
Bác Hồ xuất dương tìm đường cứu nước
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Năm 1885, Kinh đô Huế thất thủ, nước ta rơi vào tay thực dân Pháp. Những con đường cứu nước theo kiểu cũ như phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, phong trào Đông Kinh Nghĩa thục, phong trào Duy Tân, khởi nghĩa Yên Thế, khởi nghĩa Yên Bái… không còn phù hợp. Lịch sử dân tộc đòi hỏi phải có một con đường cứu nước mới.
Ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã lên tàu L'Admiral Latouche Trévill của Pháp với vai trò phụ bếp, rời bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) ra nước ngoài tìm đường cứu nước.
Trên hành trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến các nước tư bản: là Pháp, Mỹ, Anh và các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ… Người đã nghiên cứu một số cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu nhất thời cận đại. Bằng cả lý luận và thực tiễn, Người nhận ra bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa phương Tây “trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(1) và kết luận: “cách mệnh tư bản là cách mệnh chưa đến nơi”(2).
Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn cờ của Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp với “Bản yêu sách của Nhân dân An Nam” (ký tên Nguyễn Ái Quốc) gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles vào ngày 18/6/1919, đòi chính phủ Pháp ân xá các tù chính trị, thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Năm 1919, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia Đảng Xã hội Pháp. Trong các cuộc họp chi bộ, Người thường xuyên tố cáo những tội ác của chủ nghĩa thực dân, kêu gọi các đồng chí của mình giúp đỡ cách mạng ở thuộc địa.
Qua nghiên cứu Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Lúc ấy, Người vô cùng xúc động: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(3). Sau đó, từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần Người đã hiểu được rằng “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(4).
Vào ngày 30/12/1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tours, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng những người chủ trương gia nhập Quốc tế Cộng sản tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản. Từ giây phút ấy, Người đã trở thành người chiến sĩ cộng sản quốc tế.
Từ năm 1921 đến tháng 6/1923, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia dự Đại hội lần thứ I và lần thứ II của Đảng Cộng sản Pháp, tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa (1921) và đến năm 1922 ra tờ báo “Người cùng khổ” làm cơ quan ngôn luận hội này.
Trong Đại hội II Đảng Cộng sản Pháp, D.Manuinxki (Trưởng Ban thuộc địa của Quốc tế Cộng sản) thay mặt Quốc tế Cộng sản dự Đại hội đã thấy rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng thuộc địa có nhiệt tình, hăng hái, có những đề xuất táo bạo, sáng tạo về cách mạng thuộc địa. D.Manuinsky đã đề xuất và giới thiệu Người với Quốc tế Cộng sản và Quốc tế Cộng sản đã mời Người sang công tác tại Matxcơva.
Sau đó, tháng 6/1923, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang Liên Xô và theo học Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông. Trường thành lập tại Mátxcơva của nước Nga Xô viết năm 1921, theo quyết định của Quốc tế Cộng sản, nhằm mục đích đào tạo cán bộ cách mạng trước hết cho các nước phương Đông thuộc nước Nga Xô viết và các nước thuộc địa và phụ thuộc. Tại đây, các học viên được trang bị những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng. Trong thời gian học tập, học viên sẽ được học các môn quan trọng như chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị, lịch sử phong trào công nhân quốc tế, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc…
Tháng 10/1923, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham dự Đại hội lần thứ nhất Quốc tế Nông dân do Quốc tế Cộng sản tổ chức tại thủ đô Mátxcơva của Liên Xô. Tại Đại hội, Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân gồm 11 ủy viên.
Sau sự kiện này, phóng viên Osip Mandelstam của Tạp chí Ngọn lửa nhỏ (Ogoniok) đã được tòa soạn phân công phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kết quả của cuộc phỏng vấn này là bài báo “Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản - Nguyễn Ái Quốc” đăng trên Tạp chí “Ngọn lửa nhỏ” số 39 ra ngày 23/12/1923.
Vào tháng 6/1924, tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Ủy viên Đông phương Bộ, phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế Cộng sản. Tiếp đó, Quốc tế Cộng sản đã cử Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Quảng Châu (Trung Quốc) công tác nhằm xúc tiến mọi điều kiện để xây dựng một tổ chức cộng sản ở Đông Dương và giúp đỡ các đại biểu cách mạng ở các nước Đông Nam Á.
Sau khi về hoạt động ở Trung Quốc vào tháng 11/1924, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn và cử nhiều cán bộ Việt Nam sang học tại trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông. Nhiều đồng chí sau này đã trở thành những cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai… Bên cạnh đó, Người đã tham gia lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức (1925) và sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925).
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc. Phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin…”(5). Đảng cách mạng đó được Người sáng lập ngày 3/2/1930 với tên gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1934-1938, tại Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh theo học Trường Quốc tế Lênin và sau đó làm việc tại Viện nghiên cứu dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản. Người được Ban Chỉ huy ở ngoài và Ban Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ định là đại diện của Đảng ở Quốc tế Cộng sản. Người cũng tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tổ chức từ ngày 25/7 đến ngày 20/8/1935 tại Mátxcơva. Tháng 8/1938, Người không chọn con đường trở thành cán bộ giảng dạy của Quốc tế Cộng sản mà xin trở về nước.
Bác Hồ về nước chuẩn bị cho việc giành độc lập
Ngày 22/6/1940, nước Pháp rơi vào tay phát xít Đức. Tiếp đó, tháng 9/1940, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp đã đầu hàng phát xít Nhật với thỏa thuận hợp tác cùng bóc lột Nhân dân ta.
Trước tình thế thống khổ không chịu nổi nên khắp cả nước đã diễn ra những cuộc khởi nghĩa. Tiêu biểu nhất: Khởi nghĩa Bắc Sơn (nổ ra ở tỉnh Lạng Sơn, từ ngày 27/9 đến ngày 28/10/1940), khởi nghĩa Nam Kỳ (nổ ra ở 20/21 tỉnh, thành phố ở Nam Kỳ, kéo dài từ ngày 22/11 đến 31/12/1940), binh biến Đô Lương (nổ ra ở tỉnh Nghệ An vào ngày 13/1/1941), là “những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương”(6).
Trong bối cảnh đó, tại Côn Minh (Trung Quốc), Hồ Chí Minh đã triệu tập cuộc họp Ban hải ngoại của Đảng. Người phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ”(7). Đến ngày 28/1/1941 (ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ), Người đã về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Từ ngày 8/2/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc tại hang Cốc Bó ở xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Tại đây, Người đã đặt tên cho con suối gần lán Khuổi Nặm, nơi ở và làm việc của Người là suối Lê Nin. Ngọn núi cao sừng sững soi bóng xuống dòng suối trong xanh là núi Các Mác. Trên một chiếc bàn đá, Người đã dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô để làm tài liệu hoạt động cho cách mạng Việt Nam. Những điều này thể hiện tư tưởng, mục tiêu, đường lối và niềm tin của Người vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại.
Sau một thời gian chuẩn bị, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại lán Khuổi Nặm (Pác Bó) từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941. Hội nghị khẳng định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống Pháp - Nhật với tên gọi Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để thực hiện việc đại đoàn kết toàn dân tộc chống ngoại xâm và giành lại độc lập dân tộc.
Bên cạnh đó, công tác xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng. Những trung đội Cứu quốc quân lần lượt ra đời: Trung đội Cứu quốc quân I được thành lập vào ngày 14/2/1941, Trung đội Cứu quốc quân II được thành lập vào ngày 19/5/1941, Trung đội Cứu quốc quân III ra đời vào 5/2/1944. Mặt khác, cuối năm 1941, Người còn quyết định thành lập Đội tự vệ vũ trang Pác Bó để chuẩn bị cho xây lực lượng vũ trang nhân dân và thúc đẩy cơ sở chính trị phát triển. Người còn tổ chức các lớp tập huấn chính trị, quân sự, biên soạn các tài liệu về đánh du kích… Tiếp đó, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập vào ngày (22/12/1944). Sau Việt Nam Giải phóng quân được thành lập vào ngày 15/5/1945 trên cơ sở thống nhất từ các đơn vị Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân cùng các tổ chức vũ trang cách mạng tập trung của cả nước Việt Nam. Đây chính là lực lượng sẽ làm nhiệm vụ đấu tranh vũ trang giành chính quyền về tay Nhân dân.
Năm 1941, sau khi về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa dựa trên cơ sở lực lượng chính trị được tổ chức và phát triển. Tiếp đó, thực hiện chỉ thị của Người, ngày 4/6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập bao gồm hai căn cứ lớn trên địa bàn 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên và một số vùng thuộc ngoại vi tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái. Tân Trào được chọn là Thủ đô lâm thời của Khu giải phóng. Với 1 triệu người gồm nhiều dân tộc khác nhau, Khu giải phóng Việt Bắc đã thực sự là “hình ảnh nước Việt Nam mới”, cùng với hệ thống các chiến khu trong cả nước tạo thành hậu phương và bàn đạp cho thế trận Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong tháng 8/1945.
Đến khi Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), tuy thời cơ đã xuất hiện, song Đảng ta vẫn chưa quyết định phát lệnh tổng khởi nghĩa, bởi do cuộc đảo chính diễn ra quá nhanh, các tầng lớp đứng giữa chưa ngả hẳn về cách mạng, đội tiên phong còn đang lúng túng về chuẩn bị khởi nghĩa. Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12/3/1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã đề ra một Cao trào kháng Nhật cứu nước để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Cao trào ấy bao gồm từ hình thức bất hợp tác, bãi công, bãi thị cho đến những hình thức cao hơn như biểu tình thị uy vũ trang, du kích… Chỉ thị cũng nêu rõ nơi nào thấy so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng thì tiến hành khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng bộ phận và “sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện”(8).
Vào ngày 29/3/1945, Hồ Chí Minh gặp tướng Claire Chennault, Tư lệnh Không đoàn số 14 của Mỹ, cũng là người đại diện cao nhất của Đồng minh ở vùng miền nam Trung Quốc để thỏa thuận sự hợp tác chống phát xít Nhật ở Đông Dương. Đây là quyết định sáng suốt của Người vì đã tranh thủ được lực lượng Đồng minh trong cuộc đấu tranh chống phát xít của dân tộc ta.
Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật. Ngày 9/8/1945, quân đội Liên Xô từ bốn hướng ồ ạt tấn công Đạo quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu (Đông Bắc Trung Quốc). Trong khi đó, Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô cũng đổ quân vào Bắc Triều Tiên, tấn công miền Nam đảo Sakhalin và quần đảo Kurin.
Nắm chắc Liên Xô tấn công phát xít Nhật sẽ khiến nước Nhật sẽ đầu hàng Đồng minh, Hội nghị Đại biểu toàn quốc của Đảng đã họp ở Tân Trào từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945 đã quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương.
Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Ngày 16 và 17/8/1945, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng. Nghị quyết Quốc dân Đại hội nhấn mạnh: “Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập. Nhiều sự gay go trở ngại sẽ xảy ra. Chúng ta phải khôn khéo và kiên quyết. Khôn khéo để tránh những sự không có lợi cho ta. Kiên quyết để giành cho được nếu hoàn toàn độc lập”(10). Quốc dân Đại hội Tân Trào cũng đã thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam.
Trong Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa (18/8/1945), chỉ rõ: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(10). Do đó, với 5000 đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật nhào sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân đế quốc và phong kiến.
Như vậy, chiến thắng của phe Đồng minh trước phe phát xít đã tạo thời cơ để Việt Nam giành độc lập. Tuy nhiên, cần có sự chuẩn bị từ trước thì mới có đủ lực lượng để đón nhận thời cơ này. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tính toán một cách kỹ lưỡng và chu toàn ngay sau khi Người về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Đó là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến”(11). Người nhấn mạnh: “Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội”(12).
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta kháng chiến chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Do đó, Việt Nam đã trở thành ngọn cờ cổ vũ cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, khi thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Người khẳng định: “xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là xây dựng đời sống no ấm và hạnh phúc cho Nhân dân”(13). Người nêu rõ: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc thì chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho Nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc”(14), “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho Nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(15) và “Chế độ cộng sản là ai cũng no ấm, sung sướng, tự do; ai cũng thông thái và có đạo đức. Đó là một xã hội tốt đẹp vẻ vang”(16).
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đóng góp quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin. Phát biểu tại Hà Nội vào ngày 12/9/1973 trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên, Chủ tịch Cuba Fidel Castro nhấn mạnh: “Sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp giải phóng xã hội là hai điểm then chốt trong học thuyết của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thấy rằng các dân tộc lạc hậu do sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân có thể có những bước nhảy vọt trong lịch sử và xây dựng nền kinh tế của mình theo con đường xã hội chủ nghĩa, không phải trải qua sự hy sinh và những nổi kinh hoàng của chủ nghĩa tư bản… Chúng tôi nghĩ rằng tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới sẽ tìm thấy trong cuộc đời đồng chí Hồ Chí Minh, trong tư tưởng chính trị của Người, trong quan điểm chiến thuật và chiến lược trong sáng của Người, một nguồn tri thức vô cùng phong phú để giải quyết những vấn đề của bản thân mình”(17).
Đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiến sĩ M.Ahmed, Giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nhận định: “Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân loại bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại mang lại viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”(18).
Trong bài viết “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” nhân kỷ niệm 135 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Không chỉ là lãnh tụ vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặt nền móng vững chắc cho tương lai của đất nước bằng tư tưởng và tấm gương đạo đức cao cả của mình... Cốt lõi của tư tưởng ấy là khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu cuối cùng là đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân…”(19). Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: “Học tập Bác, toàn Đảng, toàn dân ta càng nêu cao ý chí tự lực tự cường, khát vọng vươn lên, đổi mới sáng tạo để đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chính tinh thần dám nghĩ, dám làm, hết lòng vì nước vì dân của Bác đã và đang truyền lửa cho thế hệ hôm nay quyết tâm thực hiện những mục tiêu, khát vọng lớn, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển hùng cường trong tương lai”(20).
______________________________
Chú thích:
(1). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2000, tr. 268.
(2). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 270.
(3). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 127.
(4). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 228
(5). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 304.
(6). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 109.
(7). Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.99.
(8). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 367.
(9). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 526.
(10). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 596.
(11). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 544.
(12). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia.
(13). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 293.
(14). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 17.
(15). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 438.
(16). Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 294.
(17). Nhiều tác giả, “Fidel Castro và Việt Nam: Những kỷ niệm không quên, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2020, tr. 66-69.
(18). UNESCO và ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Trích tham luận của đại biểu quốc tế), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.37.
(19). Tô Lâm, “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 18/5/2025.
(20). Tô Lâm, “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 18/5/2025.
NGUYỄN TOÀN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 631, tháng 1-2026