Minh họa của Vũ Đình Tuấn.jpg
Minh họa của Vũ Đình Tuấn

Có lẽ, Tết không khởi sự từ tiếng pháo giao thừa, cũng chẳng bắt đầu khi tờ lịch cũ rơi xuống. Tết, một cách lặng lẽ và bền bỉ, đến từ dáng lưng còng nơi góc bếp của những người phụ nữ từ những lo toan chắt chiu suốt cả một năm dài. Cứ dịp xuân về, mưa phùn khắp lối, đường xá thấp thoáng những cành đào, gánh bưởi là tôi lại nhớ mẹ - người đã sớm mang Tết về cho chúng tôi.

Mẹ tôi sinh ra ở vùng nông thôn Bắc Bộ, nơi có nghề hàng xáo, phụ nữ ở đây luôn tay với thóc, gạo, xay, giã, dần, sàng. Tuổi trẻ của bà lại gắn bó với mảnh đất Hà thành. Sau năm 1954, cùng bạn bè trang lứa, mẹ tôi gia nhập lực lượng thanh niên xây dựng cầu đường, có mặt trên nhiều tuyến đường sắt từ Lào Cai, Ninh Bình, Thanh Hóa đến Nghệ An. Trưởng thành trong thời kỳ bom đạn ác liệt, từ cấy hái, buôn bán đến nội trợ, việc gì mẹ tôi cũng thuần thục, để rồi nếp “hay lam, hay làm” thấm sâu vào máu thịt. Với mẹ, Tết không đợi đến tháng Chạp mới về. Tết đã nhen lên trong tâm trí từ những ngày hè oi ả hay khi gió heo may chớm lạnh. Ngay cả khi “tháng Ba, ngày Tám” thiếu trước hụt sau, mẹ đã âm thầm bắt đầu chuẩn bị cho sự sum vầy cuối năm.

Tôi nhớ như in cái chuồng lợn nơi góc vườn và đàn gà mơ mà anh em tôi được giao nhim v trông coi. Chúng không chỉ là vật nuôi, đó là “ngân hàng” của cả nhà, là niềm hy vọng về một cái Tết đủ đầy. Để có tiền lo Tết, mẹ đã chắt chiu nuôi lợn, thả gà từ giữa năm. Mẹ vẫn thường đứng tựa cửa chuồng, nhìn con lợn ụt ịt ăn cám mà lẩm nhẩm như cầu khấn: “Con lợn nó chậm lớn cũng được, nhưng cố gắng đến Tết nó được tầm sáu, bảy mươi cân tt ri”.

Câu nói ấy chứa đựng cả một bầu trời lo toan. Con lợn ấy là nguồn thu nhập chính, là manh áo mới cho đàn con đang tuổi ăn tuổi lớn, là chai nước mắm ngon, là chục cân gạo nếp cho đầy nồi bánh chưng... Chính vì thế, lũ trẻ chúng tôi, dù ham chơi đến mấy, vẫn luôn có một động lực vô hình để chăm chút cho đàn gà, con lợn. Những hôm tri rét căm căm, chúng tôi vẫn phải lao đi kiếm rau, vớt bèo về nấu cám, lòng khấp khởi nghĩ về bộ quần áo thơm mùi vải mới sẽ được diện vào sáng mồng Một. Nhưng đâu phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Có những năm dịch bệnh, lợn gà chẳng còn con nào. Nhưng năm ấy, Tết vẫn không thiếu thứ gì. Mẹ tôi lại phải gồng mình lên, chạy vạy ngược xuôi, vất vả hơn gấp bội phần để mâm cơm cúng tổ tiên không được sơ sài, để anh em chúng tôi có b quần áo mới mà không tủi với bạn bè.

Ngày xưa, hàng hóa đâu sẵn và phong phú như bây giờ. Bánh mứt kẹo là những đồ khan hiếm. Nhưng nhà lại đông con, chả sẵn tiền mua sắm. Và thế là dịp Tết, căn bếp nhỏ của mẹ trở thành một “xưởng mứt, kẹo” thủ công đầy sáng tạo.

Mẹ tận dụng tất cả những gì sẵn có. Củ gừng, khoai lang, khoai tây, quả bí, chanh, quất, dừa... qua bàn tay mẹ đều hóa thành những thức quà tinh tế. Để có được một mẻ mứt, phải trải qua bao nhiêu công đoạn tỉ mỉ: gọt, thái, ngâm nước vôi trong, chần phèn chua, rồi sên sao… ấy thế mà công đoạn nào mẹ tôi cũng làm rt cn trng và thun thc.

Tôi nhớ những buổi tối mùa Đông, mẹ ngồi bên chảo mứt to đùng. Mùi đường thắng ngọt lịm, mùi gừng cay nồng, mùi khói bếp quyện vào nhau tạo nên một hương vị đặc trưng của Tết - hương vị của sự sum vầy. Chúng tôi, chẳng sợ cay, với cái tính háu ăn cố hữu, cứ vây quanh chảo mứt như lũ đói, mắt hau háu chờ đợi đến lượt m cho nếm th. Mẹ tôi mồ hôi lấm tấm trên trán dù trời rét căm căm, tay vẫn đảo liên tục để mứt không bị cháy, miệng thì liên tục nhắc nhở: “Ăn hương ăn hoa thôi, my đứa tính ăn no à, bui ti ăn nhiu gng độc lm đấy”. Lời nhắc nhở ấy lẫn trong tiếng củi nổ lách tách, tiếng cười nói của lũ trẻ đã tạo nên một bản hòa tấu hạnh phúc mà tôi mang theo suốt cuộc đời. Những món mứt của mẹ không có bao bì đẹp đẽ, không đẹp mt như gói Mứt Tết Hà Nội mua ở cửa hàng mậu dịch, nhưng nó ngọt - cái vị ngọt của sự chắt chiu, của tình mẫu tử bao la.

Minh họa của Vũ Đình Tuấn 2.jpg
Minh họa của Vũ Đình Tuấn

Cũng trong dòng hồi ức về sự chuẩn bị ấy, có một kỷ niệm khiến tôi vừa buồn cười vừa rưng rưng mỗi khi nhớ lại. Đó là chuyện về những quả trứng gà và món bánh quy. Mẹ tôi làm bánh quy không cần lò nướng hiện đại, chỉ bằng chiếc khuôn gang nướng trên than củi, nhưng hương vị thì thơm ngon khó tả. Nguyên liệu quan trọng nhất là trứng gà. Năm ấy, hóng mẹ đi chợ Tết về, thấy dáng mẹ tất tả đặt chiếc làn xuống hè, tôi đã lao vào, tò mò lục lọi xem có quà bánh gì không. Trong cơn phấn khích của đứa trẻ, tôi đã mạnh tay làm rơi chiếc khăn mùi xoa gói một chục trứng gà xuống nền gạch. Tiếng vỡ có lẽ chỉ mình tôi nghe thấy. Tôi điếng người. Bọc trứng vỡ gần hết. Chưa kịp tìm cách xóa tội thì đã thấy mẹ nhìn bọc trứng vỡ, nhìn khuôn mặt tái mét của tôi. Mẹ không quát mắng, không đòn roi. Mẹ chỉ ngồi, nhẹ nhàng dọn dẹp và buông một tiếng thở dài rất khẽ: “Thế là năm nay bánh quy không trứng con nhé”. Câu nói nhẹ tênh ấy ám ảnh tôi mãi. Sau này tôi mới hiểu, để có được chỗ trứng đó, mẹ đã phải mất công dành dm, phải ra chợ chọn lựa những quả trứng tươi mới nhất.

Nếu ai hỏi tôi, thời khắc nào của Tết là thiêng liêng nhất, tôi sẽ không chọn giao thừa pháo nổ, mà chọn những đêm 30 bên bếp lửa. Đó là lúc người phụ nữ “cháy” hết mình cho vai trò của người giữ lửa. Tôi nhớ mãi câu chuyện về nồi chè kho năm ấy. Trước Tết, cả nhà tôi ngồi bàn bạc Tết này s làm gì, tôi đã hăng hái đề xuất món chè kho - món ăn truyền thống làm từ đỗ xanh và đường mật, thơm thoảng mùi tho qu. M cười hin hu: “Được, vậy con chịu trách nhiệm đãi đỗ, quấy chè nhé”. Tôi gật đầu lia lịa, nhận lời như một trách nhiệm vẻ vang. Thế nhưng, chiều 30 năm ấy, tiếng bạn bè í ới đã kéo tuột tôi ra khỏi lời hứa. Tôi mải mê với những trò chơi con trẻ, quên bẵng đi nhiệm vụ của mình.

Gần giao thừa, khi sương lạnh đã giăng, tôi mới hổn hển chạy về. Bước xuống bếp, mẹ tôi vẫn ngồi đó, kiên nhẫn bên bếp củi liu diu. Đôi tay mẹ vẫn đều đặn quấy nồi chè đặc quánh. Bố tôi đứng bên cạnh, chép miệng: “Làm chè kho vất vả lắm, mẹ mày lúi húi từ chập tối đến giờ đấy”. Mẹ ngước lên, đôi mắt đỏ hoe vì khói bếp nhưng ánh nhìn thì dịu dàng vô cùng. Mẹ không trách nửa lời. Mẹ chỉ bảo: “Mẹ vẫn dành việc cho cậu đây, giờ cho chè ra đĩa, làm khuôn thật đẹp, nhớ rắc vừng lên trên, rồi dâng lên ban thờ. Mẹ đi ngả lưng một chút, tí mẹ dậy cúng Giao thừa”.

Khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhận ra, những món ăn truyền thống ngày Tết như mứt, chè kho, bánh chưng, bánh tẻ... không đơn thuần là thực phẩm. Chúng là kết tinh của mồ hôi, của sự nhẫn nại, và của lòng thành kính mà người phụ nữ dâng lên tổ tiên, trao truyền cho con cháu.

Mẹ tôi, cũng như bao người mẹ khác, giữ Tết không bằng những lý thuyết văn hóa cao siêu trong sách vở. Mẹ giữ Tết bằng hành động, bằng thói quen, bằng sự lặp lại bền bỉ của những phong tục. Mẹ tôi rất chú ý đến màu sắc, hương vị của cỗ Tết. Mẹ dạy chúng tôi rằng, mâm cỗ cúng không cần sơn hào hải vị nhưng phải tinh khiết, bày biện đẹp “bát canh măng, canh miếm phải có vài nhánh hành củ cắt dài, bát bóng phải điểm thêm mấy cọng rau mùi xanh mướt, đĩa xôi gc phi đỏ tươi, bánh chưng phải xanh và đậm vị. Tết là phải có những gia vị: mộc nhĩ, nấm hương, hạt tiêu, quế, hồi, thảo quả, tôm khô, bóng bì... để sẵn trên gác bếp”. Chính nhờ sự cầu kỳ ấy mà Tết không bị trôi tuột đi, không biến thành chuỗi ngày buồn chán, mệt mỏi. Gian bếp của mẹ chính là trường học đầu tiên và sâu sắc nhất về văn hóa nguồn cội.

Tôi vẫn nhớ cái Tết Ất Sửu năm 1985 - giai đoạn kinh tế rất khó khăn, chiến tranh biên giới vô cùng ác lit. Năm đó, hai anh trai lớn của tôi đều đi bộ đội. Anh cả đóng quân trên biên giới Vị Xuyên, Hà Giang - nơi được coi là “lò vôi thế kỷ” vì sự khốc liệt của cuộc chiến kéo dài, giành giật từng tấc đất - đã hơn một năm bặt vô âm tín. Anh thứ hai nhập ngũ chưa đầy năm, đóng quân tại Ninh Bình. Nghe đài đưa tin về tình hình chiến sự ở biên giới, bố tôi thở dài bảo với mẹ: “Năm nay hai đứa vắng nhà, mẹ mày cũng nên giản tiện, đừng bày vẽ . Thế nhưng năm ấy m tôi vn lo Tết chng thiếu th gì, kể cả những món ăn mà các anh tôi thích. Bà bo: “Cứ làm Tết đầy đủ, nhỡ hai chúng nó được v phép thì sao...”. Lời nói ấy không phải là mt gi định, mà là mt li nguyn cu, mt nim tin st đá. Bằng việc chuẩn bị một cái Tết tươm tất giữa lúc vắng bóng con cái, mẹ đã dựng lên một “pháo đài” tinh thần cho cả gia đình. Mẹ dùng sự vất vả của đôi tay để xua đi nỗi lo lắng trong lòng. Năm ấy, có lẽ mẹ tôi đã gắng làm Tết đủ đầy, nghĩa là niềm tin vào ngày cả gia đình được đoàn tụ.

Nay tôi hiểu rằng: Phụ nữ còn tức là còn Tết. Họ lưu giữ Tết không bằng danh xưng hay lý thuyết, mà bằng ký ức, bằng những việc làm quen thuộc của người mẹ, người vợ trong gia đình. Trong cấu trúc gia đình truyền thống, nếu người đàn ông là trụ cột đối ngoại thì người phụ nữ chính là trung tâm văn hóa, nơi quyết định sự ấm cúng và đủ đầy của ngày Tết. Xã hội hiện đại mang đến nhiều tiện nghi, giúp Tết nhẹ nhõm hơn và đôi vai người phụ nữ bớt nhọc nhằn, đó là điều đáng mừng. Nhưng nếu thiếu đi hình ảnh người bà, người mẹ bên gian bếp, thiếu mùi khói, thiếu không khí chuẩn bị chộn rộn, thì Tết khó tránh khỏi cảm giác trống vắng. Bởi giá trị của Tết không nằm ở mâm cỗ, mà ở sự gắn kết được tạo nên trong quá trình chuẩn bị ấy. Và dù cuộc sống có đổi thay đến đâu, những mùa Xuân mãi mãi vẫn sẽ đi qua gian bếp, đi qua đôi bàn tay tần tảo của những người phụ nữ, trước khi tỏa nắng rực rỡ ngoài hiên nhà.

ĐỨC MINH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 632, tháng 1-2026