Từ khóa: vốn văn hóa; nông thôn mới; nông thôn mới kiểu mẫu; phát triển bền vững.

Abstract: This article analyzes the role of cultural capital as a key endogenous resource in the construction of advanced new rural areas and exemplary new rural areas in Hát Môn Commune (formerly Phúc Thọ District, now is part of Hanoi city) during the 2021-2025 period. Selecting this timeframe serves not only to evaluate a development cycle but also to establish critical baseline data before Hát Môn merges with six other communes on July 1st, 2025. The report demonstrates that Hát Môn’s success stems from the effective activation of four pillars of cultural capital: individual, community, institutional, and social networks. This synergy has transformed heritage values into outstanding socio-economic achievements, such as an average income of 80,8 million VND per capita and a comprehensive poverty rate of only 0,13%. The research findings provide a “model template” and strategic recommendations, asserting that cultural capital is the foundation for risk management and ensuring sustainable development for the new administrative unit after the merger.

Keywords: cultural capital; advanced new rural development; model new rural development; sustainable development.

Untitledjl.jpg
Lễ công bố và đón nhận danh hiệu “Xã Hát Môn đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao năm 2023” - Ảnh: thanhuyhanoi.vn

1. Đặt vấn đề

Trong lý thuyết về phát triển nông thôn hiện đại, vốn văn hóa không còn được nhìn nhận như một thực thể tĩnh tại của quá khứ, mà đã được khẳng định là “nguồn lực nội sinh” mang tính động lực, đóng vai trò quyết định đến tính bền vững của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM). Xã Hát Môn - đơn vị tiên phong của huyện Phúc Thọ (trước sáp nhập) đã xuất sắc đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao (NTMNC) (2023) và các tiêu chí nông thôn mới kiểu mẫu (NTMKM) được coi là một trong những trường hợp tiêu biểu đạt được mục tiêu này. Việc giải mã các thành tố của vốn văn hóa không chỉ là một hoạt động nghiên cứu đơn thuần, mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết để kiểm chứng một mô hình thành công và định hình chiến lược phát triển cho tương lai.

Nghiên cứu này xác lập phạm vi phân tích trong giai đoạn 2021-2025 tại địa bàn trước sáp nhập dựa trên các cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Thứ nhất, năm 2025 là dấu mốc kết thúc một chu kỳ kế hoạch 5 năm, cho phép thực hiện một phép kiểm chứng định lượng và định tính trọn vẹn về hiệu quả của các chính sách công đã được triển khai, đo lường sự chuyển hóa từ chủ trương đến kết quả thực tiễn. Thứ hai, đây cũng là thời điểm để thiết lập một bộ “dữ liệu nền” khoa học và toàn diện ngay trước khi xã Hát Môn bước vào một sự thay đổi địa giới hành chính mới. Thực hiện Đề án số 369/ĐA-CP của Chính phủ và các nghị quyết liên quan của cấp có thẩm quyền, từ ngày 1/7/2025, xã Hát Môn được sáp nhập cùng 6 đơn vị hành chính khác. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu này không chỉ là một công trình tổng kết những kết quả đã đạt được, mà còn là một bản cam kết về giá trị kế thừa và một công cụ quản trị rủi ro văn hóa cho giai đoạn chuyển giao sắp tới, từ đó đề xuất các định hướng chiến lược nhằm bảo tồn và nhân rộng di sản thành công này trong cấu trúc hành chính mới.

2. Phương pháp nghiên cứu

Về khung lý thuyết, kế thừa các nghiên cứu về vốn văn hóa (Bourdieu, 1986) và vận dụng theo nghĩa rộng trong bối cảnh phát triển cộng đồng, chúng tôi vận dụng khái niệm “vốn văn hóa” và khung phân tích vốn văn hóa vào nghiên cứu vốn văn hóa tại xã Hát Môn, gồm bốn vốn văn hóa cơ bản: văn hóa cá nhân, vốn văn hóa cộng đồng, vốn văn hóa thể chế và mạng lưới xã hội, cũng như xem xét các mối quan hệ giữa các nhân tố này. Từ đó đánh giá nguồn lực cũng như tác động của các vốn văn hóa trên với việc xây dựng NTMNC, NTMKM tại xã Hát Môn (giai đoạn 2021-2025).

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp nhằm hệ thống hóa các tài liệu liên quan từ sách, báo chí và báo cáo chuyên ngành để xác lập khung lý thuyết phù hợp. Cách tiếp cận liên ngành kết hợp các góc nhìn lịch sử, địa lý, chính trị và xã hội học được sử dụng để đảm bảo tính đa chiều và phản ánh rõ nét bối cảnh cụ thể của địa phương giai đoạn 2021-2025. Cuối cùng, phương pháp thực địa được triển khai thông qua quan sát thực tế và tham gia các sự kiện tín ngưỡng, kết hợp với phỏng vấn sâu trực tiếp dưới hình thức khuyết danh để tìm hiểu sâu sắc về con người, cơ sở vật chất và các hoạt động văn hóa trong tiến trình phát triển NTM tại địa phương.

3. Kết quả và thảo luận

Tổng quan về Hát Môn và việc xây dựng NTM ở xã Hát Môn

Xã Hát Môn nằm trong vùng châu thổ sông Hồng - khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đồng thời giàu trầm tích lịch sử - văn hóa. Với diện tích tự nhiên 436,92ha, gồm 10 thôn và dân số hơn 8.800 người, Hát Môn hiện có cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, trong đó lĩnh vực thương mại - dịch vụ chiếm 40,7%, cùng hệ thống sản xuất đồ mộc và tiểu thủ công nghiệp phát triển tương đối mạnh (Ủy ban nhân dân xã Hát Môn, 2024).

Không gian văn hóa của Hát Môn nổi bật với Di tích quốc gia đặc biệt đền Hát Môn thờ Hai Bà Trưng (được xếp hạng năm 2013) và lễ hội đền Hát Môn được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016 (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2016). Ngoài ra, địa phương còn sở hữu nhiều di tích có giá trị như Phủ thờ Quận công Nguyễn Ngọc Trì, chùa Bảo Lâm, đền thờ Đức Thánh Thủy. Hệ thống di sản này không chỉ cấu thành bản sắc địa phương mà còn tạo nền tảng phát triển kinh tế văn hóa - du lịch theo hướng bền vững.

Trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, Hát Môn là một trong những địa phương được huyện Phúc Thọ xác định là điểm trọng tâm trong lộ trình xây dựng NTMNC và NTMKM. Đến năm 2023, xã đã hoàn thành 19/19 tiêu chí NTMNC giai đoạn 2021-2025 và được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội công nhận đạt chuẩn NTM nâng cao, trở thành xã đầu tiên của huyện đạt danh hiệu này (Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2023). Tháng 12/2024, đoàn thẩm định thành phố đã tiến hành kiểm tra, đánh giá hồ sơ đề nghị công nhận xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu (Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2024).

Những kết quả này đặt ra một câu hỏi nghiên cứu quan trọng: đâu là nguồn lực nội sinh mang tính quyết định giúp Hát Môn không chỉ hoàn thành tiêu chí mà còn duy trì được quỹ đạo phát triển bền vững? Chúng tôi lập luận rằng, bên cạnh vốn kinh tế và vị trí địa lý, chính cấu trúc vốn văn hóa đa tầng đã đóng vai trò nền tảng trong tiến trình này. Vốn văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và phi vật chất được tích lũy, lưu truyền và tái tạo trong cộng đồng, có khả năng chuyển hóa thành nguồn lực thúc đẩy phát triển. Cách tiếp cận này cho phép nhận diện sự tương tác đa chiều giữa các nguồn lực văn hóa trong quá trình xây dựng NTMNC và NTMKM.

Vốn văn hóa cá nhân

Trong tiến trình phát triển mọi lĩnh vực, yếu tố con người luôn giữ vai trò tiên phong, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động, sản xuất và phát triển. Vốn văn hóa cá nhân được hiểu là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, mối quan hệ xã hội mà cá nhân tích lũy được trong quá trình sống và vận dụng nó vào quá trình phát triển kinh tế để tạo ra những giá trị lợi ích cho bản thân và xã hội. Những giá trị từ vốn văn hóa cá nhân như tính cần cù, chăm chỉ và tinh thần học hỏi không ngừng đã góp phần quan trọng vào sự cải thiện toàn diện đời sống của địa phương, đặc biệt ở các tiêu chí như giáo dục, thông tin - truyền thông, thu nhập, và lao động. Về tiêu chí số 10: Thu nhập, minh chứng rõ nét khi thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể từ 57 triệu đồng/ người/ năm (2021) lên 80,8 triệu đồng/ người/ năm (Ủy ban nhân dân xã Hát Môn, 2024) và 89 triệu/ năm 2025 (Đảng ủy Ủy ban nhân dân xã Hát Môn, 2025). Điều này không chỉ đảm bảo đáp ứng yêu cầu tiêu chí mà còn cải thiện đời sống kinh tế - xã hội và thực hiện các mục tiêu bền vững. Bên cạnh đó, tiêu chí số 12: Lao động, phản ánh sự sáng tạo và tinh thần học hỏi của người dân, với tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng, năng suất lao động được cải thiện và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Hiện nay, lao động trong công nghiệp xây dựng chiếm 46%, trong dịch vụ chiếm 45,7%, và trong nông lâm ngư nghiệp giảm còn 8,3%, cho thấy nền kinh tế ngày càng phát triển theo hướng bền vững và văn minh. Ngoài ra, vốn văn hóa cá nhân cũng thể hiện mạnh mẽ qua tiêu chí số 8: Thông tin và truyền thông, khi người dân tích cực sử dụng công nghệ hiện đại, với 82% số người trong độ tuổi lao động sử dụng điện thoại thông minh có kết nối internet. Điều này tạo điều kiện cho các mô hình kinh doanh thương mại điện tử và giao tiếp thông minh phát triển mạnh mẽ, thông qua các nền tảng trực tuyến và công cụ như mã QR, Zalo và Wi-Fi công cộng. Đáp ứng tiêu chí số 5: Giáo dục, hệ thống giáo dục của xã cũng là một điểm sáng, với thế hệ trẻ được phổ cập giáo dục toàn diện, kết hợp tri thức truyền thống và hiện đại, góp phần xây dựng nguồn nhân lực năng động, sáng tạo và là nguồn lực kế cận phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Từ góc độ lãnh đạo xã, bà H.T.L.T nhấn mạnh việc đổi mới tư duy là cốt lõi của NTMNC: “Con người Hát Môn cũng cần tự giác không ngừng thay đổi phát triển và đổi mới tư duy của bản thân mình”. Đây là bước chuyển từ tâm lý thụ động sang tinh thần tự lực của chủ thể văn hóa.

Vốn văn hóa cộng đồng

Vốn văn hóa cộng đồng là nguồn vốn dựa vào đặc trưng văn hóa cộng đồng và bản sắc văn hóa cộng đồng và có thể tham gia vào quá trình phát triển kinh tế. Đối với Hát Môn, vốn văn hóa cộng đồng chính là nơi gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống tiêu biểu, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững trong bối cảnh hiện đại. Qua nhiều thế hệ, cư dân sinh sống trên mảnh đất này đã vun đắp nên vốn văn hóa cộng đồng tốt đẹp, là tài sản vô giá cho quê hương mình. Trên địa bàn xã Hát Môn có 6 di tích đã được kiểm kê trong danh mục của Thành phố, trong đó 4 di tích được xếp hạng (Ủy ban nhân dân huyện Phúc Thọ, 2024). Việc kết hợp bảo tồn di sản với phát triển du lịch cộng đồng và quảng bá số hóa cho thấy khả năng “chuyển hóa” vốn văn hóa truyền thống thành nguồn lực kinh tế. Đồng thời, các hoạt động thể thao, văn nghệ, câu lạc bộ văn hóa truyền thống (như Câu lạc bộ Hát trống quân thành lập năm 2022) củng cố sự gắn kết liên thế hệ và đáp ứng tiêu chí 6 về văn hóa. Theo Quyết định số 4613/QĐ-UBND (ngày 4/9/2024) của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, đền Hát Môn chính thức được công nhận là điểm du lịch của thành phố, cùng với việc kết nối với các trải nghiệm cộng đồng, quảng bá hình ảnh địa phương qua mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến... Các yếu tố văn hóa cộng đồng này còn góp phần đáp ứng tiêu chí về mô hình thông minh trong quy định NTMKM. Tất cả những yếu tố trên khẳng định rằng vốn văn hóa cộng đồng không chỉ giúp bảo tồn giá trị truyền thống mà còn mở ra hướng đi mới trong xây dựng NTM tại xã Hát Môn, đưa địa phương tiến xa hơn trên hành trình hội nhập và phát triển. Trường hợp xã Hát Môn minh chứng rằng bảo tồn di sản không đối lập với hiện đại hóa; ngược lại, khi được quản trị hợp lý, di sản trở thành nền tảng phát triển bền vững.

Vốn văn hóa thể chế

Vốn văn hóa thể chế tại địa bàn nghiên cứu được hiểu là hệ thống các chính sách phát triển của nhà nước phối hợp cùng những nguyên tắc vận hành và quy định nội bộ do chính cộng đồng cư dân thiết lập và thực thi. Qua tiến trình phát triển lâu dài, cộng đồng xã Hát Môn đã kiến tạo được mạng lưới thiết chế và liên kết xã hội chặt chẽ, tạo thành một nguồn vốn đa dạng đóng vai trò nền tảng định hướng cho lộ trình xây dựng NTMNC và NTMKM. Để cụ thể hóa các mục tiêu này, hệ thống chính trị địa phương đã vận hành một cách bài bản thông qua việc thành lập ban chỉ đạo, ban quản lý và các ban phát triển tại từng thôn ngay sau khi tiếp nhận chỉ đạo từ cấp trên. Với vai trò là cơ chế vận hành mang tính pháp lý và xã hội, vốn văn hóa thể chế đã giúp địa phương hoàn thiện hệ thống các tiêu chí chuyên biệt, tiêu biểu là công tác quy hoạch điểm dân cư nông thôn tỷ lệ 1/500 đã được Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt và công bố rộng rãi. Bên cạnh đó, các tổ chức kinh tế như hợp tác xã nông nghiệp đã phát huy vai trò then chốt trong việc quản lý hệ thống thủy lợi, đảm bảo an ninh sản xuất và kiện toàn các đội xung kích ứng phó thiên tai nhằm bảo vệ an toàn cho nhân dân. Hiệu quả của nguồn vốn thể chế còn được khẳng định thông qua việc thúc đẩy kinh tế nông thôn với mô hình tích hợp đa giá trị, tiêu biểu là các sản phẩm OCOP như granola mật chuối hay bánh kê gạo lứt mang lại giá trị kinh tế cao. Sự lớn mạnh của các cơ sở sản xuất đồ mộc và cơ khí với tổng giá trị tiểu thủ công nghiệp ước đạt 160 tỷ đồng không chỉ gia tăng thu nhập mà còn minh chứng cho cam kết phát triển gắn liền với bảo tồn môi trường bền vững. Ngoài ra, vai trò điều phối của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc trong việc triển khai quỹ vì người nghèo đã góp phần đưa tỷ lệ nghèo đa chiều xuống mức ấn tượng là 0,13%, đáp ứng nghiêm ngặt các yêu cầu về an sinh xã hội (Ủy ban nhân dân xã Hát Môn, 2024). Trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh, sự lãnh đạo quyết liệt của đảng ủy cùng chính quyền xã đã tạo dựng một môi trường sống an toàn thông qua việc vận động nhân dân chấp hành pháp luật và phát huy vai trò của các quy ước thôn làng. Những quy ước này không chỉ là công cụ quản lý xã hội mà còn là phương thức hữu hiệu để xây dựng nếp sống văn minh, định hướng các giá trị đạo đức và củng cố tinh thần đoàn kết cộng đồng trong giai đoạn phát triển mới. Vốn văn hóa thể chế tại địa phương đóng vai trò là cơ chế vận hành pháp lý và quản trị cốt lõi, trực tiếp giúp xã hoàn thiện tiêu chí số 1 về quy hoạch. Sự vận hành hiệu quả của các tổ chức như hợp tác xã nông nghiệp không chỉ đảm bảo tiêu chí số 3 về thủy lợi và phòng chống thiên tai mà còn thúc đẩy tiêu chí số 13 về tổ chức sản xuất thông qua việc chuẩn hóa các sản phẩm nông sản theo mô hình mỗi xã một sản phẩm. Bên cạnh đó, các hoạt động hỗ trợ an sinh của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đã đưa tỷ lệ nghèo đa chiều xuống mức 0,13%, giúp xã đạt tiêu chí số 11, đồng thời công tác tuyên truyền pháp luật và quy ước thôn làng đã củng cố vững chắc tiêu chí số 19 về quốc phòng và an ninh (Ủy ban nhân dân xã Hát Môn, 2024).

Mạng lưới xã hội

Mạng lưới xã hội tại xã Hát Môn đóng vai trò là hệ thống kết nối đa tầng nấc, tạo ra sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, các dòng họ và từng cá nhân, từ đó huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội hóa để hoàn thiện các tiêu chí hạ tầng thiết yếu. Trong lĩnh vực giao thông và môi trường, sự đồng thuận của cộng đồng đã giúp địa phương thực hiện bê tông hóa toàn bộ các tuyến đường trục thôn, xóm và xây dựng hệ thống thoát nước kết nối đồng bộ, giải quyết triệt để tình trạng ngập úng. Tinh thần tự giác của nhân dân còn được thể hiện qua việc tích cực tham gia các mô hình phân loại rác thải tại nguồn, xử lý rác hữu cơ và chăm sóc cây xanh, góp phần hiện thực hóa chương trình giữ gìn thôn xóm sáng, xanh, sạch, đẹp và an toàn.

Sự cố kết xã hội này còn được củng cố thông qua vai trò của các dòng họ và các thiết chế văn hóa cơ sở. Các dòng họ trong xã không chỉ giữ gìn gia phong mà còn thiết lập cơ chế khuyến học hiệu quả, góp phần đưa phong trào xây dựng đời sống văn hóa thu hút sự hưởng ứng rộng khắp. Theo bà N.T.M, bên cạnh giữ gìn gia phả, các dòng họ (Nguyễn Kim, Trần Đình, Trần Huy...) còn có cơ chế mạng lưới xã hội đặc thù: “khen thưởng, tuyên dương không chỉ cháu nhỏ học giỏi mà còn cả con gái, con dâu trong họ có đóng góp tích cực”. Chi tiết này cho thấy vốn văn hóa dòng họ tại xã Hát Môn đã có sự phát triển về bình đẳng giới và sự ghi nhận đa chiều. Minh chứng là vào năm 2023, xã có 1780 trên tổng số 1860 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa và toàn bộ 10 thôn đều đạt tiêu chuẩn văn hóa. Bên cạnh đó, hệ thống 34 câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao với sự tham gia của trên 80% nhân dân, tiêu biểu là Câu lạc bộ Hát trống quân được thành lập năm 2022, đã trở thành không gian sinh hoạt quan trọng, vừa bảo tồn giá trị truyền thống vừa thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng. Trong lĩnh vực y tế, mạng lưới này đã chuyển mình mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa thông qua các nhóm liên kết Zalo y tế kết nối bác sĩ với từng thôn và ứng dụng sổ sức khỏe điện tử, giúp nâng tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế của toàn xã lên 95,03% tính đến tháng 10/2024 (Bảo hiểm xã hội huyện Phúc Thọ, 2024).

Hiệu quả thực tế của mạng lưới xã hội đa tầng nấc tại xã Hát Môn được phản ánh khách quan qua tỷ lệ hài lòng 100% của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới nâng cao (Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2023). Tổng kết lại, sự tương tác biện chứng và luân chuyển giữa các loại hình vốn văn hóa cá nhân, vốn cộng đồng và vốn thể chế đã tạo nên một mô hình phát triển mẫu mực. Tại đây, các giá trị truyền thống không bị hòa tan bởi tiến trình hiện đại hóa mà ngược lại, đã trở thành đòn bẩy quan trọng để kiến tạo một vùng nông thôn thịnh vượng, khẳng định tính đúng đắn của việc lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi cho sự phát triển bền vững và toàn diện. Những kết quả này không chỉ đáp ứng tiêu chí số 6 về văn hóa theo đúng giá trị di sản địa phương (Phạm Lan Oanh, 2008) mà còn hỗ trợ tiêu chí số 14 về y tế thông qua các ứng dụng quản lý sức khỏe điện tử. Việc lồng ghép các yếu tố văn hóa cộng đồng vào quản trị hiện đại đã tạo nền tảng vững chắc để xã đáp ứng các chỉ số của mô hình thông minh, hướng tới hoàn thiện bộ tiêu chí nông thôn mới kiểu mẫu theo hướng bền vững (Bourdieu, 1986).

Đánh giá tác động và sự tương hỗ giữa các nguồn lực

Sự thành công của xã Hát Môn nằm ở khả năng “luân chuyển vốn” nhuần nhuyễn: vốn văn hóa cá nhân (ý thức số, kỹ năng kinh doanh) thúc đẩy vốn cộng đồng (kinh tế du lịch di sản), từ đó, củng cố vốn thể chế thông qua sự đồng thuận cao, chẳng hạn, những cá nhân trong bộ máy luôn phải là người đi đầu. Ông N.V.T nhấn mạnh vào tính tiên phong của vốn con người: “Nhiều hộ cán bộ đã tự nguyện hiến đất, đóng góp công sức và tài chính”, dẫn đến “tỷ lệ hài lòng của người dân đạt 100%”. Sự hài lòng này chính là chỉ dấu của sự khớp nối giữa kỳ vọng dân cư và quản lý nhà nước. Việc kết hợp giữa năng lực số cá nhân (82% sử dụng smartphone) và các thiết chế thông minh (Y tế số, Zalo an ninh) đã tạo ra một mô hình quản trị nông thôn hiện đại. Chính quyền và nhân dân đã tối ưu hóa được niềm tự hào lịch sử để cố kết cộng đồng và chuyển hóa các giá trị vô hình thành động lực kinh tế bền vững. Tuy nhiên, sự tương hỗ này đòi hỏi cơ chế giám sát thường xuyên để đảm bảo sự hiện đại hóa không làm xói mòn các giá trị gốc. Mối quan hệ giữa các loại vốn văn hóa cũng cần được điều chỉnh để tránh những hệ lụy trong quá trình hiện đại hóa. Việc thương mại hóa quá đà các di sản như điểm du lịch tâm linh có thể làm phai nhạt bản sắc văn hóa, trong khi sự phụ thuộc vào công nghệ hiện đại cũng đòi hỏi ý thức sử dụng sáng tạo và trách nhiệm. Với sự phối hợp hài hòa giữa các loại vốn văn hóa, xã Hát Môn đã và đang minh chứng cho sự kết hợp hiệu quả giữa truyền thống và đổi mới, đưa địa phương tiến gần hơn đến mục tiêu phát triển nông thôn bền vững.

Một số hạn chế và khuyến nghị trong việc phát huy vốn văn hóa trong xây dựng NTMNC, NTMKM tại xã Hát Môn

Trong lộ trình tiến tới NTMKM, xã Hát Môn đang đối mặt với những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của quá trình đô thị hóa nông thôn như: Sự va chạm giữa tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng và khả năng thích ứng văn hóa còn chậm của một bộ phận cư dân, dẫn đến rủi ro về tệ nạn xã hội và tâm lý ỷ lại vào ngân sách; Xuất hiện những tranh cãi giữa việc duy trì lịch trình lễ hội truyền thống theo âm lịch và việc điều chỉnh theo lịch hành chính hiện đại, gây ra những “đứt gãy” trong sự đồng thuận cộng đồng; Nguy cơ làm phai nhạt cốt cách tâm linh khi chuyển dịch mạnh sang du lịch thương mại nếu không có sự định hướng thể chế chặt chẽ.

Để khắc phục những hạn chế đó, xã Hát Môn nói riêng và những địa phương đang trong quá trình xây dựng NTM phát triển bền vững cần có những chiến lược thiết yếu, cụ thể: Cần làm rõ vốn văn hóa không chỉ là di tích lịch sử mà bao gồm cả năng lực cá nhân và sự minh bạch thể chế. Đẩy mạnh giáo dục di sản cho giới trẻ để hình thành thế hệ cư dân nông thôn mới. Giảm thiểu thủ tục hành chính, tăng cường công khai thông tin quy hoạch và tài chính. Áp dụng các phương thức quản lý đặc thù cho mô hình du lịch di sản thay vì áp dụng máy móc các tiêu chuẩn công nghiệp, để giải quyết các tranh cãi về lịch trình lễ hội, cần xây dựng cơ chế đối thoại trực tiếp giữa chính quyền, các bậc lão thành và cộng đồng. Giải pháp phải hài hòa giữa tính tôn nghiêm của tín ngưỡng thờ Hai Bà Trưng và yêu cầu quản lý nhà nước hiện đại, tránh sự áp đặt hành chính làm tổn thương vốn văn hóa cộng đồng.

4. Kết luận

Hát Môn là minh chứng tiêu biểu cho luận điểm: phát triển nông thôn bền vững không chỉ dựa vào vốn đầu tư vật chất mà dựa trên khả năng huy động, tái cấu trúc và chuyển hóa vốn văn hóa nội sinh. Từ những dữ liệu cụ thể và phân tích cơ chế vận hành thực tiễn, chúng tôi mong muốn góp phần định hình tư duy phát triển bền vững cho các địa phương khác trong tiến trình xây dựng NTM. Có thể khẳng định vốn văn hóa không chỉ là yếu tố bổ trợ mà chính là nền tảng nòng cốt quyết định sự thành công của chiến lược NTMNC và NTMKM. Tầm nhìn cho nông thôn Việt Nam thông qua điển hình xã Hát Môn chính là việc phát huy bền vững và sự kết hợp các vốn văn hóa đó một cách chặt chẽ, sâu rộng.

_________________________

Tài liệu tham khảo

1. Đảng ủy Ủy ban nhân dân xã Hát Môn. (2025). Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ 2020-2025.

2. Ủy ban nhân dân xã Hát Môn. (2024). Báo cáo kết quả xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu về thu nhập, thôn thông minh và tiêu chí tự chọn: Du lịch, y tế năm 2024 của xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.

3. Ủy ban nhân dân xã Hát Môn. (2024). Báo cáo tổng kết công tác Đảng nhiệm kỳ 2020-2025.

4. Ủy ban nhân dân huyện Phúc Thọ. (2024). Đề án: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch trên địa bàn huyện Phúc Thọ đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

5. Ủy ban nhân dân xã Hát Môn. (2023). Báo cáo kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới nâng cao năm 2023 xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.

6. Ban Chấp hành Trung ương. (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

7. Bourdieu, P. (1986). The forms of capital (Các loại hình vốn). Handbook of theory and research for the sociology of education (Sách hướng dẫn về lý thuyết và nghiên cứu xã hội học giáo dục). Greenwood Press.

8. Bùi Minh Hào. (2021). Vốn văn hóa và tiếp cận vốn văn hóa trong nghiên cứu phát triển. Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư. 1(69).

9. Fukuyama, F. (2001). Social Capital, Civil Society and Development (Vốn xã hội, Xã hội dân sự và Phát triển). Third World Quarterly. 22(1).

10. Nguyễn Thị Hường. (2018). Quản lý di tích lịch sử đền thờ Hai Bà Trưng, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

11. Phạm Lan Oanh. (2008). Thờ phụng Hai Bà Trưng qua lễ hội đền Hát Môn. Tạp chí Di sản văn hóa.

12. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 318/QĐ TTg ngày 08/03/2022 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025.

13. Trần Thúy Lan. (2018). Sự tham gia của nhà nước và cộng đồng trong quá trình di sản hóa đền Hát Môn (thành phố Hà Nội). Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 2/3/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/3/2026; Ngày duyệt bài: 20/4/2026.

TRẦN THỊ THƯ -  BÙI THỊ THU PHƯƠNG

Nguồn: Tạp chí VHNT số 642, tháng 5-2026