng.

Tuy nhiên, để doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào văn hóa, cần có môi trường chính sách ổn định, minh bạch và có cơ chế chia sẻ rủi ro. Văn hóa là lĩnh vực có chu kỳ đầu tư dài, tỷ lệ rủi ro cao nhưng khả năng tạo ra giá trị lan tỏa rất lớn. Vì vậy, chính sách thuế, tín dụng, đất đai, quỹ đầu tư và hợp tác công tư cần được thiết kế phù hợp với đặc thù của công nghiệp văn hóa.

Không thể áp dụng nguyên xi tư duy đầu tư của những ngành sản xuất vật chất cho hoạt động sáng tạo. Giá trị lớn nhất của một sản phẩm văn hóa thường nằm ở bản quyền, thương hiệu, hình tượng, câu chuyện và khả năng nhân rộng, chứ không chỉ ở tài sản hữu hình.

Phát triển công nghiệp văn hóa cũng không đồng nghĩa với thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là doanh thu, mà là tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa giá trị kinh tế, giá trị nghệ thuật, giá trị xã hội và bản sắc dân tộc.

Một sản phẩm có doanh thu cao nhưng cổ súy bạo lực, lối sống lệch chuẩn hoặc làm tổn thương các giá trị cộng đồng chưa thể được xem là thành công đầy đủ. Ngược lại, một tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao nhưng không thể tiếp cận công chúng cũng khó tạo ra tác động xã hội rộng lớn.

Công nghiệp văn hóa cần tìm được điểm gặp giữa nghệ thuật và thị trường, giữa sáng tạo và trách nhiệm, giữa bản sắc dân tộc và ngôn ngữ toàn cầu. Đó cũng là con đường để văn hóa Việt Nam bước ra thế giới. Không thể quảng bá quốc gia chỉ bằng các chiến dịch truyền thông ngắn hạn. Hình ảnh một đất nước được tạo dựng bền vững nhất qua những tác phẩm, sản phẩm và biểu tượng mà công chúng thế giới tự nguyện yêu thích.

Khi một bộ phim, một bài hát, một thiết kế, một trò chơi, một món ăn hay một lễ hội của Việt Nam trở thành một phần trong đời sống của công chúng quốc tế, khi đó sức mạnh mềm được hình thành tự nhiên và bền vững nhất.

Tư tưởng “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” trong bối cảnh mới vì thế có thêm một tầng ý nghĩa. Văn hóa không chỉ soi đường bằng việc vun đắp đạo đức, nhân cách và lý tưởng, mà còn soi đường cho cách đất nước lựa chọn mô hình phát triển.

Một mô hình phát triển lấy văn hóa làm nền tảng sẽ không hy sinh con người cho tăng trưởng, không đánh đổi bản sắc lấy lợi ích ngắn hạn, không xem di sản là vật cản của hiện đại hóa và không coi sáng tạo là hoạt động bên lề.

Bài phát biểu kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đã gửi đi một thông điệp nhất quán: văn hóa phải được đưa vào trung tâm của phát triển bằng những cơ chế, nguồn lực, dữ liệu và sản phẩm cụ thể.

Đã đến lúc không chỉ nói về tiềm năng văn hóa, mà phải hình thành năng lực văn hóa. Không chỉ tự hào về di sản, mà phải biết chuyển hóa di sản thành tri thức và sáng tạo. Không chỉ bảo vệ bản sắc, mà phải làm cho bản sắc có sức hấp dẫn trong đời sống đương đại. Không chỉ coi văn hóa là nền tảng tinh thần, mà phải biến văn hóa thành sức mạnh mềm và sức sản xuất mới.

Từ di sản đến dữ liệu, từ dữ liệu đến tri thức, từ tri thức đến tài sản trí tuệ, từ tài sản trí tuệ đến sản phẩm và thị trường - đó là chuỗi chuyển hóa cần được khơi thông. Khi chuỗi chuyển hóa ấy được vận hành, văn hóa sẽ không chỉ là những giá trị được trao truyền từ quá khứ, mà còn là năng lực giúp chúng ta kiến tạo tương lai; không chỉ giúp dân tộc giữ được mình, mà còn giúp Việt Nam khẳng định vị thế trong một thế giới cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ bằng tri thức, sáng tạo và sức hấp dẫn.