Tư tưởng Hồ Chí Minh – ánh sáng soi đường cho phát triển vì con người
Có những thời điểm trong lịch sử, một dân tộc cần nhìn về quá khứ không phải để hoài niệm, mà để tìm thấy sức mạnh đi tới tương lai. Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn ra trong một bối cảnh như vậy. Đất nước vừa đi qua Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, một dấu mốc quan trọng xác lập những định hướng chiến lược cho giai đoạn phát triển mới. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 cũng mở ra một chương mới với yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị và năng lực phục vụ Nhân dân. Hệ thống chính trị đang từng bước vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, thông suốt hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn.
Chính trong bước chuyển lớn ấy, bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa như một lời nhắc nhở sâu sắc: càng đi vào những nhiệm vụ mới, càng phải giữ vững những giá trị nền tảng; càng đổi mới mạnh mẽ, càng phải bám chắc mục tiêu vì nước, vì dân; càng hiện đại hóa, càng phải trở về với ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm viết: “Trong bước chuyển lớn ấy, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam”.
Đây là một nhận định có ý nghĩa nền tảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ thuộc về lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà còn thuộc về hiện tại và tương lai của công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước. Tư tưởng ấy không chỉ từng soi đường cho dân tộc Việt Nam vượt qua đêm dài nô lệ, giành lại độc lập, thống nhất non sông, mà hôm nay tiếp tục soi sáng con đường phát triển nhanh, bền vững, nhân văn và hiện đại.
Điểm nổi bật trong bài viết là cách Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt tư tưởng Hồ Chí Minh trong dòng chảy phát triển hôm nay. Tư tưởng ấy không được nhìn như những mệnh đề bất biến, đóng kín trong lịch sử, mà là một hệ thống quan điểm sống động. Ông nhấn mạnh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là những mệnh đề bất biến, khép kín, mà là một hệ thống quan điểm sống động, luôn gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất, lấy tự chủ, dân chủ, đổi mới, sáng tạo và hành động làm phương thức để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng”.
Đó chính là sự phân tích rất sâu sắc về di sản Hồ Chí Minh. Di sản ấy không chỉ nằm trong ký ức, trong văn kiện, trong tượng đài, trong những ngày lễ trọng đại, mà phải hiện diện trong từng quyết sách, từng chương trình hành động, từng cải cách thể chế, từng việc làm cụ thể của cán bộ, đảng viên và mỗi người dân. Học Bác không phải là nhắc lại những điều đúng đắn một cách quen thuộc, mà là biến những điều đúng đắn ấy thành năng lực hành động, thành hiệu quả quản trị, thành kết quả cụ thể trong đời sống Nhân dân.
Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc luôn gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Người ra đi tìm đường cứu nước không phải chỉ để giành lại một lãnh thổ bị xâm lược, mà để trả lại quyền làm người, quyền làm chủ, quyền được sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân Việt Nam. Chính vì vậy, trong bài viết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, Nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng”.
Từ cách nhìn đó, có thể thấy thông điệp cốt lõi của bài viết không chỉ là tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà là khẳng định lại mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng: phát triển vì con người. Một đất nước có thể đạt được nhiều thành tựu kinh tế, có thể xây dựng nhiều công trình lớn, có thể hội nhập sâu rộng với thế giới, nhưng nếu đời sống Nhân dân chưa được nâng cao, nếu con người chưa được phát triển toàn diện, nếu niềm tin xã hội chưa được củng cố, nếu văn hóa chưa trở thành sức mạnh tinh thần và hệ điều tiết phát triển, thì sự phát triển ấy vẫn chưa đạt tới chiều sâu bền vững.
Đây cũng là lý do vì sao tư tưởng “dân là gốc” được bài viết đặt ở vị trí trung tâm. Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Những lời ấy không mới, nhưng trong bối cảnh hôm nay lại mang một ý nghĩa rất mới. Bởi khi đất nước đang tinh gọn bộ máy, phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số, đổi mới thể chế, thì câu hỏi quan trọng nhất không chỉ là bộ máy có gọn hơn hay không, thủ tục có nhanh hơn hay không, công nghệ có hiện đại hơn hay không, mà là người dân có được phục vụ tốt hơn hay không, quyền lợi chính đáng của người dân có được bảo đảm tốt hơn hay không, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân có được nâng lên hay không.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm viết: “Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá”. Đây là một câu rất đáng suy ngẫm, bởi nó chuyển hóa tư tưởng Hồ Chí Minh từ một giá trị đạo đức thành tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phát triển. Tinh gọn bộ máy, chuyển đổi số, cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế, phân cấp, phân quyền, suy cho cùng, đều phải hướng tới một mục tiêu: phục vụ Nhân dân tốt hơn.
Nhìn như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là nền tảng đạo đức, mà còn là phương pháp quản trị quốc gia. “Dân là gốc” không chỉ là một khẩu hiệu đẹp, mà phải trở thành nguyên tắc thiết kế chính sách, tiêu chí đánh giá cán bộ, thước đo chất lượng bộ máy, chuẩn mực của nền công vụ. Một chính sách đúng phải đến được với người dân. Một cải cách đúng phải làm cho người dân bớt khó khăn hơn, thuận lợi hơn, được tôn trọng hơn. Một nền hành chính hiện đại phải không chỉ nhanh về quy trình, mà còn nhân văn trong thái độ, công bằng trong tiếp cận, minh bạch trong trách nhiệm và hiệu quả trong phục vụ.
Trong chiều sâu ấy, bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã làm rõ một chân lý: tư tưởng Hồ Chí Minh là ánh sáng soi đường không chỉ vì tư tưởng ấy từng dẫn dắt dân tộc ta đi qua đêm dài nô lệ, mà còn vì tư tưởng ấy giúp chúng ta hôm nay không lạc hướng trước những biến động rất nhanh của thời đại. Đó là ánh sáng giúp chúng ta biết phát triển để làm gì, đổi mới vì ai, hội nhập trên nền tảng nào, xây dựng bộ máy vì mục tiêu gì, và đo thành công bằng thước đo nào. Câu trả lời cuối cùng vẫn là Nhân dân, là con người, là hạnh phúc, là phẩm giá, là sự phát triển toàn diện của dân tộc Việt Nam.

Văn hóa là nền tảng tinh thần, là sức mạnh mềm và là hệ điều tiết phát triển
Một trong những điểm có chiều sâu tư tưởng nhất trong bài viết là việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dành vị trí quan trọng cho văn hóa và con người. Đây cũng là thông điệp cần được nhấn mạnh trong bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, khi yêu cầu phát triển nhanh luôn phải đi cùng phát triển bền vững, khi tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, khi đổi mới công nghệ phải gắn với phát triển con người, khi hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người tiếp tục soi sáng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Với Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà phải soi đường cho quốc dân đi. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng”.
Đây là một luận điểm có ý nghĩa đặc biệt. Văn hóa không đứng ngoài phát triển. Văn hóa càng không phải là phần trang trí cho phát triển. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh mềm của quốc gia, là nguồn lực nội sinh quan trọng, là hệ điều tiết để phát triển không bị lệch hướng. Khi kinh tế phát triển nhanh, văn hóa giúp giữ lại chiều sâu nhân văn. Khi đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, văn hóa giúp gìn giữ ký ức cộng đồng, bản sắc không gian và sự gắn kết xã hội. Khi công nghệ thay đổi đời sống từng ngày, văn hóa giúp con người biết sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm, không đánh mất mình trong thế giới số. Khi hội nhập quốc tế mở ra nhiều cơ hội, văn hóa giúp dân tộc tự tin bước ra thế giới bằng bản sắc riêng, không hòa tan, không tự ti, cũng không khép kín.
Ở đây, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa có ý nghĩa như một định hướng phát triển rất hiện đại. Văn hóa soi đường cho quốc dân đi, nghĩa là văn hóa phải tham gia vào việc định hình mục tiêu phát triển, phương thức phát triển và chất lượng phát triển. Nếu thiếu văn hóa, tăng trưởng kinh tế có thể rơi vào chủ nghĩa thực dụng; đô thị hóa có thể làm đứt gãy di sản; thị trường có thể thúc đẩy lối sống chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá; quyền lực có thể thiếu liêm chính; xã hội có thể thiếu lòng tin; con người có thể giàu hơn nhưng cô đơn hơn, nhiều phương tiện hơn nhưng ít điểm tựa tinh thần hơn.
Chính vì thế, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng đạo đức, phát triển văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân”, đó là một quan điểm phát triển toàn diện. Quan điểm ấy đòi hỏi chúng ta không được xem văn hóa là lĩnh vực đi sau kinh tế, càng không được coi đầu tư cho văn hóa là khoản chi phụ. Đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho nền tảng phát triển. Đầu tư cho con người chính là đầu tư cho tương lai. Đầu tư cho giáo dục, đạo đức, thẩm mỹ, đời sống tinh thần, môi trường văn hóa lành mạnh chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh lâu dài của quốc gia.
Một đất nước muốn phát triển bền vững phải có những con người phát triển toàn diện. Con người ấy không chỉ có tri thức, kỹ năng, năng suất lao động, mà còn có nhân cách, lòng yêu nước, ý thức công dân, trách nhiệm cộng đồng, năng lực sáng tạo, khát vọng cống hiến và khả năng sống hài hòa với người khác, với thiên nhiên, với truyền thống và với tương lai. Con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới phải là con người biết tự hào về dân tộc nhưng không tự mãn, biết hội nhập với thế giới nhưng không đánh mất bản sắc, biết làm chủ công nghệ nhưng không để công nghệ làm chủ mình, biết cạnh tranh nhưng không vô cảm, biết làm giàu nhưng không đánh đổi đạo đức, biết vươn lên nhưng không bỏ lại người yếu thế phía sau.
Bởi vậy, thông điệp văn hóa và con người trong bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ có ý nghĩa đối với ngành Văn hóa, Giáo dục hay công tác tư tưởng, mà liên quan đến toàn bộ chiến lược phát triển quốc gia. Văn hóa phải có mặt trong quy hoạch đô thị, để mỗi thành phố không chỉ hiện đại mà còn có hồn cốt. Văn hóa phải có mặt trong phát triển kinh tế, để mỗi doanh nghiệp không chỉ tạo lợi nhuận mà còn có đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội. Văn hóa phải có mặt trong quản trị công, để mỗi cán bộ không chỉ làm đúng quy trình mà còn biết phục vụ bằng tinh thần trọng dân, gần dân, hiểu dân. Văn hóa phải có mặt trong chuyển đổi số, để không gian mạng không trở thành nơi lan truyền độc hại, thù hận, giả dối, mà trở thành môi trường sáng tạo, học tập, kết nối và lan tỏa giá trị tốt đẹp.
Bài viết cũng cho thấy mối quan hệ rất sâu sắc giữa văn hóa và sự hùng cường của quốc gia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi có nền kinh tế mạnh, thể chế hiện đại, quốc phòng - an ninh vững chắc, văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo”.
Đây là một trong những câu có sức khái quát cao nhất của bài viết. Nó giúp chúng ta hiểu rằng hùng cường không chỉ là mạnh về kinh tế, không chỉ là vững về quốc phòng, an ninh, không chỉ là hiện đại về thể chế, mà còn là giàu bản sắc về văn hóa, toàn diện về con người, nhân văn về xã hội. Một đất nước hùng cường mà thiếu nhân văn sẽ không tạo được sự đồng thuận bền vững. Một xã hội hiện đại mà đánh mất bản sắc sẽ trở nên trống rỗng. Một nền kinh tế phát triển mà con người không hạnh phúc, niềm tin xã hội suy giảm, đạo đức xuống cấp, môi trường bị tổn thương, cộng đồng rạn nứt, thì sự phát triển ấy chưa thể gọi là thành công.
Từ đó, có thể thấy văn hóa chính là sức đề kháng của dân tộc trước những lệch chuẩn, là năng lực tự điều chỉnh của xã hội trước những biến động, là nguồn lực mềm giúp quốc gia tăng sức hấp dẫn, sức thuyết phục và sức lan tỏa. Con người Việt Nam, với lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí vượt khó, khát vọng vươn lên, khả năng thích ứng, sáng tạo và nghĩa tình, chính là tài sản quý giá nhất của đất nước. Nhưng tài sản ấy không tự nhiên mà có, càng không tự nhiên được phát huy. Nó cần được nuôi dưỡng bằng giáo dục, bằng môi trường văn hóa lành mạnh, bằng chính sách đúng, bằng thể chế khuyến khích cái tốt, bảo vệ cái đúng, tôn vinh cái đẹp, ngăn chặn cái xấu, cái độc hại.
Trong kỷ nguyên mới, khi nguồn lực vật chất luôn có giới hạn, khi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, khi những biến động toàn cầu diễn ra khó lường, thì nguồn lực văn hóa và con người càng trở nên quyết định. Một dân tộc có thể thiếu vốn, thiếu công nghệ trong một thời điểm, nhưng nếu có con người có ý chí, có tri thức, có đạo đức, có khát vọng, có khả năng học hỏi và sáng tạo, dân tộc ấy vẫn có thể vươn lên. Ngược lại, nếu con người thiếu niềm tin, thiếu trách nhiệm, thiếu năng lực sáng tạo, thiếu nền tảng văn hóa, thì dù có nguồn lực vật chất lớn đến đâu, sự phát triển cũng khó bền vững.
Biến giá trị văn hóa thành hành động phát triển, lấy hạnh phúc Nhân dân làm thước đo
Điểm kết tinh trong bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Đây là một thông điệp rất mạnh mẽ, rất thời sự và cũng rất thực chất. Học Bác không thể chỉ dừng ở tình cảm, ở sự tri ân, ở những khẩu hiệu đẹp hay những phong trào hình thức. Học Bác phải được đo bằng chất lượng công vụ, bằng sự liêm chính của bộ máy, bằng năng lực tổ chức thực hiện, bằng kết quả cụ thể mà người dân cảm nhận được trong đời sống hằng ngày.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm viết: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ Nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống”.
Đây là một quan điểm rất đáng chú ý, bởi nó đặt ra tiêu chuẩn mới cho việc học tập và làm theo Bác trong giai đoạn hiện nay. Không phải cứ nói nhiều về Bác là đã học Bác. Không phải cứ tổ chức nhiều phong trào là đã làm theo Bác. Không phải cứ có những khẩu hiệu trang trọng là tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào cuộc sống. Điều quan trọng hơn là mỗi cơ quan có phục vụ người dân tốt hơn không, mỗi chính sách có đến được với người dân không, mỗi cán bộ có liêm chính hơn, trách nhiệm hơn, gần dân hơn không, mỗi cải cách có tạo ra kết quả cụ thể hay không.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh thêm: “Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo công việc của mình”.
Đây chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Bác từng căn dặn cán bộ là công bộc của dân, việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Hôm nay, tinh thần ấy phải được cụ thể hóa bằng đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, trách nhiệm giải trình, văn hóa phục vụ và kết quả phát triển. Một bộ máy tốt không chỉ là bộ máy được tổ chức hợp lý trên giấy, mà là bộ máy làm cho người dân tin hơn, hài lòng hơn, được phục vụ tốt hơn. Một chính sách tốt không chỉ là chính sách được ban hành đúng quy trình, mà là chính sách giải quyết được vấn đề thực tiễn, tháo gỡ được khó khăn, tạo ra thay đổi tích cực trong đời sống.
Đây cũng chính là cách để văn hóa và con người trở thành nền tảng phát triển bền vững. Văn hóa không thể chỉ nằm trong khẩu hiệu “xây dựng đời sống văn hóa”. Văn hóa phải hiện diện trong đạo đức công vụ, trong kỷ luật thực thi, trong thái độ phục vụ, trong sự minh bạch của bộ máy, trong cách ứng xử của cán bộ với Nhân dân. Văn hóa không thể chỉ nằm trong lễ hội, di sản, nghệ thuật, mà phải đi vào cách chúng ta làm quy hoạch, làm chính sách, làm giáo dục, làm kinh tế, làm chuyển đổi số, làm đối ngoại. Văn hóa càng không thể chỉ là việc của ngành Văn hóa, mà phải là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đặt ra một yêu cầu rất rõ về sự cân bằng trong phát triển. Ông viết: “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ Nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của Nhân dân”.
Đây có thể xem là một hệ tiêu chí phát triển trong kỷ nguyên mới. Đó là phát triển có bản lĩnh, có định hướng, có tốc độ, nhưng không đánh mất chiều sâu nhân văn. Đó là đổi mới mạnh mẽ, nhưng không xa rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là hội nhập sâu rộng, nhưng không lệ thuộc. Đó là tinh gọn bộ máy, nhưng không làm giảm chất lượng phục vụ Nhân dân. Đó là phát triển kinh tế mạnh mẽ, nhưng không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của con người.
Nhìn vào thực tiễn hôm nay, chúng ta càng thấy rõ tính cấp thiết của thông điệp này. Đất nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, nhưng chuyển đổi số phải hướng tới con người, không để người dân bị bỏ lại phía sau bởi khoảng cách công nghệ. Đất nước đang phát triển kinh tế tư nhân, nhưng kinh tế tư nhân phải lớn lên cùng văn hóa kinh doanh, tinh thần phụng sự quốc gia, trách nhiệm xã hội và đạo đức thị trường. Đất nước đang xây dựng các đô thị hiện đại, nhưng đô thị hiện đại phải giữ được ký ức, không gian văn hóa, môi trường sống và bản sắc cộng đồng. Đất nước đang hội nhập sâu rộng, nhưng hội nhập phải đi đôi với bản lĩnh văn hóa, với khả năng kể câu chuyện Việt Nam ra thế giới bằng sự tự tin và sáng tạo.
Học Bác hôm nay cũng là biết chăm lo cho con người từ những điều căn bản nhất: giáo dục tốt hơn, y tế tốt hơn, môi trường sống an toàn hơn, thiết chế văn hóa gần dân hơn, cơ hội thụ hưởng văn hóa công bằng hơn, chính sách an sinh nhân văn hơn, pháp luật được thực thi nghiêm minh hơn. Một xã hội phát triển bền vững không chỉ là xã hội có nhiều người giàu, mà là xã hội trong đó người yếu thế được bảo vệ, trẻ em được chăm sóc, người già được tôn trọng, người lao động được bảo đảm quyền lợi, người tài được trọng dụng, người sáng tạo được khuyến khích, người dân bình thường được sống trong môi trường tử tế, an toàn và có cơ hội vươn lên.
Từ bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có thể thấy rõ một yêu cầu xuyên suốt: phải soi chiếu mọi quyết sách đổi mới bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Ông viết rằng các quyết sách đổi mới gần đây, từ tinh gọn tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đổi mới thể chế, hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển văn hóa, con người, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đến chủ động hội nhập quốc tế, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đều cần được soi chiếu bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Và ông nhấn mạnh: “Soi chiếu để giữ đúng mục tiêu. Soi chiếu để lựa chọn đúng phương pháp. Soi chiếu để mọi đổi mới không xa rời Nhân dân, mọi phát triển không đánh mất bản sắc, mọi cải cách không tách khỏi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Đây chính là chiều sâu của thông điệp văn hóa và con người. Mọi đổi mới đều cần được soi chiếu để không xa dân. Mọi phát triển đều cần được soi chiếu để không đánh mất bản sắc. Mọi cải cách đều cần được soi chiếu để không tách khỏi lý tưởng. Văn hóa, vì vậy, không phải là phần đi sau, mà là ánh sáng đi trước. Con người không phải là đối tượng phụ thuộc vào phát triển, mà là trung tâm, là chủ thể và là mục tiêu cao nhất của phát triển.
Có thể nói, nếu phải khái quát thông điệp văn hóa và con người trong bài viết này bằng một ý ngắn gọn, thì đó là: phát triển bền vững phải bắt đầu từ con người và được soi đường bởi văn hóa. Kinh tế mạnh là cần thiết, nhưng chưa đủ. Thể chế hiện đại là cần thiết, nhưng chưa đủ. Quốc phòng, an ninh vững chắc là cần thiết, nhưng chưa đủ. Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi tất cả những điều đó được đặt trên nền tảng văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo.
Kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấm thía rằng di sản lớn nhất Người để lại không chỉ là độc lập, tự do, mà còn là một quan niệm sâu sắc về con người, về Nhân dân, về văn hóa, về đạo đức, về phát triển. Bác đã nhìn thấy trong mỗi người dân Việt Nam một nguồn sức mạnh. Bác đã đặt hạnh phúc của Nhân dân vào trung tâm của mọi mục tiêu cách mạng. Bác đã coi văn hóa là ánh sáng soi đường. Bác đã căn dặn cán bộ phải là công bộc của dân, Đảng phải xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân.
Hôm nay, dưới ánh sáng ấy, chúng ta bước vào kỷ nguyên mới với niềm tin lớn hơn, trách nhiệm cao hơn và khát vọng mạnh mẽ hơn. Con đường phía trước chắc chắn còn nhiều khó khăn, nhưng nếu biết đặt văn hóa ở nền tảng, con người ở trung tâm, Nhân dân là chủ thể, hạnh phúc là mục tiêu, đổi mới là phương thức và lợi ích quốc gia - dân tộc là tối thượng, Việt Nam sẽ có đủ sức mạnh để vươn lên.
Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định ở phần kết bài viết: “Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn”.
Đó không chỉ là niềm tin, mà còn là lời hiệu triệu hành động. Và trong lời hiệu triệu ấy, văn hóa và con người chính là nền tảng sâu xa nhất, bền vững nhất để đất nước đi xa, đi vững và đi đúng con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soi sáng cho dân tộc Việt Nam.