Lễ hội trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng
Lễ hội Thành hoàng ở làng Hòa Mục được tổ chức hằng năm (hội lệ) vào ngày 12/2 âm lịch và chính hội thì diễn ra 5 năm một lần. Điều này phản ánh tính định kỳ và tính cộng đồng bền vững của nghi lễ.
Công tác chuẩn bị cho lễ hội Thành hoàng làng Hòa Mục được tiến hành công phu với việc tổ chức đội rước, nghi trượng và phân công nhân sự. Các nghi trượng như kiệu bát cống, kiệu long đình, đội bát bửu và cờ quạt góp phần tạo nên không gian linh thiêng cho lễ hội. Một trong những nét đặc sắc của phần lễ nơi đây là hệ thống lễ vật dâng cúng mang đậm dấu ấn văn hóa nông nghiệp. Các lễ vật được dâng tại đình phản ánh rõ đời sống của cư dân nông nghiệp truyền thống, trong đó, nổi bật là tục cúng cá chép kho - một tập tục được duy trì qua nhiều thế hệ. Kết quả cuộc phỏng vấn từ thủ từ đình làng Hòa Mục (ngày 15/3/2026) cho thấy, việc dâng cúng cá chép gắn liền với môi trường sông nước và sinh kế nông nghiệp, vì vậy, trở thành biểu tượng cho ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Chi tiết này cho thấy, lễ vật dâng cúng trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Hòa Mục không chỉ mang ý nghĩa nghi lễ, mà còn phản ánh dấu ấn văn hóa nông nghiệp và khát vọng về cuộc sống no đủ, thuận hòa của cộng đồng cư dân địa phương.
Cũng như các địa phương khác, trong thực hành tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng Hòa Mục, phần lễ giữ vai trò trung tâm trong việc biểu đạt đời sống tâm linh và phản ánh cấu trúc văn hóa cộng đồng. Theo một số nhà nghiên cứu (Nguyễn Duy Hinh, 1996; Trần Đăng Sinh, Nguyễn Phương Hà, 2022), bên cạnh việc tri ân và tôn kính thần linh, các nghi lễ còn góp phần vào việc giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”. Phần lễ vừa mang tính thiêng, vừa là phương thức lưu giữ ký ức cộng đồng, củng cố bản sắc văn hóa và gắn kết cư dân địa phương. Phần lễ trong lễ hội ở đình làng Hòa Mục thể hiện rõ tính cộng đồng khi người dân địa phương tự nguyện đóng góp công sức, kinh phí và tích cực tham gia vào quá trình chuẩn bị nghi lễ. Các thành viên tham gia tế lễ được lựa chọn kỹ lưỡng dựa trên phẩm chất đạo đức, uy tín trong cộng đồng và hoàn cảnh gia đình. Điều này phản ánh quan niệm truyền thống về sự thanh sạch và xứng đáng khi thực hành nghi lễ trước thần linh. Điều này không chỉ góp phần duy trì tính trang nghiêm của lễ hội, mà còn củng cố sự gắn kết và ý thức cộng đồng trong đời sống văn hóa của cư dân Hòa Mục.
Nghi lễ trong ngày chính hội làng Hòa Mục được tiến hành theo một trình tự quy củ và chặt chẽ. Mở đầu bằng các nghi thức thanh tẩy, như: bao sái và mộc dục, nhằm làm sạch không gian thờ tự và nghênh đón thần linh. Tiếp đó là các nghi lễ tế khai môn, tế nhập tịch với sự tham gia của đội tế nam và đội tế nữ, thể hiện tính cộng đồng và sự hài hòa trong thực hành tín ngưỡng. Các nghi thức chính được thực hiện tại đình Trong và đình Ngoài; tại đền Dục Anh chủ yếu tiến hành dâng hương. Sự phân cấp này phản ánh quan niệm về thứ bậc linh thiêng trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Hòa Mục, đồng thời, khẳng định vai trò trung tâm của đình làng trong đời sống tâm linh và sự cố kết cộng đồng địa phương.
Lễ rước được tổ chức vào sáng sớm - thời điểm biểu trưng cho sự giao hòa âm dương theo quan niệm truyền thống với sự hiện diện của hệ thống nghi trượng và diễn xướng dân gian, như: múa sư tử, phường bát âm, đội cờ và rước kiệu Thánh. Không khí lễ rước vừa náo nhiệt bởi tiếng trống, chiêng, nhạc lễ, vừa trang nghiêm qua sự thành kính của người tham dự. Người dân Hòa Mục thuộc nhiều thế hệ đều tham gia đoàn rước, tạo nên sức sống cộng đồng và thể hiện ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương. Bên cạnh tính trình diễn, nghi thức này còn là quá trình “hiện diện hóa” thần linh trong không gian làng xã, qua đó củng cố niềm tin và trật tự thiêng của cộng đồng. Tuy nhiên hiện nay, sự tham gia của thế hệ trẻ trong diễn trình lễ hội có xu hướng giảm sút đã đặt ra thách thức đối với việc bảo tồn và tiếp nối các thực hành nghi lễ truyền thống.
Phần hội trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng Hòa Mục là không gian văn hóa cộng đồng với nhiều hoạt động giao lưu và sinh hoạt tập thể. Nhiều trò chơi dân gian như bịt mắt bắt vịt, đập niêu… vẫn được duy trì, tạo nên không khí sôi nổi và góp phần nâng cao tinh thần gắn kết giữa các thành viên trong làng. Nếu phần lễ thiên về tính trang nghiêm và khuôn thức, thì phần hội lại tạo bầu không khí cởi mở, thu hút đông đảo cư dân tham gia. Thông qua các hoạt động này, tinh thần gắn kết và ý thức cộng đồng của làng xã truyền thống được củng cố và duy trì. Bữa cơm cộng đồng trong ngày chính lễ trở thành dịp để người dân địa phương cùng những người con xa quê gặp gỡ, sum họp và thắt chặt thêm tình làng nghĩa xóm.
Bên cạnh các hoạt động vui chơi, phần hội ở Hòa Mục còn nổi bật với những hình thức diễn xướng dân gian như múa sư tử và hát giao duyên. Trong tiết mục múa sư tử, hình tượng ông Địa biểu trưng cho sự no đủ và quan niệm hài hòa giữa con người với tự nhiên (Hoàng Văn Páo, Nguyễn Thị Vân Anh, 2022, tr.111). Các làn điệu hát giao duyên vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần, vừa góp phần lưu giữ nghệ thuật dân gian và truyền tải bản sắc địa phương cho thế hệ trẻ. Qua đó, phần hội trở thành môi trường quan trọng để bảo tồn ký ức văn hóa và duy trì sự gắn bó cộng đồng ở làng Hòa Mục.
Biến đổi của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng Hòa Mục trong bối cảnh đô thị hóa và những giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa
Biến đổi
Quá trình đô thị hóa đã tạo ra nhiều biến đổi trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở làng Hòa Mục, mà thể hiện trước hết ở nghi thức thờ cúng và tổ chức lễ hội. Do nhịp sống đô thị và áp lực thời gian, một số nghi lễ truyền thống đã được giản lược, tiêu biểu là nghi thức “nuôi trai kiệu, nữ kiệu” giữa hai kỳ đại lễ 5 năm/ lần (ghi chép thực địa ngày 7/2/2026). Trước đây, nghi thức này do các ông khởi chỉ (những người đứng đầu trong tổ chức nghi lễ ở làng) đảm nhiệm, nhằm hỗ trợ kinh phí và tổ chức tập luyện cho đội rước kiệu. Hiện nay, để tiết kiệm thời gian và chi phí, nghi thức đã bị lược bỏ. Lực lượng tham gia rước kiệu cũng thay đổi bởi thanh niên trong làng giảm dần do di cư lao động, buộc địa phương phải huy động sinh viên tình nguyện và bộ đội đóng quân trên địa bàn hỗ trợ.
Nhận thức và hành vi tín ngưỡng của người dân Hòa Mục hiện nay đã có nhiều thay đổi. Xu hướng chuyển từ đình sang đền trong thực hành thờ cúng phản ánh quan niệm phổ biến cho rằng, đền “thiêng” hơn đình. Từ đó, việc thờ Thành hoàng không còn chủ yếu mang ý nghĩa cộng đồng và tâm linh mà ngày càng gắn với nhu cầu cá nhân, như: cầu tài, cầu lộc. Thành hoàng vốn là biểu tượng bảo hộ cộng đồng, đã dần bị “công cụ hóa” như một phương tiện đáp ứng lợi ích cá nhân. Điều này cho thấy sự biến đổi trong hệ giá trị văn hóa, khi yếu tố thiêng bị pha trộn với động cơ vật chất và tâm lý cá nhân trong xã hội hiện đại.
Bên cạnh đó, không gian thờ tự cũng chịu tác động mạnh từ quá trình đô thị hóa. Việc thu hồi đất để xây dựng hạ tầng, đặc biệt là dự án đường Lê Văn Lương năm 2003, đã thu hẹp đáng kể không gian làng cổ Hòa Mục, kéo theo sự biến mất của nhiều kiến trúc truyền thống và thay đổi cảnh quan văn hóa (Gia Khánh, 2011). Sự biến đổi này ảnh hưởng nghiêm trọng đến không gian vật thể, đồng thời làm suy giảm một số chức năng sinh hoạt tín ngưỡng và gắn kết cộng đồng truyền thống.
Những biến đổi trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở làng Hòa Mục phản ánh rõ quá trình thích ứng của văn hóa truyền thống trước bối cảnh đô thị hóa. Điều này cũng phản ánh sự xung đột giữa yêu cầu bảo tồn các giá trị di sản văn hóa truyền thống với quá trình mở rộng và phát triển hạ tầng đô thị trong bối cảnh xã hội hiện đại.
Giải pháp
Trước hết, cần nâng cao nhận thức của chính quyền địa phương và người dân Hòa Mục về giá trị lịch sử, văn hóa và xã hội của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng. Chính quyền địa phương cùng các cơ quan văn hóa cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhằm giúp cộng đồng hiểu đúng bản chất của tín ngưỡng dân gian, đồng thời phân biệt giữa thực hành tín ngưỡng truyền thống với mê tín dị đoan. Việc lồng ghép giáo dục di sản vào gia đình, nhà trường và các hoạt động truyền thông tại phường Yên Hòa sẽ góp phần hình thành ý thức gìn giữ các giá trị văn hóa của đình, đền và lễ hội Hòa Mục. Đồng thời, cộng đồng cư dân cần phát huy vai trò chủ thể trong quá trình bảo tồn, bởi họ chính là những người trực tiếp thực hành nghi lễ và lưu truyền các giá trị truyền thống qua nhiều thế hệ.
Thứ hai, cần chú trọng bảo tồn không gian thờ tự, kiến trúc truyền thống và hệ thống di vật của cụm di tích đình - đền ở làng Hòa Mục. Trong quá trình đô thị hóa, công tác bảo tồn phải gắn với quy hoạch đô thị nhằm hạn chế sự thu hẹp của không gian thiêng. Việc tu bổ di tích cần tuân thủ nguyên tắc khoa học, giữ gìn kiến trúc gốc và cảnh quan văn hóa đặc trưng. Đồng thời, cần đẩy mạnh kiểm kê, bảo quản và số hóa các di vật, thần tích, sắc phong nhằm phục vụ lâu dài cho nghiên cứu, giáo dục và phát huy giá trị di sản.
Thứ ba, cần chú trọng phục hồi và duy trì nghi lễ truyền thống nhằm bảo đảm tính liên tục giữa các thế hệ ở làng Hòa Mục. Đây là yếu tố cốt lõi giúp tín ngưỡng thờ Thành hoàng tồn tại như một “di sản sống” trong đời sống cộng đồng tại phường Yên Hòa. Tuy nhiên hiện nay, sự tham gia của giới trẻ vào những hoạt động tín ngưỡng tại địa phương đang có xu hướng suy giảm. Vì vậy, cần tăng cường giáo dục và tuyên truyền về lịch sử - văn hóa địa phương, đồng thời tổ chức các hoạt động trải nghiệm, sinh hoạt tại cụm di tích đình Hòa Mục - đền Dục Anh để thu hút thanh niên tham gia. Việc chuẩn hóa và diễn giải nghi lễ theo hướng dễ hiểu, phù hợp với nhận thức hiện đại cũng góp phần rút ngắn khoảng cách giữa di sản truyền thống với thế hệ kế cận.
Thứ tư, cần tạo điều kiện để các bậc cao niên - những người rất am hiểu nghi lễ, phong tục và lịch sử của làng Hòa Mục, truyền dạy tri thức dân gian cho thế hệ trẻ thông qua các câu lạc bộ, lớp học và sinh hoạt cộng đồng. Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm duy trì tính liên tục của tín ngưỡng và tăng cường sự gắn kết giữa các thế hệ. Đồng thời, việc huy động nguồn lực xã hội hóa cho bảo tồn di sản tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng Hòa Mục cần được thực hiện công khai, minh bạch, tránh thương mại hóa làm suy giảm tính thiêng của không gian đình - đền.
Cuối cùng, cần kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ số trong lưu trữ, số hóa thần tích, nghi lễ và quảng bá di sản sẽ mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, quá trình phát huy giá trị phải luôn bảo đảm tôn trọng tính thiêng, tính cộng đồng và bản sắc văn hóa truyền thống của tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở làng Hòa Mục.
Như vậy, bảo tồn tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở làng Hòa Mục cần được nhìn nhận như một quá trình động, gắn với sự vận động của xã hội hiện đại. Chỉ khi kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và đổi mới, nét văn hóa truyền thống này mới có thể tiếp tục tồn tại và phát huy giá trị bền vững trong đời sống đương đại.
4. Kết luận
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng là một thành tố quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh, góp phần duy trì bản sắc và sự cố kết cộng đồng qua nhiều thế hệ người làng Hòa Mục. Trong bối cảnh đô thị hóa, truyền thống này đang có những biến đổi rõ nét trên phương diện nghi lễ, không gian thờ tự và nhận thức của người dân. Tuy nhiên, cộng đồng cư dân địa phương vẫn giữ vai trò trung tâm trong việc thực hành, duy trì và bảo tồn di sản tín ngưỡng thờ Thành hoàng trong điều kiện mới. Những thách thức đặt ra đòi hỏi phải có cách tiếp cận bảo tồn phù hợp, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Vì vậy, việc phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng người dân làng Hòa Mục nói riêng và phường Yên Hòa nói chung, cùng với sự hỗ trợ hiệu quả từ nhà nước là yếu tố then chốt, nhằm đảm bảo sự tồn tại bền vững của tín ngưỡng này trong đời sống đương đại.
_____________________
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Xuân Đính. (2005, 16 tháng 2). Làng Hòa Mục. Báo Hà Nội Mới. https://hanoimoi.vn/lang-hoa-muc 51546.html
2. Hoàng Văn Páo - Nguyễn Thị Vân Anh. (2022). Trò chơi - trò diễn dân gian. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
3. Gia Khánh. (2011, 9 tháng 4). Một làng cổ Hà Nội “thoi thóp” vì dự án “treo”. Báo Pháp luật điện tử. https://baophap luat.vn/mot-lang-co-ha-noi-thoi-thop-vi-du-an-treo post152666.html
4. Lê Văn Hưu - Phan Phu Tiên - Ngô Sĩ Liên. (1993). Đại Việt Sử ký toàn thư. Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch (1985-1992). Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
5. Lưu Minh Trị (chủ biên). (2011). Hà Nội Danh thắng và Di tích. (Tập 2). Nhà xuất bản Hà Nội.
6. Ngô Đức Thịnh. (2012). Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam. Nhà xuất bản Trẻ.
7. Nguyễn Bá Hân - Trương Sỹ Hùng. (2012). Thành hoàng làng Lý Phục Man ở Hà Nội. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.
8. Nguyễn Duy Hinh. (1996). Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
9. Tạ Chí Đại Trường. (2006). Thần - Người và Đất Việt. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.
10. Trần Đăng Sinh - Nguyễn Phương Hà. (2022, 1 tháng 9). Giá trị trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. https://frs.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/tac-gia-tac pham/gia-tri-trong-tin-nguong-tho-thanh-hoang-cua-nguoi viet-o-dong-bang-bac-bo-129.html
11. Trần Lâm Biền. (2017). Đình làng Việt. Nhà xuất bản Hồng Đức.
12. Tư liệu điền dã của nhóm tác giả tại làng Hòa Mục (phường Yên Hòa, Hà Nội), tháng 2-3/2026.
13. Tư liệu về cụm di tích đình - đền ở làng Hòa Mục. Tài liệu nội bộ làng Hòa Mục (phường Yên Hòa, Hà Nội).
Ngày Tòa soạn nhận bài: 4/5/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 17/5/2026; Ngày duyệt đăng: 30/5/2026.
TS BÙI THỊ ÁNH VÂN - ĐỖ HẢI YẾN NHI - TÒNG THỊ BIÊN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 651, tháng 8/2026