Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Vân (2).jpg

Tôi lớn lên trong vòng tay ông bà nội. Lí do là mẹ sinh liền tù tì ba anh em năm một, nên vừa tròn 1 tuổi thì bà nội đã đón lấy tôi, và mẹ có thể rảnh tay với hai đứa em.

Sau đó là những năm sơ tán chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, ông bà nội và tôi sơ tán theo Viện Văn học về Hà Bắc vì ông nội là cán bộ của Viện, mẹ tôi lúc đó là giáo viên nên cùng hai em về dạy học tại Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc theo phân công. Bố cũng đi làm ở Viện và với một chiếc xe đạp Nga cũ Spút- nhik – kết quả của chuyến công tác Liên Xô 6 tháng – giúp ông có thể đạp đi lại giữa hai vùng yêu thương.

Tôi lớn lên trong sự chăm sóc của ông bà. Gần với ông bà hơn bố mẹ. Trong thế giới này, tôi như một Hoàng tử bé, được cưng chiều hết mực. Đến bây giờ tôi vẫn cảm thấy mùi thơm thoang thoảng từ hương vị trầu cau bà nhai mỗi tối. Tôi nằm co quắp trong lòng bà, nghe bà rủ rỉ kể chuyện cổ tích. Mùi thơm trầu cau ngai ngái nồng nàn bao phủ, tôi như con tằm trong cái kén, an yên thiếp đi bởi sự bảo vệ của mùi thơm đặc biệt ấy.

Những đứa trẻ không bao giờ tự hỏi bố mẹ từ đâu đến, ông bà từ đâu đến, vì đơn giản họ chính là hơi thở cuộc sống của chúng. Dường như chúng chỉ nhìn về phía trước, ít khi ngoái lại phía sau. Sau này, trong một lần về quê ăn giỗ, tôi được nghe bà cô kể lại mối tình của ông bà nội.

Nguyên là ông nội tôi sinh ra trong một gia đình sĩ phu tại Nghi Lộc, Nghệ An. Ông cố (thân sinh ra ông nội), là chí sĩ Hoàng Trọng Mậu (Nguyễn Đức Công), sau khi đỗ đầu xứ, thường gọi là đầu xứ Công, không chịu nhìn cảnh đất nước chìm đắm trong vòng nô lệ của ngoại bang, đã từ quan và tham gia phong trào Đông Du, nuôi chí phục quốc.

Ông nội tôi là con thứ hai, trước ông có một anh trai, tên Hinh. Ở mảnh đất Nghệ An này có lúc nào ngọn lửa yêu nước không rừng rực, có lúc nào sông Lam không thôi thao thức. Sau khi ông bố xuất dương cùng Phan Bội Châu vào một ngày tháng sáu nóng nực thì người anh trai của ông nội tôi cũng gia nhập một nhóm hoạt động bí mật ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Đội Cung. Nhóm này có bà Thanh (chị Bác Hồ), một anh đầu bếp và ông Hinh. Anh đầu bếp (do thạo đường vì từng phục vụ ở đó) nên đã lẻn vào doanh trại lính Pháp, lấy trộm một số vũ khí, chuyền ra cho các đồng chí ở ngoài. Sự việc bị lộ, anh đầu bếp bị tử hình. Bà Thanh phải đi tù. Ông Hinh cũng tuẫn tiết. Vào thời gian ông Hinh hy sinh, cũng là lúc chí sĩ Hoàng Trọng Mậu bị Pháp bắt và xử bắn tại Bạch Mai, sau cuộc tấn công bất thành ở đồn vào đồn biên phòng của lính Pháp ở Tà Lùng (Cao Bằng) năm 1915.

Cụ Nguyễn Đức Vân và cụ bà trong đám cưới con trai (nhà thơ Anh Ngọc). 
Ảnh: Tư liệu của nhà thơ Anh Ngọc
Cụ Nguyễn Đức Vân và cụ bà trong đám cưới con trai (nhà thơ Anh Ngọc). - Ảnh: Tư liệu của nhà thơ Anh Ngọc

Nỗi đau trùng nỗi đau, bà cố (vợ ông Hoàng Trọng Mậu) cho gọi con dâu đến (Ông Hinh trước khi mất đã có vợ, nhưng chưa sinh cháu). Bà buồn bã, mắt ngấn lệ, nói:

- Con trai ta đã mất vì việc nước và không may các con thì chưa kịp có cháu. Cũng là việc mẹ rất buồn. Nhưng bây giờ để con cứ sống thế này thì tội, mà con còn trẻ, con vẫn có thể lập gia đình mới. Vậy ta đồng ý cho con đi bước nữa tìm hạnh phúc. Nhưng để không mất tình nghĩa và giữ kết nối giữa hai gia đình, giữa hai dòng họ từng thân thiết, nên ta mong muốn em trai của Hinh sẽ lập gia đình với em gái con. Ý con thế nào?

Ở trong nhà, ý bà cố tất nhiên là mệnh lệnh cao cấp nhất. Một mệnh lệnh có tình có lý. Bản thân bà cũng là một “địa chỉ đỏ” của nghĩa quân mà nhiều lần bọn Pháp đến dò xét.

Và thế là bà nội tôi về làm dâu họ Nguyễn Đức. Một dòng họ có những tài danh về văn chương của đất nước. Và không chỉ làm văn chương mà còn có nhiều nhà cách mạng và trí thức, một dòng họ luôn trăn tở về số phận của dân tộc. Có những người nổi tiếng văn chương như Hoài Thanh, Hoài Châu, có người từng là bạn học của Tạ Quang Bửu tại Pháp rồi sau được Hồ Chủ tịch làm Viện trưởng Viện Pax-tơ (1945).

Việc bà nội tôi đến làm dâu dòng họ tựa như đứa con xa trở về chính ngôi nhà thân thiết của mình. Dường như bà từ ngôi nhà này sinh ra. Hòa mình, thân ái, khiêm nhường với mọi người. Không hề tự ti giữa những người họ hàng nổi tiếng vì họ Trần ở Nghi Thuận của bà cũng là nơi sản sinh ra các vị tướng như Trần Văn Quang, Hoàng Đan v.v…

Do gia đình có người tham gia chống Pháp và bị xử tử nên ruộng vườn bị tịch thu, kinh tế lâm vào khó khăn nên lúc thiếu thời ông nội tôi tình nguyện không đi học, để dành tiền cho hai em trai đến trường. Những lúc đi chăn trâu, ông thường đứng ngoài cửa lớp, nghe trộm bài giảng của giáo viên.

Hai người em của ông nội sau đều thành tài. Một là ông Nguyễn Đức Tịnh học trường Bách Nghệ ở Huế, rồi làm Bí thư Tân Việt cách mạng Đảng ở đây vào những năm 1928, 1929. Hiện, Huế có một con đường mang tên ông để ghi nhớ những đóng góp cho cách mạng của ông. Đặc biệt, Huế cũng có một đường mang tên Hoàng Trọng Mậu là thân phụ ông. Như vậy Huế là thành phố có những con đường mang tên cha và con. Người em út là ông Nguyễn Đức Bính, tốt nghiệp Cao đẳng và ra Hà Nội làm báo cùng Ngô Tất Tố, Vũ Bằng… Do can tội viết bài chống Pháp nên bị chính quyền trục xuất về Vinh. Tại Vinh, ông Bính làm chủ bút hai tờ báo tiếng Pháp với ý định tuyên truyền cách mạng trong tầng lớp Pháp kiều. Đồng thời ông cũng mở trường tư thục Lễ Văn danh giá ở đây. Thù nhà nợ nước, ông nội tham gia sớm và là Chủ tịch Việt Minh đầu tiên của xã Nghi Trung vào tháng 8/1945.

Bìa sách Cha tôi Nguyễn Đức Vân 
và bìa sách Thơ văn Lý Trần
Bìa sách Cha tôi Nguyễn Đức Vân 
và bìa sách Thơ văn Lý Trần

Kết quả cuộc hôn nhân “sắp đặt” của ông bà tôi có bốn người con. Bố tôi – con đầu – PGS Nguyễn Đức Đàn, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật (nay là Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật), nguyên Hiệu trưởng trường viết văn Nguyễn Du. Người con thứ hai là cô Nguyễn Thị Thâm, nguyên Phó Hiệu trưởng trường cấp ba Yên Hoà, Hà Nội. Người con thứ ba là chú Nguyễn Đức Tâm, kỹ sư địa chất tại Moskva (năm 1960) và chú út là nhà thơ Anh Ngọc.

Năm 1960, ông nội tôi thôi công tác ở huyện mà chuyển ra Hà Nội làm biên dịch chữ Hán ở Viện Văn học. Ông đi bà cũng đi theo để bế cháu. Trong mấy chục năm ông đã dịch rất nhiều tác phẩn Hán văn như: Thơ văn Lý – Trần, Hồng Lâu Mộng, Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Tùy Viên thi thoại, Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn…. Ông được coi là một trong những dịch giả hàng đầu chữ Hán cổ của Viện Văn học.

Có thời điểm, GS Đặng Thai Mai – Viện trưởng Viện Văn học giao cho cụ Bùi Kỷ công việc khảo cứu lại Truyện Kiều bản tiếng Hán. Cụ Bùi Kỷ đỗ Phó bảng năm 1909, từng du học Pháp và là thầy dạy ông Đặng Thai Mai ở trường Cao đẳng Sư phạm. Mỗi lần gặp cụ Bùi Kỷ, GS Đặng Thai Mai vẫn đứng chắp tay: “Thưa thầy…” theo nghi lễ tôn ti. Được 6 tháng cụ Bùi Kỷ qua đời vì tuổi cao, GS Đặng Thai Mai bèn giao lại nhiệm vụ đó cho ông nội tiếp tục (Theo hồi ký của GS Nguyễn Văn Hoàn – Phó Viện trưởng Viện Văn học). Sau khi ông mất, Đài truyền hình có làm bộ phim tài liệu về ông phát trên VTV1.

Có lần, tôi nhớ vào năm 1963, trên tạp chí Văn học bỗng ồn ào vì một cuộc tranh cãi liên quan đến cụ Phan Bội Châu nhân một bài viết về cụ. Cuộc tranh cãi khá lớn và không ai chịu ai. Ông nội tôi có biết chuyện, bèn viết một bài nói rõ cho mọi người hiểu thêm về cụ Phan Bội Châu. Thì ra thời gian đó, ông có đến ở cùng cụ Phan, khi cụ bị quản thúc. Bởi vì ông thân sinh Hoàng Trọng Mậu vốn là chiến hữu thân thiết của cụ Phan Bội Châu. Họ đã cùng nhau soạn thảo cương lĩnh Việt Nam Quang Phục hội. Nhằm cho công cuộc kháng Pháp ở một thời gian, cụ Phan khuyên ông nội tôi: “Cháu hãy đi nơi khác tìm đường trả thù cho cha. Hiện tại ở đây, mật thám Pháp rất nhiều, khó có thể làm gì”. Nhờ có bài báo đó mà mọi người mới biết ông nội đã từng có thời gian sống với cụ Phan Bội Châu khi cụ bị quản thúc ở Huế năm 1940.

Năm 1974, ông nội tôi mất. Ba năm sau bà cũng đi theo. Đó là nỗi buồn không bao giờ nguôi ngoai của tôi - đứa bé chập chững bước vào đời. 50 năm đã trôi qua nhưng tôi vẫn mơ thấy ông nội trong bộ quần áo lụa, thong dong đi chơi ở một con đường đầy mây trắng. Trong tay ông là cái quạt cũ đã rách, nhưng ông không chịu vứt đi, mà khâu nó lại để dùng và thoang thoảng mùi hương trầu cau đâu đây.

THIÊN VIỆT

Nguồn: Tạp chí VHNT số 656, tháng 9/2026