
Nói đến Hữu Thỉnh, nhiều bạn đọc nhớ trước hết đến một trong những thi nhân tiêu biểu của nền văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cùng với Vũ Quần Phương, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Duy…, ông thuộc thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong chiến tranh, vừa cầm súng vừa làm thơ. Thơ đã làm nên vị trí của Hữu Thỉnh trên văn đàn và đem lại cho ông Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001 (trường ca Đường tới thành phố và các thi tập Thơ mùa đông, Thơ Hữu Thỉnh), Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2012 (thi tập Thương lượng với thời gian, trường ca Biển). Nhưng nếu chỉ nhìn Hữu Thỉnh từ tư cách một nhà thơ thì chưa đủ. Qua cả chục tập thơ, bút ký - truyện ngắn, tiểu luận - phê bình và mới đây là tiểu thuyết Thép dưới cỏ, có thể thấy một hành trình sáng tạo rộng dài, ở đó Hữu Thỉnh liên tục mở rộng địa hạt văn chương của mình.
Về thơ, có thể kể đến hơn mười thi phẩm hay trong đời thơ Hữu Thỉnh: Tiếng hát trong rừng, Chuyến đò đêm giáp ranh, Đêm chuẩn bị, Phan Thiết có anh tôi, Bầu trời trên giàn mướp, Bữa cơm chiều trong dinh Độc Lập, Thơ viết ở biển, Sang thu, Chiều sông Thương, Sức bền của đất, Xứ Phật, Xa vắng, Ước, Hoa tặng… Thời chống Mỹ, công chúng biết nhiều đến bài thơ Trên một chiếc xe tăng, sau được nhạc sĩ Doãn Nho phổ nhạc: Năm anh em trên một chiếc xe tăng/ Như năm bông hoa nở cùng một cội/ Như năm ngón tay trên một bàn tay/ Ðã xung trận cả năm người như một/ Vào lính xe tăng anh trước anh sau/ Nết ăn ở người thì lạnh, nóng/ Khi đã hát hòa cùng một giọng/ Một người đau tất cả quên ăn/ Năm anh em mỗi đứa một quê/ Ðã lên xe là cùng một hướng/ Đã lên xe là chung khổ sướng/ Trước quân thù nhất loạt xông lên...
Bài thơ phản ánh một phần cái hiện thực hào hùng, sôi động của cuộc kháng chiến cũng như nét đẹp trong đời thường và trong chiến đấu của người lính. Ông viết không hề tô vẽ về những gì mình đã trải qua. Dẫu vậy, nói đến thơ phổ nhạc của Hữu Thỉnh, người viết thích cái sâu lắng của Thơ viết ở biển hơn: Anh xa em/ Trăng cũng lẻ/ Mặt trời cũng lẻ/ Biển vẫn cậy mình dài rộng thế/ Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn/ Gió không phải là roi mà đá núi phải mòn/ Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím/ Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến/ Vì sóng đã làm anh/ Nghiêng ngả/ Vì em...
Hữu Thỉnh có năng lực quan sát tinh tế. Từ hiện thực cuộc sống, ông lẩy ra những chi tiết đời thường nhưng giàu sức gợi, viết nên những câu thơ vô cùng tài hoa. Có thể lấy dẫn chứng qua thi phẩm Sang thu: Bỗng nhận ra hương ổi/ Phả vào trong gió se/ Sương chùng chình qua ngõ/ Hình như thu đã về/ Sông được lúc dềnh dàng/ Chim bắt đầu vội vã/ Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu/ Vẫn còn bao nhiêu nắng/ Đã vơi dần cơn mưa/ Sấm cũng bớt bất ngờ/ Trên hàng cây đứng tuổi.

Cần phải nói thêm là xưa nay, không có gì phong phú, đa dạng và hay bằng những bài thơ thu, những câu thơ thu. Bởi “Thơ là thu của lòng người, thu là thơ của đất trời”. Cách đây hơn 2.500 năm, trong Kinh Thi đã có những bài xứng đáng là kiệt tác về thu. Ở Việt Nam, thơ thu xuất hiện chậm hơn nhưng chúng ta không thiếu các câu thơ hay về thu thời Hồng Đức (Vàng phô rãnh cúc khi sương rụng/ Bạc điểm ngàn lau thuở tiết mù), trong Truyện Kiều (Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biết non phơi bóng vàng), trong gia tài thi ca Nguyễn Khuyến (ba bài thơ thu nức tiếng)… Thời Thơ mới, là thi phẩm Tiếng thu của Lưu Trọng Lư; là hình ảnh Ô hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông trong thơ Bích Khê; Ô hay thu đã tới rồi sao/ Thu trước vừa qua mới độ nào trong thơ Chế Lan Viên; rồi Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác/ Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay của nữ sĩ Anh Thơ… Trước Hữu Thỉnh không lâu, Nguyễn Đình Thi cũng có những dòng tuyệt bút: Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may/ Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Tưởng chẳng còn gì cho thi sĩ quê Tam Dương, Vĩnh Phúc (cũ) viết nữa. Vậy mà trong một lần ra vườn nhà, trèo lên cây ổi thấy mùi hương ngào ngạt, mùi hương ấy đã đánh thức bao ký ức, khơi gợi bao cảm xúc của thi nhân. Mùa thu của Nguyễn Khuyến là mùa thu tĩnh vùng chiêm trũng, nhà thơ mượn động để nói tĩnh (Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo); mùa thu trong thơ Nguyễn Đình Thi là mùa thu kháng chiến xôn xao, náo nức (Trong biếc nói cười thiết tha); mùa thu của Hữu Thỉnh là vừa có lại vừa không trong thời khắc giao mùa ngay vườn nhà. Mùi hương ổi là có, còn mọi thứ - nào sông được lúc dềnh dàng, chim bắt đầu vội vã… do cảm nhận. Hai câu cuối khổ 2 thật vô cùng ảo diệu, sản phẩm của một trí tưởng tượng tuyệt vời bởi ngoài Hữu Thỉnh, ai đã thấy, đã cảm được hình ảnh: Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu?
Những gì chúng tôi viết trên đây để chia sẻ với bạn đọc về tư cách thi nhân của Hữu Thỉnh. Song nếu chỉ gọi Hữu Thỉnh là nhà thơ, e không đầy đủ, toàn diện. Bởi cuối năm 2025, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã cho ra mắt bộ Tuyển tập Hữu Thỉnh (3 tập) khá bề thế. Bên cạnh thơ, là tập sách về bút ký - truyện ngắn. Ký Hữu Thỉnh vẫn cho người đọc thấy năng lực quan sát tinh tế, nhất là sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong miền biên viễn - lại giàu chất suy tưởng của ông. Có thể kể đến những tác phẩm như: Mùa xuân trên tháp pháo xe tăng, Trước cửa mở, Đi giữa đồng lúa, Gối đường biên, Đi trẩy nước non Cao Bằng, Ghi chép ở Đồng Đăng… Đây là một đoạn văn rất giàu chất thơ về non nước Cao Bằng: “Ai chưa lên Lục Khu thì chưa thể hình dung đi trẩy nước non Cao Bằng là như thế nào. Những dãy núi đá từ Cao nguyên Đồng Văn chạy về phía Đông qua huyện Mèo Vạc tạo nên con đường đèo Mã Pí Lèng nổi tiếng. Rồi chạy tiếp nữa sang huyện Bảo Lạc của Cao Bằng. Tới Lục Khu nó dựng đứng lên như một cái bờm ngựa cao chất ngất. Một thế giới đá. Một thiên đường đá. Con đường đất như một sợi chỉ vắt từ đỉnh này sang đỉnh khác, một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực thẳm rợn người, thách thức hệ thần kinh của lữ khách. Có cảm giác như đang đi vào nơi tận cùng của thế giới…

Còn đây là hình ảnh thị trấn Đồng Đăng năm 1979: “Nằm giữa một vùng đồi núi vây bọc tứ bề, thị trấn Đồng Đăng hiện ra như một chùm quả mà con người mời mọc trước thiên nhiên. Những căn nhà gác mái xinh xẻo với mái ngói màu mận chín, dấu tích của một thời làm ăn dè xẻn. Những ngõ nhỏ rải đá thức dậy từ sớm trong tiếng xe ngựa lộc cộc khắc khổ. Tiếng bổ củi vang dội vào vách đá để sau đó lại hối hả dội về, nghe không hẳn là tiếng búa nữa mà là một phiên bản của sự điềm tĩnh cần lao. Tới phố nào cũng phảng phất mùi thuốc bắc, mùi xạ hương và mùi thuốc lá cuốn. Ngôi chùa cổ thu mình sau một gốc si cổ thụ rườm rà: Bức tường đá phủ rêu tỏ ra bằng lòng với sự vắng khuất, còn mùi hoa dại lại muốn là nhà nghệ sĩ phóng túng đem sự nhẹ nhõm đến cho con người. Chợ Đồng Đăng một tháng sáu phiên. Mùa nào thức ấy với những đặc sản nổi tiếng: Mía Thâm Mô, hồng Hang Chui chở xuống. Sang đến tháng Bảy, tháng Tám dương lịch, trong lúc dưới xuôi còn đang đánh vật với rau muống thì ở Đồng Đăng đã có cà chua và su hào bán đầy chợ. So với những phiên chợ của Mường Khương, Pha Long thì màu sắc ở Đồng Đăng đơn điệu hơn nhưng tập trung hơn: Hầu như tất cả là màu chàm”. Quả thực, ký Hữu Thỉnh xứng đáng được nghiên cứu, tìm hiểu kỹ hơn ở các góc nhìn văn hóa học, nhân học văn hóa.
Ngoài thơ, ngoài bút ký - truyện ngắn, Hữu Thỉnh còn có nhiều đóng góp với văn đàn ở mảng tiểu luận - phê bình văn học. Ông viết khá sung sức. Dù viết về những tác giả mà tài năng văn chương đã được khẳng định như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Hữu Loan, Nguyên Hồng, Huy Cận, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Nguyễn Đình Thi, Thôi Hữu… hay những người trẻ “hậu đổi mới” và đương đại, ông đều có cái nhìn liên tài, mang tính phát hiện. Ông chỉ ra từ cái bình thường đến cái khác thường của Thanh Tịnh; tính thời sự trong tác phẩm Nam Cao. Ông nhận thấy một tình yêu quá cỡ ở Thu Bồn; một nhịp lắc lơ lửng, chông chênh trong sự bát ngát của Chính Hữu; Y Phương đục đá kê cao quê hương… Ông cất lên tiếng nói tri âm với nhà thơ Nguyễn Bính: “Một người nặng lòng với văn hóa dân tộc như thế sẽ đến với cách mạng và kháng chiến là lẽ dễ hiểu. Đi với cách mạng và kháng chiến, thơ Nguyễn Bính được làm giàu thêm bởi tinh thần thời đại, đó là cuộc chiến đấu không phải để cứu vớt một nỗi buồn hiu hắt cá nhân mà là một cuộc đổi đời to lớn giải phóng cả một dân tộc. Nguyễn Bính làm tất cả những gì có thể làm được để phụng sự kháng chiến, không ngần ngại đó có là thơ hay là không thơ, nghệ thuật hay là không nghệ thuật…”; ông dùng con mắt xanh để đọc văn Nguyễn Tuân: “Nếu như nét nổi bật của văn chương hiện thực là sự tố cáo, của Tự lực văn đoàn là lãng mạn và thỏa hiệp thì nét nổi bật trong văn chương Nguyễn Tuân là sự bất yên. Hưởng lạc cũng bất yên, chơi ngông cũng bất yên, bước vào tháp ngà cũng bất yên và xê dịch càng bất yên hơn nữa. Nguyễn Tuân cô đơn trong sự bất yên của mình và đẩy nó lên thành đứa con hoang của thời đại. Nguyên nhân của sự bất yên đó là khối mâu thuẫn dân tộc, giai cấp không thể dung hòa và đang được đẩy đến độ sôi. Trước những đợt sóng ngầm đang chuyển động tận đáy xã hội, nói Nguyễn Tuân là nhà cách mạng e quá sớm nhưng bảo ông là người yêu nước không có gì quá đáng. Văn chương trước 1945 không có nhà văn nào tự soi chiếu, tự chẻ nhỏ một cách đau đớn và thành thực, ngỗ ngược và can đảm như Nguyễn Tuân trong xu hướng đi tìm một lối thoát”.
Sáng tác của Hữu Thỉnh có đủ cả thơ, ký - truyện ngắn, tiểu luận - phê bình với cả chục đầu sách, hàng nghìn trang in… trong đó, nhiều tác phẩm được xã hội, bạn đọc ghi nhận quả là đáng nể. Và mới đây, khi bộ Tuyển tập vẫn còn thơm mùi mực, độc giả lại đã thấy Hữu Thỉnh ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tay Thép dưới cỏ ở tuổi… 84. Tác phẩm được khơi nguồn cảm hứng từ chiến dịch Tà Mây - Làng Vây năm 1968, trận đầu tiên xe tăng Quân giải phóng tham gia tấn công cứ điểm; “tái hiện sinh động một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc qua những tình huống giàu kịch tính, khắc họa đậm nét bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quả cảm của người lính, cùng tình đồng đội, tình quân dân và vẻ đẹp của con người trong chiến tranh. Phần kết của tác phẩm mở rộng mạch tự sự sang những năm tháng sau chiến tranh, tạo chiều sâu cho số phận nhân vật, khơi gợi những suy ngẫm về ký ức, sự hy sinh, giá trị của hòa bình và sức sống bền bỉ của con người”.
Thép dưới cỏ cho chúng ta thêm dẫn chứng sinh động, thuyết phục, xác đáng về một sự nghiệp văn học đa dạng, nhiều thành tựu của Hữu Thỉnh! Và chắc rằng, ông sẽ còn tiếp tục cần mẫn cày ải trên cánh đồng văn chương rộng lớn.

PHẠM VÕ THANH HÀ
Nguồn: Tạp chí VHNT số 656, tháng 9/2026