a1 HT1.jpg
Toàn cảnh Hội thảo - Ảnh: Hồng Vân

Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Long Biên chia sẻ, dân tộc Chăm hiện sinh sống tại nhiều tỉnh, thành phố khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ, tập trung ở Khánh Hòa, Lâm Đồng, An Giang... Văn hóa Chăm là một nền văn hóa đặc sắc trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam, để lại nhiều dấu ấn nổi bật trong kiến trúc, điêu khắc, tín ngưỡng, lễ hội, chữ viết, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, nghề thủ công truyền thống và đời sống cộng đồng.

Trải dài khu vực Duyên hải miền Trung và Nam Bộ, văn hóa Chăm được bảo tồn, đậm nét qua các hệ thống đền tháp cổ kính, như: Khu di tích Mỹ Sơn, tháp Bằng An, tháp Chiên Đàn, tháp Khương Mỹ tại Đà Nẵng; tháp Cánh Tiên, tháp Đôi, tháp Dương Long, tháp Bánh Ít... tại Gia Lai; tháp Nhạn tại Đắk Lắk; tháp Bà Ponagar, cụm tháp Hòa Lai, tháp Pô Klông Garai và tháp Pô Rôme tại Khánh Hòa; cụm tháp Po Dam, Tháp Po Sha Nư tại Lâm Đồng, Tháp cổ Bình Thạnh tại Long An... Ngoài ra còn có các lễ hội Katê, lễ Ramưwan, lễ Ramadam; Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Thánh đường Hồi giáo của người Chăm tại An Giang… đã và đang là điểm đến thu hút du khách trong nước và quốc tế.

Một trong những giá trị nổi bật của văn hóa Chăm là hệ thống nghề thủ công truyền thống, đặc biệt là nghề làm gốm. Năm 2022, UNESCO đã ghi danh “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây được xem là sự ghi nhận quốc tế đối với những giá trị văn hóa đặc sắc mà cộng đồng người Chăm đã gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ.  

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Long Biên phát biểu khai mạc Hội thảo - Ảnh: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Khánh Hòa.jpg
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Long Biên phát biểu khai mạc Hội thảo - Ảnh: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Khánh Hòa

Ông Nguyễn Long Biên nhấn mạnh: việc phát huy giá trị di sản văn hóa Chăm gắn với phát triển du lịch không chỉ là tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống mà còn khẳng định giá trị văn hóa của cộng đồng, của nỗ lực chung tay góp sức để phát huy giá trị văn hóa Chăm trước những thách thức trong xu thế hội nhập và kinh tế thị trường. Hội thảo đón nhận sự tham gia góp ý của các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý, các doanh nghiệp dịch vụ du lịch nhằm đưa ra những giải pháp hữu hiệu để phát huy giá trị văn hóa Chăm gắn với phát triển du lịch của địa phương. 

a3 HT4.jpg
Nguyên Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Ninh Thuận PGS, TS Phan Quốc Anh phát biểu đề dẫn Hội thảo - Ảnh: Hồng Vân

Hội thảo gồm 2 phiên, với các chủ đề: Bảo tồn, phát huy giá trị Văn hóa Chăm trong giai đoạn hiện nay; Giải pháp phát huy hiệu quả giá trị Văn hóa Chăm với phát triển du lịch hiện nay.

Tại Hội thảo, nhiều tham luận tập trung làm rõ những giá trị nổi bật của văn hóa Chăm trong lịch sử và hiện tại. Theo các nhà nghiên cứu, văn hóa Champa hình thành và phát triển trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa mạnh mẽ. Xã hội Champa không phải là một xã hội thuần nhất mà là mô hình đa tộc người, trong đó người Chăm giữ vai trò chủ thể, đồng thời tiếp nhận và kết nối nhiều yếu tố văn hóa khác nhau. Chính tính mở và đa dạng ấy đã tạo nên sức sống lâu bền cho nền văn hóa Champa. 

Các nhà khoa học cũng cho rằng, trên phương diện kinh tế, người Chăm đã tạo dựng nên một nền kinh tế tổng hòa, biết khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên từ núi rừng, đồng bằng và biển cả. Champa từng được biết đến như một “vương quốc biển”, giữ vai trò quan trọng trong mạng lưới giao thương khu vực và quốc tế. Những tuyến hải thương kết nối vùng, liên vùng và liên thế giới đã góp phần đưa các sản vật như trầm hương, quế, sừng tê, ngà voi, hồ tiêu, mật ong, gỗ quý... đến nhiều thị trường lớn trong khu vực. 

a5 HT5.jpg
Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, GS, TS Nguyễn Văn Kim trình bày tham luận - Ảnh: Hồng Vân

Không chỉ phát triển kinh tế biển, người Chăm còn sở hữu nhiều tri thức đặc sắc về thủy lợi và thích ứng với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Các công trình giữ nước, hệ thống giếng cổ cùng kỹ thuật khai thác nước ngầm cho thấy trình độ hiểu biết sâu sắc của cư dân Chăm về môi trường sống. Những kinh nghiệm ấy hiện vẫn mang giá trị tham khảo trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. 

a 6 HT6.jpg
PGS, TS Ngô Văn Doanh trình bày tham luận - Ảnh: Hồng Vân

Một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là giá trị của hệ thống đền tháp Chăm còn tồn tại đến ngày nay. Theo  PGS, TS Ngô Văn Doanh, các đền tháp Champa ở Khánh Hòa và khu vực Nam Trung Bộ phản ánh quá trình phát triển liên tục của nghệ thuật kiến trúc Chăm qua nhiều giai đoạn lịch sử. Từ cụm tháp Hòa Lai thuộc giai đoạn đầu của nghệ thuật đền tháp Champa, đến Tháp Bà Nha Trang mang phong cách chuyển tiếp giữa hai trường phái kiến trúc lớn và các công trình tiêu biểu như Pô Klaung Garai, Po Rome ở giai đoạn cuối của nghệ thuật Champa, tất cả đã tạo nên một hệ thống di sản kiến trúc độc đáo, có giá trị đặc biệt về lịch sử, nghệ thuật và văn hóa. 

Theo các nhà nghiên cứu, đền tháp không chỉ là công trình tín ngưỡng mà còn là nơi hội tụ cộng đồng, không gian giáo dục, lưu giữ tri thức và truyền tải các giá trị văn hóa qua nhiều thế hệ. Đối với cư dân hướng biển như người Chăm, nhiều đền tháp còn đóng vai trò là những cột mốc định hướng cho hoạt động hàng hải, gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng. 

Bên cạnh việc nhận diện giá trị di sản, hội thảo cũng dành nhiều thời gian thảo luận các giải pháp bảo tồn. Đại diện Viện Bảo tồn Di tích trình bày tham luận về việc ứng dụng công nghệ bảo quản, nhằm đảm bảo tính bền vững cho vật liệu đền - tháp Champa. Theo đó, hệ thống đền tháp Champa hiện đang chịu nhiều tác động tiêu cực từ điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao, nấm mốc, rêu tảo, địa y, hiện tượng muối hóa và sự xuống cấp tự nhiên của vật liệu. 

Trong nhiều năm qua, Viện Bảo tồn Di tích đã nghiên cứu và thử nghiệm nhiều chế phẩm chuyên dụng nhằm làm sạch, loại bỏ các tác nhân sinh học gây hại và bảo vệ bề mặt vật liệu gạch, đá tại các di tích Champa. Kết quả thực nghiệm tại Mỹ Sơn, Tháp Bà Pô Nagar và một số di tích khác cho thấy các giải pháp này có khả năng loại bỏ hiệu quả nấm mốc, rêu tảo và địa y, đồng thời hạn chế độ ẩm, giảm nguy cơ tái phát các tác nhân gây hại mà không làm thay đổi màu sắc hay cấu trúc vật liệu gốc. 

Các chuyên gia bảo tồn kiến nghị cần tăng cường khảo sát định kỳ hiện trạng vật liệu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng quy trình kỹ thuật chuyên ngành đối với đền tháp Champa, tăng cường quan trắc môi trường di tích, đào tạo đội ngũ cán bộ bảo tồn và xây dựng cơ sở dữ liệu số phục vụ công tác quản lý lâu dài. 

a7 HT7.jpg
PGS, TS Nguyễn Duy Thiệu trình bày tham luận - Ảnh: Hồng Vân

Một trong những chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm tại hội thảo là giải pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” sau khi được UNESCO ghi danh. Tham luận của Cục Di sản văn hóa khẳng định nghề làm gốm truyền thống của người Chăm là một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, gắn bó mật thiết với đời sống kinh tế, văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng. Nghề gốm Chăm mang nhiều nét độc đáo như tạo hình hoàn toàn bằng tay, không sử dụng bàn xoay, nung ngoài trời bằng nguyên liệu tự nhiên và sở hữu hệ thống hoa văn mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian Chăm. 

Tuy nhiên, nghề gốm Chăm hiện đang đối mặt với nhiều thách thức. Số lượng nghệ nhân và người thực hành nghề có xu hướng giảm, lực lượng kế cận còn thiếu hụt. Nguồn nguyên liệu truyền thống ngày càng khan hiếm trong khi sản phẩm phải cạnh tranh mạnh mẽ với hàng công nghiệp giá rẻ. Bên cạnh đó, sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, hoạt động số hóa và quảng bá trên các nền tảng số chưa thực sự hiệu quả. 

Theo các chuyên gia, cộng đồng phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi hoạt động bảo vệ di sản. Nghệ nhân và người thực hành không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể sáng tạo, truyền dạy và gìn giữ các giá trị văn hóa. Việc bảo vệ di sản không có nghĩa là “đóng băng” di sản mà cần tạo điều kiện để di sản tiếp tục phát triển trong bối cảnh mới, gắn với du lịch văn hóa và kinh tế sáng tạo nhằm tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng. 

Sau khi được UNESCO ghi danh, nhiều hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị nghề gốm Chăm đã được triển khai. Công tác kiểm kê, tư liệu hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu, trưng bày chuyên đề, quảng bá tại các lễ hội và không gian văn hóa được đẩy mạnh. Các mô hình kết nối di sản với du lịch cộng đồng tại Bàu Trúc và Mỹ Nghiệp bước đầu tạo hiệu ứng tích cực trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển sinh kế cho người dân. 

Tại Hội thảo, các đại biểu thống nhất rằng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng người Chăm mà còn là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển du lịch, việc nhận diện đầy đủ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, đồng thời xây dựng các giải pháp bảo tồn phù hợp, sẽ góp phần đưa di sản Chăm tiếp tục lan tỏa, trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, xã hội bền vững.

Tổng kết  Hội thảo, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản Văn hóa quốc gia GS, TS Nguyễn Văn Kim khẳng định: Hội thảo đã thu hút được sự tham gia của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu từ cả ba miền đất nước thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Ban tổ chức đã nhận được 56 tham luận, trong đó có nhiều tham luận là kết quả của sự dày công khảo cứu chuyên sâu, tâm huyết nhiều chục năm của các nhà khoa học. Tại Hội thảo, các đại biểu đã nghe 12 ý kiến tham luận và nhiều ý kiến thảo luận, trao đổi tâm huyết của các nhà khoa học. Qua các tham luận và ý kiến phát biểu, nhiều thông tin, quan điểm khoa học, đề xuất, cách thức tiếp cận, giải pháp đã được nêu ra. Để văn hóa thực sự là di sản sống, góp phần thiết thực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, nên đẩy mạnh các hoạt động kinh tế di sản, có kế hoạch để thực hiện một lộ trình gồm 4 bước: nhận diện loại hình, tài nguyên di sản; di sản hóa các tài nguyên văn hóa; kinh tế hóa các di sản văn hóa; biến các di sản văn hóa thành sản phẩm hàng hóa đặc thù để đưa ra thị trường. Mục tiêu căn bản là tập trung phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản, du lịch di sản, tạo bước đột phá trong mô hình phát triển nhanh nhưng trên nền tảng là phát triển xanh và bền vững.

Tư duy liên kết vùng, liên kết hệ hình, liên kết giá trị, liên kết công nghệ kỹ thuật để bảo tồn di sản văn hóa Chăm, liên kết kinh tế giữa kinh tế ngày và kinh tế đêm, liên kết điểm đến và các tour tuyến du lịch, các giải pháp bảo tồn phát huy giá trị sau khi được vinh danh và công nhận như thế nào… đã được các đại biểu là đề xuất táo bạo nhưng cũng rất khả thi, giàu tính thực tiễn và đó chính là tính mới đóng góp chiều sâu chuyên môn và tạo nên sức lan tỏa của Hội thảo. GS, TS Nguyễn Văn Kim tin tưởng rằng, trong chặng đường mới với những mục tiêu và chiến lược phát triển lâu dài, di sản văn hóa sẽ là điểm tựa, động lực vững chắc, đồng thời thực sự trở thành một hệ điều tiết xã hội bảo đảm cho định hướng phát triển xanh và bền vững của Khánh Hòa cũng như văn hóa Việt Nam.