Từ khóa: lời ca; ca khúc; giọng nữ cao.
Abstract: Thirteen songs about Tay Nguyen, written for the soprano voice during the two great resistance wars of the Vietnamese nation, constitute an important component of modern Vietnamese music. Lyrics, together with musical melody, are indispensable elements that contribute to shaping the artistic profile of a song. However, such a perspective reflects a mechanical view based solely on these two constituent components. In reality, beyond their essential structural role, song lyrics embody rich content and multiple layers of cultural and historical meaning. The lyrical content of these songs about Tay Nguyen are not only narrative and lyrical in nature but also strongly imbued with epic qualities, vividly reflecting themes such as love for the homeland, gratitude toward President Ho Chi Minh, praise of national heroes, the beauty of nature and human life, and the resonant spirit of victory. A thorough understanding of these layers of meaning is essential in the process of vocal study and later professional performance, as it enables singers to convey the most sincere and authentic emotions to listeners through their vocal expression.
Keywords: lyrics; song; soprano voice.
1. Đặt vấn đề
Lời ca không đơn thuần chỉ là lời được hát lên theo giai điệu âm nhạc, mà ở chiều sâu của nó là sự phản ánh những con người và cảnh quan Tây Nguyên. Do vậy khi học hát các ca khúc viết về mảnh đất này, ngoài vấn đề về âm nhạc, người học cần phải tìm hiểu, phân tích, tổng hợp; sau đó thông qua phương tiện là giọng hát biểu đạt cho được những giá trị chứa đựng trong lời ca, mà các nhạc sĩ đã gửi gắm vào từng ca khúc. Với ý nghĩa như vậy, việc nghiên cứu về đặc điểm lời ca trong các ca khúc viết về Tây Nguyên là vấn đề cần thiết, không thể thiếu trong quá trình học hát về thể loại ca khúc này.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu những đặc điểm lời ca trong các ca khúc viết về Tây Nguyên cho giọng nữ cao, bài viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như sưu tầm tư liệu để thu thập, phân loại các ca khúc. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp phân tích để nhận diện được những giá trị về văn học, thẩm mỹ có trong lời ca của ca khúc. Cuối cùng là phương pháp lịch sử học để đặt ca khúc viết về Tây Nguyên trong dòng chảy chung của dòng ca khúc cách mạng Việt Nam, từ đó khẳng định thêm tính nhất quán trong đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả
Tấm lòng của người dân Tây Nguyên với Đảng, Bác Hồ
Tây Nguyên không chỉ là vùng đất hùng vĩ với nhiều cảnh quan thơ mộng mà còn là địa bàn chiến lược quan trọng trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc ở thế kỷ XX. Trong hai cuộc kháng chiến đó, cho dù đời sống gặp vô vàn khó khăn, gian khổ, nhưng người dân Tây Nguyên vẫn một lòng sắt son tin tưởng vào cách mạng, nguyện đi theo Đảng, theo Bác Hồ tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc. Vì lòng tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chính nghĩa, nên nhiều gia đình sẵn sàng để cho người thân là chồng, con ra miền Bắc tập kết. Sự chia xa đó, tạo nên tình cảm nhớ nhung, nhưng tuyệt nhiên không phải thứ tình cảm ủy mị; mà nó được bồi đắp, xây dựng, chuyển hóa thành một niềm tin son sắt với Đảng, Bác Hồ. Em hỏi cây Kơ nia/ Gió mày thổi về đâu/ Về phương mặt trời mọc/ Mẹ hỏi cây Kơ nia/ Rễ mày uống nước đâu/ Uống nước nguồn miền Bắc (Bóng cây Kơ nia - Nhạc: Phan Huỳnh Điểu, lời: Ngọc Anh). Không chỉ có anh, mà cả mẹ và em đã thức tỉnh được ý nghĩa của cuộc cách mạng sẽ đem lại cuộc sống tự do cho đồng bào Tây Nguyên và tự nguyện đi theo cách mạng: Con giun sống nhớ đất/ Chim phí sống nhớ rừng/ Em và mẹ nhớ anh/ Uống theo nguồn miền Bắc. Lời ca thể hiện một giá trị nhân văn sâu sắc, trong bối cảnh đất nước có chiến tranh thì tình cảm gia đình, tình yêu nam - nữ luôn được đặt trong tình yêu đất nước. Đặc biệt cái triết lý: “ăn quả nhớ người trồng cây”, “uống nước phải nhớ tới nguồn” của đồng bào Tây Nguyên đã được thể hiện bằng những từ ẩn dụ trong lời ca.
Với tấm lòng tin tưởng tuyệt đối về người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, đồng bào Tây Nguyên hăng hái tham gia đánh giặc vẫn luôn một Lòng sắt son hướng theo Bác Hồ (Rừng núi Tây Nguyên chiến công hoa nở - Nhạc và lời: Chu Minh); hay Tây Nguyên ngàn năm đất nước anh hùng/ Bền vững như núi cao, như dòng sông Ba/ Giờ đây dù xa cách, lòng hướng theo Bác Hồ (Tây Nguyên bất khuất - Nhạc và lời: Văn Ký). Chính vì vậy, mỗi khi chiến thắng: Mừng sông Ba sóng nổi/ Mừng Trường Sơn rung núi/ Mừng nhân dân xông lên diệt quân thù, đồng bào Tây Nguyên lại nhờ cánh chim: Bay về miền Bắc, báo tin vui đến Bác Hồ (Cánh chim báo tin vui - Nhạc và lời: Đàm Thanh). Bởi lẽ đơn giản mà tin yêu: Ai thương, ai quý Bác Hồ bằng người Tây Nguyên/... Bác Hồ sống mãi bên ta/ Trong mỗi nhà bên nương rẫy thân yêu/ Trong điệu sáo tiếng đàn t’rưng (Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên - Nhạc và lời: Lê Lôi), Núi rừng nhớ Bác Hồ (Khúc hát
Hơ Rê - Nhạc và lời: Phan Ngọc), bởi Tây Nguyên ta uống nước, một nguồn nước cách mạng, một nguồn nước Bác Hồ (Sông Đakrông mùa Xuân về - Nhạc và lời: Tố Hải). Đến ngày chiến thắng: Rằng lòng người dân Tây Nguyên, thiết tha mong Người về thăm (Cánh chim báo tin vui - Nhạc và lời: Đàm Thanh). Trong khuôn khổ của ca khúc, lời ca không thể diễn tả hết được tấm lòng, những cung bậc tình cảm của đồng bào Tây Nguyên với vị lãnh tụ của dân tộc. Tuy nhiên, để phản ánh được giá trị nhân văn trong lời của ca khúc, vấn đề cần quan tâm là ngay trong quá trình dạy học hát, giảng viên cần phân tích để hiểu, để thấm nội dung của lời ca, giúp người học sau này khi có cơ hội sẽ truyền tải ca khúc bằng những cảm xúc chân thực đến với khán, thính giả.
Căm thù giặc sâu sắc
Yêu và căm thù là hai trạng thái đối lập trong tình cảm của con người. Giặc đến quấy phá, cướp của, giết người, hủy hoại môi trường sinh thái của Tây Nguyên hùng vĩ. Đó là những nguyên nhân tạo nên sự căm thù của đồng bào với quân xâm lược. Hòa chung với tinh thần và lẽ sống: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, đồng bào Tây Nguyên biến lòng căm thù thành những hành động cụ thể: Ngàn cây và khe suối/ Vùng lên diệt quân thù/ Giữ xóm làng êm ấm/ Cho suối đàn t’rưng reo (Tây Nguyên bất khuất - Nhạc và lời: Văn Ký). Những cô gái Tây Nguyên vốn từng quen với những điệu xoang uyển chuyển trong tiếng cồng chiêng của ngày hội, nhưng khi đất nước có chiến tranh, họ không sợ mà vừa hát, vừa vót chông rào buôn, rẫy, cùng bộ đội chủ lực giữ buôn làng thân yêu: Chân ta đi chưa nghỉ, trời chưa xanh/ Em còn vót chông nhiều làm cạm bẫy/ Quân xâm lăng gian ác bay muốn vào/ Mũi chông sẵn sàng đây, chờ bọn bay, diệt bọn bay (Cô gái vót chông - Nhạc: Hoàng Hiệp; thơ: Môlôy Clavy).
Không chỉ vót chông, mà phụ nữ Tây Nguyên còn trực tiếp đi tải đạn, dù cho vách đá cheo leo, mưa rừng, gió núi, gùi nặng trên vai, nhưng bàn chân vẫn bước nhanh, rồi cả những đêm thao thức chờ bộ đội qua buôn, qua rẫy. Khí thế đánh giặc hừng hực, không kể giới tính lứa tuổi: Những mẹ già Tây Nguyên, chắt chiu từng hạt muối/ Cả em bé Tây Nguyên/ Cũng đứng dậy diệt thù/ Nòng súng bên chông tre/ giữ bến nước, nương ngô, rừng cây/ Ta đánh Mỹ tơi bời (Tiếng cồng Plây Gi răng - Nhạc và lời: Hồ Bắc). Giặc Mỹ điên cuồng đốt cháy rừng ngùn ngụt bốc cao, chúng cùng bọn tay sai bán nước, như con thú đã cùng đường. Nào anh em ta ơi! Nào buôn làng ta ơi! Nào đồng bằng nào đô thị, thừa thắng xốc tới (Tiếng cồng giải phóng, tiếng cồng chiến thắng - Nhạc và lời: Hoàng Vân). Những công việc tưởng như bình thường, thầm lặng: Ngày đêm lái đò trên sông/ Dù gian nguy vẫn vững tay chèo/ Đò anh đưa bao người đi đánh Mỹ bao năm ròng/ Chiến tuyến đây thầm lặng, nhịp chèo lập công/ Giữa sông sâu đẩy lùi sóng dữ/ Mắt sáng ngời rực lửa căm thù (Người lái đò trên sông Pô Cô - Nhạc và lời: Cầm Phong; thơ: Mai Trang). Lòng căm thù giặc cộng hưởng với lòng yêu nước, đã tạo nên sức mạnh cho những mũi tên bật khỏi ná, nhằm thẳng đích tiến tới (Tiếng cồng giải phóng, tiếng cồng chiến thắng - Nhạc và lời: Hoàng Vân).
Lời ca phản ánh nội dung ở dạng tình cảm này, thường sử dụng nhiều động từ. Do đó, khi học hát hay lúc biểu diễn phải hiểu được không khí, bối cảnh lịch sử của ca khúc ra đời, để áp dụng vào hát từng từ sao cho rõ ràng và thể hiện đúng tính chất của câu nhạc, đoạn nhạc cũng như nội dung lời ca trong từng ca khúc.
3.2. Thảo luận
Lời ca chứa đựng nhiều biểu tượng văn hóa Tây Nguyên
Lời ca là một bộ phận không thể thiếu trong một ca khúc. Lời ca không giống như bài văn mô tả chi tiết về biểu tượng văn hóa của đồng bào Tây Nguyên. Lời ca phải là sự chọn lọc trong tư duy tính toán của người nhạc sĩ, sao cho vừa mang tính biểu tượng, vừa phù hợp với nội dung phản ánh và logic phát triển của giai điệu âm nhạc. 13 ca khúc viết về Tây Nguyên cho giọng nữ cao, so với số lượng ca khúc viết về vùng đất này tuy không nhiều, nhưng qua đó vẫn phản ánh được phần nào về những biểu tượng văn hóa của đồng bào Tây Nguyên.
Dưới cái nắng cháy thịt da và những cơn gió làm rừng già khô nẻ, những trận mưa rừng xối xả bào mòn sườn đồi, cây Kơ nia bám rễ vào đất để sống và sống bền bỉ, mãnh liệt, quanh năm không thay lá. Sức sống đó đã trở thành huyền thoại và biểu tượng văn hóa bất diệt của đồng bào Tây Nguyên. Cây Kơ nia là một trong những biểu tượng được đưa vào văn thơ, sân khấu, điện ảnh, múa và đương nhiên trong lĩnh vực âm nhạc ở mảng ca khúc cũng có. Bài Bóng cây Kơ nia (Nhạc: Phan Huỳnh Điểu; lời thơ: Ngọc Anh) là một ví dụ điển hình. Bằng cách sử dụng thủ pháp tu từ ẩn dụ, cây Kơ nia ở đây là chồng của người vợ, là con của người mẹ, sừng sững hiên ngang, nhưng vẫn tỏa bóng mát che chở cho đồng bào, người thân. Đó là văn hóa đền ơn, đáp nghĩa luôn có trong những con người chân chính.
Cồng chiêng Tây Nguyên là cầu nối tâm linh, gắn kết cộng đồng, thể hiện sức sống mãnh liệt, là biểu tượng của quyền lực và chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật. Không chỉ là nhạc cụ đơn thuần, cồng chiêng đã được nâng lên thành biểu tượng văn hóa, là thứ không thể thiếu trong cuộc sống của đồng bào Tây Nguyên. Trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống ngoại xâm của dân tộc ta ở thế kỷ XX, cồng chiêng có thêm một chức năng mới đó là chức năng kêu gọi, cổ động cho cách mạng: Tiếng cồng chiến thắng đang kêu gọi/ Tiếng cồng chiến thắng đang âm vang chín núi, mười sông/ Cương lĩnh mặt trận ta như mũi tên đang bật khỏi ná (Tiếng cồng giải phóng, tiếng cồng chiến thắng - Nhạc và lời: Hoàng Vân). Mỗi khi thắng trận: Ta hãy đánh chiêng cồng lên vang khắp núi rừng quê ta/ Tây Nguyên mừng chiến thắng lẫy lừng (Tiếng cồng Plây Gi răng - Nhạc và lời: Hồ Bắc) và Chim bay về khắp buôn làng/ Đánh chiêng rộn ba trái núi (Cánh chim báo tin vui - Nhạc và lời: Đàm Thanh). Một điều đơn giản, nhưng trở thành triết lý, muốn cho tiếng chiêng cồng bay xa và vang mãi thì: Với giáo mác trong tay/ Đứng lên diệt thù giữ lấy buôn làng (Khúc hát Hơ Rê - Nhạc và lời: Phan Ngọc).
Bên cạnh cồng chiêng, đàn t’rưng cũng là một biểu tượng của tâm hồn, tình yêu và bản sắc văn hóa đặc trưng của người dân Tây Nguyên, là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Đàn t’rưng cũng là một trong những lựa chọn của các nhạc sĩ để đưa vào ca khúc, tuy không nhiều nhưng điều này cũng góp phần làm cho ca khúc thêm đậm đà bản sắc, chỉ thông qua mấy ca từ cũng có thể nhận diện ca khúc đó viết về Tây Nguyên. Một số ca từ như: Bác Hồ sống mãi bên ta/ Trong mỗi nhà bên nương rẫy thân yêu/ Trong điệu sáo, tiếng đàn t’rưng (Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên - Nhạc và lời: Lê Lôi), hoặc Để nhân dân ta vui quanh Bác Hồ, trong tiếng đàn t’rưng vang lên (Cánh chim báo tin vui - Nhạc và lời: Đàm Thanh), Giữ xóm làng êm ấm, cho suối đàn t’rưng reo (Tây Nguyên bất khuất - Nhạc và lời: Văn Ký) hay Cho suối đàn t’rưng vang/ Vang nhiều dòng suối (Sông Đakrông mùa Xuân về - Nhạc và lời: Tố Hải).
Những con người, ngọn núi, dòng sông, dòng suối, cánh chim, đóa hoa đã trở thành biểu tượng của đồng bào Tây Nguyên. Một con người trở thành biểu tượng bất khuất và là niềm kiêu hãnh, là chỗ dựa tinh thần cho đồng bào Tây Nguyên không chỉ trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm mà cho đến ngày nay, đó là anh hùng Núp. Anh dũng nhất đánh Tây Pha Lang/ Có anh hùng là chim đầu đàn/ Gương anh Núp đánh Tây giữ làng/ Rạng soi vinh quang trời Việt Nam (Hát mừng anh hùng Núp - Nhạc và lời: Trần Quý). Đó là người lái đò đưa bộ đội sang sông, dưới làn mưa bom bão đạn của quân thù: Hỡi sông Pô Cô ơi/ Dòng sông mênh mông/ Đôi bờ cây xanh biếc/ Nước chảy xiết sâu thẳm/ Qua tháng ngày hỏi sông ơi có biết/ Anh lái đò tên gọi A Sanh (Người lái đò trên sông Pô Cô - Nhạc: Cầm Phong; thơ: Mai Trang); dòng sông Ba (Cô gái vót chông - Nhạc: Hoàng Hiệp; thơ: Môlôy Clavy); sông Đăk Krông (Sông Đakrông mùa Xuân về - Nhạc và lời: Tố Hải); dòng suối A đam, núi Chư Pông (Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên - Nhạc và lời: Lê Lôi); chim Kơ tia (Sông Đakrông mùa Xuân về - Nhạc và lời: Tố Hải; Khúc ca Hơ Rê - Nhạc và lời: Phan Ngọc); chim Chơ rao (Rừng núi Tây Nguyên chiến công hoa nở - Nhạc và lời: Chu Minh); hoa Pơ lang (Em là hoa Pơ lang - Nhạc và lời: Đức Minh; Sông Đakrông mùa Xuân về - Nhạc và lời: Tố Hải)… đã trở thành biểu tượng văn hóa bất diệt của đồng bào Tây Nguyên.
Những từ phụ trong lời ca
Nhiều ca khúc Việt Nam, ngoài những từ chính còn có từ phụ. Thường thì các từ chính, phụ kết hợp với nhau có nhiệm vụ bổ trợ, giúp giai điệu âm nhạc thêm hoàn thiện. Với ca khúc viết về Tây Nguyên nói chung và viết cho giọng nữ cao nói riêng, trong lời ca xuất hiện khá nhiều từ phụ, ngoài chức năng như vừa đề cập, còn mang một ý nghĩa khác, đó là biểu hiện sự kế thừa từ trong các bài dân ca của một số tộc người ở Tây Nguyên. Xin được lấy ba trong nhiều ví dụ về từ phụ trong dân ca của ba tộc người như sau:
Bài Mùa Xuân đi xúc cá (dân ca Ba Na; người hát: Phi Om; sưu tầm - ghi âm - phỏng dịch: Lê Toàn Hùng) có lời: Ê! vang a chép chac dỏ rơ vang chep grang a do rơ dâu/ Dang ơ mang trâu mang pơ rư dang ơ ơ dỏi oi... (Ê! ra ngoài suối hỡi bạn ơi/ Ngăn nước rốn ta cùng vui ơ. Nào xúc nào với cho nhanh bạn ơi, cá quanh quẩn nơi bàn chân...) (Lê Xuân Hoan, 2014, tr.256). Bài Mùa gặt (dân ca Gia Rai; người hát: Phạm Thị Hạnh; sưu tầm - ghi âm - phỏng dịch: Lê Toàn Hùng), lời ca cũng có từ phụ: Ơ! Vơ là mơ nay Ltam thu tam dơ ma nay/ Thu tam doa dơ la mơ nay dơ la mơ nay dơ... (Ơ! Chị em ta nhìn lá biếc kia tràn cây rừng/ Cùng rộn rã bước về rẫy nương, rẫy nương bao la...) (Nhiều tác giả, 2006, tr.86). Bài Sáng trong buôn (dân ca Ê Đê; Sưu tầm - ghi âm: Nhật Lai), có sử dụng từ phụ: Ớ! Giut in Rin dậy mau sáng rồi em ơi!/ Ớ! Giut in Rin dậy mau sáng rồi em à... (Đỗ Tuấn, 2011, tr.102). Ngoài từ phụ như ê, ơ, ớ... còn có: Tu lêu, pơ rơ tốc... đây là những từ bắt chước tiếng các loài chim của núi rừng Tây Nguyên.
Những từ phụ được các nhạc sĩ chọn lọc đưa vào ca khúc viết về Tây Nguyên có thể xuất hiện ở ngay câu đầu với vai trò như một tính hiệu dẫn dắt: Ê lêu tu lều/ Mùa Xuân đến với buôn làng (Khúc ca
Hơ Rê - Nhạc và lời: Phan Ngọc). Ê! con chim Nhông con chim Kơ tia, con Công tung cánh (Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên - Nhạc và lời: Lê Lôi); Ê! pơ rơ tốc, pơ rơ tốc, chim ơi vì cớ chi/ Chim hót lên lời ca từng bừng (Cánh chim báo tin vui - Nhạc và lời: Đàm Thanh). Hoặc ở giữa ca khúc với vai trò là cầu nối, kết nối giữa các câu nhạc hoặc đoạn nhạc, ví dụ các từ phụ trong trường hợp này là: Ơ ớ. Trống dục ta đi lên (Rừng núi Tây Nguyên chiến công hoa nở - Nhạc và lời: Chu Minh); Ê! Tiếng cồng giải phóng đang kêu gọi (Tiếng cồng giải phóng, tiếng cồng chiến thắng - Nhạc và lời: Hoàng Vân); Ê ê! Theo gió bay xa đến với làng buôn (Khúc ca Hơ Rê - Nhạc và lời: Phan Ngọc); Ê chân ta đi chưa nghỉ trời chưa xanh/ Em còn vót chông nhiều làm cạm bẫy (Cô gái vót chông - Nhạc: Hoàng Hiệp; lời thơ: Môlôy Clavy); Ê, ê pơ rơ tốc, pơ rơ tốc, pơ rơ tốc hỡi cô nàng mến yêu/ Khắp Tây Nguyên bùng lên rồi (Cánh chim báo tin vui - Nhạc và lời: Đàm Thanh).
Các từ phụ cũng có thể xuất hiện ở câu kết của ca khúc: Rừng núi của ta mùa Xuân tươi đẹp/ Ê lêu ê tu lêu (Khúc ca Hơ Rê - Nhạc và lời: Phan Ngọc); Rừng núi vang lên lời ca anh hùng ơ (Rừng núi Tây Nguyên chiến công hoa nở - Nhạc và lời: Chu Minh); Vui quá nên chim vang lời ca T’ra t’ra t’ra Ê....
(Cánh chim báo tin vui - Nhạc và lời: Đàm Thanh); Cho tiếng đàn t’rưng reo, ơ (Tây Nguyên bất khuất - Nhạc và lời: Văn Ký). Từ phụ còn xuất hiện ở câu coda: Ơ như bóng cây Kơ nia/ Như gió cây Kơ nia (Bóng cây Kơ nia - Nhạc: Phan Huỳnh Điểu; thơ: Ngọc Anh).
4. Kết luận
Lời ca ngoài tư cách là một bộ phận không thể thiếu của ca khúc, nó còn hàm chứa những đặc điểm riêng về nội dung. Trong những ca khúc viết về Tây Nguyên được lựa chọn cho sinh viên giọng nữ cao, đặc điểm nội dung lời ca phản ánh sự đa dạng về cuộc sống của đồng bào trong hai cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, trong sự đa dạng ấy, nổi bật hơn cả là: tấm lòng của người dân hướng về Đảng, Bác Hồ kính yêu; lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết tâm chiến đấu với kẻ thù xâm lược bảo vệ buôn làng. Một nội dung (có thể coi là đặc điểm) trong lời ca là: dùng những biểu tượng văn hóa cũng như kế thừa một số từ phụ trong các bài dân ca Tây Nguyên để đưa vào ca khúc. Đó là những đặc điểm nổi bật để nhận diện ca khúc viết về Tây Nguyên với ca khúc viết về vùng miền khác. Thông qua lời ca, có thể thấy được phần nào giá trị về lịch sử, văn hóa của đồng bào Tây Nguyên được phản ánh trong ca khúc. Điều đó đặt ra một vấn đề là: trong quá trình học hát, người học phải hiểu được nội dung trong lời ca, nhận biết và thẩm thấu được các giá trị mà lời ca mang lại. Khi đó họ không chỉ biết hát bằng kỹ thuật, mà hát bằng hiểu biết với sự mẫn cảm của trái tim, để truyền tải những giá trị có trong ca khúc đến với công chúng.
_______________________
Tài liệu tham khảo
1. Lê Xuân Hoan. (2014). Tìm hiểu thang âm - điệu thức trong âm nhạc dân gian Bahnar. Nhà xuất bản Âm nhạc.
2. Nhiều tác giả. (2006). Dân ca Việt Nam - Những làn điệu dân ca tiêu biểu. Nhà xuất bản Âm nhạc.
3. Đỗ Tuấn. (2011). Tuyển chọn Dân ca Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.
4. Nhiều tác giả. (1975). Tiếng hát Việt Nam tập I (1930-1963). Nhà xuất bản Văn hóa.
5. Nhiều tác giả. (1977). Tiếng hát Việt Nam tập II (1964-1975). Nhà xuất bản Văn hóa.
6. Nhiều tác giả. (2000). 100 ca khúc chào thế kỷ. Nhà xuất bản Thanh niên.
7. Nhiều tác giả. (2002). Hát mãi khúc quân hành. Nhà xuất bản Thanh niên - Công ty Bản quyền Việt Nam.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 25/2/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 3/3/2026; Ngày duyệt bài: 25/3/2026.
Ths NGÔ THỊ THANH HUYỀN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026