
Xuân đến bên thềm rực sắc màu
Đối với văn hóa Việt Nam, nhu cầu làm đẹp tập trung cao độ vào dịp Tết Nguyên đán khi mùa Xuân bắt đầu tái sinh lại trong những nụ mầm xanh mướt hay những vườn hoa rực rỡ sắc màu. Càng cận Tết, chợ hoa càng náo nhiệt vì người dân đổ xô đi chọn cây cảnh, chọn hoa về trưng Tết. Dù nhà nghèo khó hay thiếu thốn đến đâu thì cũng phải sắp một bình hoa tươi thắm hay mâm ngũ quả để đặt lên ban thờ, hay kiếm cành đào, chậu quất hay chậu mai trắng, mai vàng để tô điểm cho căn nhà trước thềm xuân sang.
Trước đây theo truyền thống, nhà tôi hay bày hai bên ban thờ đôi chậu cúc vạn thọ vàng ấm trên đôn sứ xanh ngọc, đôi lọ hoa hải đường có lá xanh già giặn làm nổi bật bông hóa đỏ thâm trầm; sân nhà bày chậu cúc bách nhật, cúc vàng. Bố tôi nói, cúc vạn thọ để thay cho lời chúc thọ người cao tuổi trong nhà.
Mẹ tôi thì không bao giờ quên mua mấy gói hoa cúng gồm hoa huệ, lan móng rồng, ngọc lan, hoa ngâu, hoa mào gà, thược dược v.v. Đôi tay của cô bán hàng hoa thon thon búp măng nhưng nhanh thoăn thoắt; chừng độ một hai phút, gói hoa thơm thơm kín đáo, xinh xắn, gói bằng mảnh lá chuối buộc sợi rơm hay sợi lạt đã xong để mẹ tôi mang về cài lồng vào nải chuối bày trên ban thờ. Ra Giêng, khi mâm ngũ quả cũng đã tàn tàn, mẹ tôi thế nào cũng dành búp ngọc lan hay hoàng lan lấy từ ban thờ nhét vào túi áo của tôi để đầu tóc tôi cứ thoang thoảng mãi mùi hương Tết thanh tao.
Nhà cửa được quét dọn sạch sẽ, có khi “vôi ve” lại để có vẻ ngoại diện tinh khôi, khác với ngày thường. Rồi như trước đây, người ta kiếm tranh khắc gỗ dân gian như tranh Đông Hồ, Hàng Trống v.v. cùng cặp câu đối về treo trên vách hay dán lên cột nhà. Những con gà, con lợn, con chim tô vẽ bằng sắc màu nguyên khôi, giản dị, chất phác từ nguyên liệu tự nhiên dường như đem cả tiếng líu lo, tiếng cục tác, tiếng ủn ỉn vào căn nhà để bớt đi phần quạnh quẽ hàng ngày vì chủ nhà dành phần lớn thời gian ở ngoài đồng ruộng. Còn cặp câu đối giấy hồng điều thì đem lại khí vị của vẻ đẹp cổ kính vốn ngự trị trong không gian tâm linh. Tự nhiên người ta thấy như tiền nhân hiện về, chỉ bảo, dạy dỗ cho con cháu:
“Tuế hữu tứ thời Xuân tại thủ
Nhân sinh bách hạnh Hiếu vi tiên”
(Một năm có bốn mùa thì mùa Xuân là khởi điểm
Con người có trăm phẩm hạnh thì đức Hiếu lấy làm đầu).
Một số nhà có điều kiện sân vườn rộng rãi thì dựng cây Nêu với phụ kiện trang trí vừa có tính tâm linh vừa có nét văn hóa. Ngoài việc “xua đuổi” tà ma trong những ngày Tết khi Ông Táo “đi công tác”, hay chào đón tổ tiên từ thế giới bên kia về ăn Tết cùng gia đình thì cây Nêu chính là vật trang trí; nó báo hiệu Xuân về, tô điểm cho cả một góc vườn hay góc sân nhà trong dịp Tết. Chủ và khách có thể ngồi nhâm nhi tách trà, chén rượu, trò chuyện ở bàn nước kê trước cửa nhà, ngắm cây Nêu, nghe tiếng chuông gió hay tiếng lách cách của chiếc khánh và con giống đất nung, hít hà mùi hương thoang thoảng của cúc vàng, cúc vạn thọ hay hoa hồng bên thềm sân - đấy chính giây phút sống chậm để người ta thưởng thức cái Đẹp từ mối giao hòa với thiên nhiên mà ngày thường hiếm có được vì sự bộn bề, hối hả của công cuộc mưu sinh.
Tâm điểm trang trí trong căn nhà nào còn níu giữ thời gian hay nét sống xưa lại chính là ban thờ Phật và tổ tiên chứ không phải là phòng khách như thời hiện đại. Trước đây, mỗi độ Xuân về, bọn trẻ con chúng tôi được giao nhiệm vụ phụ giúp bà hay mẹ quét dọn ban thờ. Chúng tôi cẩn thận khuân đồ thờ ra sân; đồ sứ như lọ lộc bình, đĩa hoa quả, nậm rượu, chén bát thì rửa bằng nước sạch hay lau chùi lại cho hết lớp bụi bẩn để hiện rõ hình vẽ trang trí. Riêng đồ đồng như bộ “tam sự” thì phải dùng cát mịn thấm với khăn mềm mà xoa nhẹ cho “lên nước”; chỗ nào xỉn màu thì dùng dấm chua pha vào để đánh bay gỉ sét. Đêm giao thừa tối đen như mực, nhưng ban thờ lung linh một cách kỳ ảo nhờ ánh đèn dầu, ánh nến bạch lạp, hắt lên đồ thờ bằng đồng, đồ sứ, và sắc màu hoa quả, tạo ra bức tranh tổng thể khiến mùa Xuân ấm áp hẳn lên và phút chuyển giao giữa năm cũ-năm mới trở nên thiêng liêng, trang trọng.

“Chí cha chí chát khua giày dép”
Vốn ưu thời mẫn thế, lại sống ở thời điểm giao thoa giữa một Việt Nam cổ kính, đậm chất phong kiến và giờ đang rung chuyển trước làm sóng hiện đại, văn minh phương Tây đang ồ ạt tiến vào theo bước chân viễn chinh của thực dân, thi sĩ Tú Xương (1870-1907) không khỏi cảm thán về cảnh đón Tết ở xứ Bắc kỳ và kín đáo, gián tiếp khơi gọi lòng yêu nước của người dân:
“Chí cha chí chát khua giày dép
Đen thủi đen thui cũng lượt là
Dám hỏi những ai lòng cố quốc,
Rằng xuân - xuân mãi thế ru mà?”
(Trích: Xuân nhật ngẫu hứng)
Nếu đọc thoáng qua thi ta có thể vội kết luận là Tú Xương giễu nhại cảnh Tết của người dân. Nhưng thực ra, ngoài biểu thị sự khinh miệt cảnh Tết của số người đã nguội đi lòng yêu nước (“lòng cố quốc”) và lòng yêu văn hóa truyền thống khi vồ vập lối sống phương Tây thì thi sĩ đã diễn tả chính xác nhu cầu mặc đẹp trong dịp Tết. Và nhu cầu đó là phổ quát: từ trẻ con tới người lớn, từ nam thanh nữ tú tới nhũng người mà duyên phận không cho phép có ngoại hình bắt mắt. Dường như, nhu cầu mặc bộ áo quần tươm tất, lành lặn hay thậm chí là đẹp đẽ, sang trọng, lịch sự trong dịp Tết đã ăn sâu vào mỹ cảm của con người. Trang phục chính là thứ tạo cảm xúc, ấn tượng, hình thành nên đánh giá đầu tiên với người tiếp xúc mình.
Trước đây, để đón Tết, người dân quê nghèo thì chỉ mong có bộ áo quần mới, lành lặn. Nam giới ước sắm được bộ áo dài thâm, quần chúc bâu, chiếc khăn đóng để tham dự việc đình trung, họ tộc. Nữ giới nếu có điều kiện thì mới để dành bộ tứ thân, váy sồng, khăn vấn, nón thúng quai thao để dịp này mang ra trưng diện, sao cho “bằng chị bằng em”. Năm nào thời tiết lạnh thì người giàu có có thể mặc áo bông nhung hay áo bông chần hoa cúc, chữ Thọ; loại áo bông này thường thường là màu đen hay tía thẫm; còn quần hay váy của nữ giới thì nhất loạt màu đen láng và ngược lại, nam giới chỉ mặc quần trắng hay màu lụa ngà.
Khi tiếp nhận văn hóa phương Tây thì ở thị thành, nam giới nhà khá giả hay mặc bộ com-ple sánh cùng nữ giới thướt tha trong tà áo dài đã được cách tân. Những năm chiến tranh thì nữ giới có bộ áo cánh và chiếc quần đen bóng láng là đã ra vẻ sang trọng dù đó chỉ ở “mức bình dân”. Khi đất nước Mở cửa thì cũng có phụ nữ Việt mạnh dạn mặc loại áo hao hao chiếc “Sường xám’ của người Hoa. Lạ nhất là không biết xuất phát từ đâu kiểu cho con nít mặc áo đỏ thêu hoa và đội mũ đuôi sam kiểu nhà Mãn Thanh, tung tăng tung tẩy chạy nhảy trong mấy ngày Tết.
Bản thân tôi có mỗi nỗi ân hận lớn trong đời. Như bao đứa trẻ khác, tôi khát khao cháy bòng được mặc bộ quần áo lành lặn - chứ chưa nói là sang trọng hay đẹp đẽ - trong dịp Tết năm ấy, Tết thời bao cấp. Tôi đã “đặt yêu cầu” đó từ trong năm với bố mẹ. Bố tôi hứa nếu bán được lứa lợn tăng gia sản xuất thì sẽ mua quần áo mới cho tôi. Nhưng chẳng may, lợn bị dịch bệnh nên điều này không thành hiện thực. Nhưng không đành lòng trước khát khao của con trẻ nên bố đã hy sinh chiếc quần tây của mình để sang bác thợ may hàng xóm nhờ sửa lại thành quần trẻ con cho tôi. Sau này, dù đời sống đã khá giả lên nhưng bố tôi tuyệt nhiên không bao giờ nhắc lại chuyện này nữa. Còn tôi thì âm thầm “chôn” nó vào lòng và chỉ “khai quật” lại mỗi khi Tết đến với cảm giác hối hận về một ước vọng ích kỷ, một “tội lỗi” mà không bao giờ còn cơ hội chuộc được.
Trong khi Tết Việt hiện đại dường như vẫn đang còn e dè quay lại thăm dò di sản văn hóa trang phục truyền thống của ông cha thì vẻ đẹp của loại áo dài ngũ thân, áo dài nữ và các loại cổ phục được phục sinh trong thời gian gần đây đã truyền cảm hứng cho giới trẻ, góp phần kích thích và lan tỏa sự háo hức của họ về các dịp lễ tết, nhất là Tết cổ truyền; để họ có cơ hội “diện” các bộ quần áo bừng sáng sắc màu. Nhờ vậy, cái đẹp của Tết Việt được bồi bổ, được gia tăng, khả dĩ trở thành một sản phẩm văn hóa đặc sắc.

Chợ Tết, chợ hoa: “sản phẩm văn hóa?”
Vẻ đẹp của Tết Việt dựa trên cơ sở một triết lý sâu sắc trong cảm thức của người Việt Nam về nhu cầu thiết yếu, có tính sinh tồn, là sống hòa hợp với thiên nhiên, qua thành ngữ “Thiên- Nhân hợp nhất”. Tết Nguyên đán có lẽ là dịp người dân đất Việt tập trung cao độ để phô bày cái Đẹp trong cảnh quan môi sinh, trong trang phục, trong món ăn Tết, trong các phong tục tập quán tốt đẹp bởi lẽ đây là thời điểm quan trọng khi thiên nhiên chấm dứt một chu kỳ để vắt sang chu kỳ vận động mới. Theo đó, nhịp sống của con người cũng biến chuyển và người ta được tiếp thêm năng lượng mới, sinh lực mới.
Qua chợ Tết hay chợ Xuân, người ta có thể “bắt mạch” được phần nào mức sống và tâm thái của người dân. Ở Hà Nội, các chợ hoa Tết như Hàng Lược, Quảng An-Tây Hồ, Tây Tựu và một số chợ hoa, làng hoa khác không chỉ đơn thuần là nơi trao đổi buôn bán tấp nập trong dịp Tết mà rất có tiềm năng để khai thác du lịch văn hóa. Công ty du lịch có thể tổ chức tour về tham quan các khu chợ truyền thống gồm cả chợ hoa, hay làng hoa trong những ngày Tết để du khách cảm nhận sắc hương nồng nàn của dịp lễ truyền thống lớn nhất ở xứ sở này.
Ở các khu chợ Xuân như vậy, nên có các gian hàng cho du khách thuê cổ phục Việt hay áo dài Việt, chụp hình, check-in với cỏ cây hoa lá; có gian hàng viết thư pháp, giới thiệu tranh Tết và sản phẩm thủ công truyền thống để du khách có thể mua làm đồ lưu niệm.
Nơi nào không gian cho phép thì nên mạnh dạn dựng cây Nêu treo những vật trang trí Tết, lá phướn, con giống v.v. Tốt nhất là phục dựng một căn nhà truyền thống với ban thờ Tết. Nơi đó, khách dừng chân, uống chén trà và nghe ‘chủ nhà’ giới thiệu về Tết Nguyên đán với các thành phần tạo nên phong tục đó.
Sự bố trí các không gian chức năng Tết “gợi mở” có thể tuần tự theo quy trình: “chuẩn bị Tết và đón Tết, chơi Tết”. Hướng dẫn viên sẽ dẫn khách đi theo sơ đồ không gian đó để sao khi đi hết thì cũng là lúc du khách có cảm nhận sơ bộ nhưng tương đối rõ nét về vẻ đẹp của Tết Việt.
Có thể nói, Tết Nguyên đán là bức tranh tổng thể về cái Đẹp của văn hóa Việt Nam. Đồng thời nó cũng góp phần thanh tầy hoặc nuôi dưỡng tâm hồn con người vì Tết hướng tới cái Toàn mỹ. Hy vọng rằng, đó không chỉ là di sản văn hóa mà nó sẽ là kho chất liệu sáng tạo dồi dào để góp sức thúc đẩy công nghiệp văn hóa trong tương lai.
TRẦN ĐOÀN LÂM
Nguồn: Tạp chí VHNT số 632, tháng 1-2026