Từ khóa: văn hóa; đổi mới; tư duy; lý luận; Đảng Cộng sản Việt Nam.

Abstract: Over 40 years of Doi moi (Renovation), the Communist Party of Vietnam’s theoretical thinking on culture since 1986 has evolved robustly, characterized by continuous cognitive shifts: from perceiving culture primarily as an ideological field to defining it as the spiritual foundation of society, serving as both the objective and the driving force for national development. Our Party has established viewpoints and guidelines to build and develop an advanced Vietnamese culture imbued with national identity. The focus is on constructing a cultural value system and human standards for comprehensive development, oriented toward Truth - Goodness - Beauty, and deeply rooted in national spirit, humanity, democracy, and science. This is integrated with the Vietnamese family value system in a dialectical relationship with the national value system, ensuring that culture and people become the endogenous strength and cultural soft power required for the country’s rapid and sustainable development.

Keywords: culture; Doi moi (Renovation); thinking; theory; Communist Party of Vietnam.

Untitledmn.jpg
Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng các đại biểu tham quan triển lãm ảnh  tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28/8/1945 - 28/8/2025) - Ảnh: TTXVN

1. Khái quát về sự đổi mới tư duy lý luận văn hóa của Đảng

Tư duy lý luận là giai đoạn phát triển đỉnh cao của quá trình nhận thức, mang tính trừu tượng, tổng hợp và khái quát hóa sâu sắc. Khác với tư duy kinh nghiệm chỉ dừng lại ở các quan sát bề mặt có tính trực quan sinh động, tư duy lý luận tập trung vào việc nắm bắt bản chất và các quy luật vận động nội tại của sự vật, hiện tượng. Đặc điểm của tư duy lý luận là: (i) Tính trừu tượng và khái quát cao: sử dụng hệ thống các khái niệm, phạm trù và quy luật để phản ánh thế giới khách quan (tự nhiên, xã hội và con người); (ii) Tính gián tiếp: thông qua sự phân tích, tổng hợp các tri thức trực quan sinh động để tìm ra quy luật; (iii) Tính hệ thống: lý luận là một hệ thống tri thức khoa học tương đối độc lập, có logic chặt chẽ, giúp tái hiện lại logic khách quan của thế giới xung quanh. 

Tư duy lý luận có vai trò soi sáng thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học để xác định mục tiêu, phương hướng và lựa chọn giải pháp tối ưu cho các hoạt động thực tiễn trong đời sống. Tư duy lý luận sẽ phát hiện quy luật, giúp con người vượt qua những hiện tượng ngẫu nhiên, bề ngoài để hiểu thấu các quy luật tất yếu bên trong, từ đó dự báo và cải biến thế giới một cách hiệu quả hơn. Tư duy lý luận sẽ góp phần hoạch định chính sách trong phát triển mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong quá trình quản trị xã hội, tư duy lý luận sẽ là nền tảng để xây dựng đường lối, chủ trương và hệ thống pháp luật. Nếu tư duy kinh nghiệm chỉ dựa trên những quan sát trực quan, bề ngoài, lặp đi lặp lại, thì tư duy lý luận dựa trên sự tổng kết, khái quát hóa rất cao từ thực tiễn và các tri thức khoa học. Nếu tư duy kinh nghiệm chỉ giải quyết được những vấn đề cụ thể, quen thuộc dễ dẫn đến bảo thủ, giáo điều, máy móc thì tư duy lý luận có khả năng giải quyết linh hoạt các vấn đề mới, phức tạp và mang tính hệ thống. Việc nâng cao trình độ tư duy lý luận được coi là nhiệm vụ then chốt để đáp ứng các yêu cầu của thời đại chuyển đổi số và sự phát triển của nước ta trong giai đoạn hiện nay. 

Untitledfl.jpg
Nhiều chương trình nghệ thuật đặc sắc được công diễn chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước  
Ảnh: Tuấn Minh

Tư duy lý luận văn hóa của Đảng là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, chủ trương về nội hàm khái niệm văn hóa, về vị trí, vai trò của văn hóa, về mục tiêu, động lực và các giải pháp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử cách mạng khác nhau. Sự phát triển tư duy lý luận này được thể hiện rõ nét qua các văn kiện lịch sử quan trọng, bắt đầu từ Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) cho đến các nghị quyết, các kết luận của Đảng ta qua các kỳ đại hội, đặc biệt là trong thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay. Từ sau Đại hội VI, sự đổi mới tư duy lý luận văn hóa của Đảng chính là quá trình phát triển, bổ sung nhận thức lý luận mới ngày càng sâu sắc, toàn diện về: nội hàm khái niệm văn hóa, vai trò, cấu trúc, chức năng và quy luật vận động phát triển của văn hóa; giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại; sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển để xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa động lực thúc đẩy sự phát triển, từ đó phân tích rõ thêm luận điểm văn hóa, con người là sức mạnh nội sinh đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đồng thời, Đảng ta cũng đi sâu nghiên cứu về sứ mệnh, vai trò to lớn của văn học, nghệ thuật cách mạng Việt Nam và đội ngũ văn nghệ sĩ - chiến sĩ trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên phạm vi cả nước.

Đảng ta còn nghiên cứu lý luận về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, văn hóa và chính trị; về sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; về vấn đề xây dựng và hình thành hệ sinh thái phát triển của văn hóa Việt Nam đương đại; đề xuất hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người, hệ giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị quốc gia của đất nước trong thời kỳ Đổi mới phù hợp với thời đại ngày nay.

2. Quá trình đổi mới tư duy lý luận văn hóa của Đảng từ năm 1986-2026

Giai đoạn từ 1986 đến những năm đầu thế kỷ XXI: Đảng ta nghiên cứu đề xuất quan điểm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Bước vào năm 1986, đất nước ta vẫn gặp nhiều khó khăn, thách thức: tình trạng bị bao vây cấm vận đã gây không ít khó khăn cho phát triển kinh tế trong nước; tại các địa phương, hậu quả chiến tranh còn rất nặng nề, nhân dân thiếu thốn về lương thực, thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng. Mô hình kinh tế kế hoạch tập trung, cơ chế quan liêu bao cấp, hình thức tem phiếu và phân phối hàng hóa ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế. Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng (1986) là Đại hội của đổi mới tư duy, quyết tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và kiên định con đường đi lên CNXH, quyết tâm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, Văn kiện Đại hội VI của Đảng (1987, tr.91-92) nêu rõ: “Công tác văn hóa văn nghệ phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến tư tưởng tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân. Quan tâm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu lành mạnh của các tầng lớp xã hội và các lứa tuổi”. Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 28/11/1987 của Bộ Chính trị khóa VI đã đặt vấn đề Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật và văn hóa, nhằm phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hóa Việt Nam phát triển lên một bước mới. Nghị quyết đã nêu ra quan điểm mới về xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa (XHCN), xác định văn hóa là một động lực mạnh mẽ, đồng thời là một mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng CNXH, thể hiện trình độ phát triển chung của đất nước; coi văn hóa là lĩnh vực sản xuất tinh thần đặc biệt, đáp ứng nhu cầu thiết yếu về đời sống tinh thần của xã hội, làm giàu đẹp thêm cho cuộc sống con người bằng những giá trị văn hóa, trong đó, văn học nghệ thuật là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, tính cách, bản lĩnh của con người mới XHCN.

Untitledyt.jpg
Tràng An mùa lễ hội  - Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

Đảng ta đã đưa ra quan điểm rất mới về khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của văn học, nghệ thuật trong đời sống tinh thần, tác động mạnh đến nếp nghĩ, nếp sống của cá nhân và cộng đồng xã hội: “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.464).

Nghị quyết 05-NQ/TW Trung ương (T.Ư) khóa VI đã phân tích sâu sắc về tầm quan trọng của tự do sáng tác trong sáng tạo nghệ thuật - một lĩnh vực hết nhạy cảm, dễ bị các thế lực thù địch xuyên tạc, vu khống. Cần phải nâng cao nhận thức đúng đắn cho đội ngũ văn nghệ sĩ về tự do sáng tác, để họ sẽ tự thấm nhuần và vận dụng sâu sắc quan điểm này trong sáng tạo văn học, nghệ thuật. Nghị quyết
05-NQ/TW khóa VI khẳng định: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ, để phát triển tài năng nghệ thuật. Trong lịch sử, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tộc giành được độc lập tự do và đã mang lại quyền tự do sáng tác chân chính cho văn nghệ sĩ. Bản chất quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ nằm trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo và được quy định bởi trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr.21).

Nghị quyết T.Ư 4 khóa VII (1993, tr.51) đã phân tích vai trò của văn hóa đối với sự phát triển: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”.

 Kế thừa và phát triển luận điểm khoa học này, năm 1998, Đảng ban hành Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Có thể nói, đây là một nghị quyết chuyên biệt, sâu sắc, sinh động, cụ thể về công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà, thể hiện sự đổi mới quan trọng về tư duy lý luận văn hóa và năng lực tổng kết thực tiễn phát triển văn hóa trên phạm vi cả nước. Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr.57, 58) đưa ra năm quan điểm chỉ đạo cơ bản về sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như sau:

“1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội;

2. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

3. Nền văn hóa Việt Nam là nên văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

4. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng;

5. Văn hóa là một mặt trận; xây dựng, phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng”.

Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr.55) còn khẳng định: “Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện. Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển…” và “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội... Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện. Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương... biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển”.

Không dừng lại ở việc nhấn mạnh vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển, Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004, tr.15) đã xác lập vị trí của văn hóa là một trong ba bộ phận hợp thành sự phát triển bền vững, toàn diện của đất nước: “Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”.

Như vậy, việc ngày càng khẳng định văn hóa là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội đã thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ trong nhận thức lý luận của Đảng ta về mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và chính trị, giữa văn hóa và kinh tế. Sau năm 1986, lĩnh vực sáng tạo văn hóa, văn nghệ đặt ra nhiều vấn đề rất mới, đặc biệt là vấn đề đổi mới tư duy lãnh đạo quản lý văn hóa, văn nghệ, để cho văn nghệ sĩ được tự “cởi trói” tư duy sáng tác, tránh lối mòn công thức “minh họa” một chiều (như nhà văn Nguyễn Minh Châu đã dũng cảm nói lên điều này). Phương pháp sáng tác hiện thực XHCN được coi là phương pháp sáng tác tốt nhất chứ không phải phương pháp sáng tác duy nhất. Bên cạnh phương pháp sáng tác hiện thực XHCN, Đảng ta khuyến khích văn nghệ sĩ tiếp nhận tinh hoa nghệ thuật nhân loại, vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp sáng tác khác để từ đó sáng tạo ra những tác phẩm đạt giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật cao, phản ánh sinh động cuộc sống và con người Việt Nam trong lịch sử đấu tranh cách mạng anh dũng và trong sự nghiệp Đổi mới của dân tộc. Do đó, Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII đã nêu các nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn học nghệ thuật nước nhà: Tập trung sáng tạo tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, phản ánh hiện thực và con người mới. Khuyến khích đổi mới, tự do sáng tác gắn liền với trách nhiệm xã hội. Kiên quyết bài trừ cái xấu, suy đồi. Chăm lo đời sống, đào tạo nghệ sĩ trẻ và nâng cao trình độ hưởng thụ văn hóa của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng…

Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển, đổi mới, hoàn thiện quan điểm lý luận về văn hóa, văn học, nghệ thuật của Đảng, đưa ra những định hướng phát triển mới của văn hóa, văn học nghệ thuật Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng rộng mở, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Giai đoạn từ 2006-2020: Đảng khẳng định quan điểm “tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”, coi đây là lĩnh vực quan trọng để hướng tới phát triển văn hóa, con người Việt Nam - nguồn sức mạnh nội sinh đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước

Năm 2008, trong Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, Đảng ta đã bổ sung một số quan điểm chỉ đạo đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật như sau: Văn học, nghệ thuật Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ. Phấn đấu sáng tác nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, có tác dụng to lớn xây dựng con người; vừa có tác dụng định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa - tinh thần ngày càng cao của nhân dân. Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời với tập trung xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp. Chăm lo phát hiện, bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. Văn nghệ sĩ, người chiến sĩ xây dựng và phát triển nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cần phát huy lòng yêu nước nồng nàn, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao trách nhiệm công dân, sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị phụng sự đất nước và dân tộc…

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh định hướng phát triển văn hóa nước ta là: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.

Đảng ta khẳng định: phát triển con người là “trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển”, do đó cần phải “tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.76).

 Sau khi tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII, ngày 9/6/2014, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, nêu rõ mục tiêu chung là: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nghị quyết đã xác định rõ năm quan điểm về xây dựng phát triển văn hóa, con người: i) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; ii) Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; iii) Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; iv) Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế; v) Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

Đảng và Nhà nước ta đã tích cực chủ động thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc: đó là trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam, kiên định về nguyên tắc, uyển chuyển về sách lược, linh hoạt, sáng tạo, rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, hội nhập mà không hòa tan, luôn luôn giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tích cực mở cửa, hội nhập quốc tế với quan điểm Việt Nam muốn làm bạn với các nước trên toàn thế giới, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền lãnh thổ, vượt qua sự khác biệt, phát huy yếu tố tương đồng, cùng hướng tới tương lai tốt đẹp của hòa bình, ổn định và phát triển.

Giai đoạn từ 2021 (Đại hội XIII) đến 2026 (Đại hội XIV): Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm quyết tâm chấn hưng, xây dựng thành công nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam

Năm 2021, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đưa ra vấn đề: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nói lên bản sắc của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn” (2024, tr.29). Cho nên, một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần phải thực hiện thật tốt là: “Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị, chuẩn mực phù hợp, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị của quốc gia - dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Những giá trị ấy được nuôi dưỡng bởi văn hóa gia đình Việt Nam với những giá trị cốt lõi: Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; được bồi đắp, phát triển bởi nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với hệ giá trị: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; trên nền tảng của hệ giá trị quốc gia và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả của dân tộc ta là: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc” (Nguyễn Phú Trọng, 2024, tr.45).

Xét đến cùng thì văn hóa chính là con người. Con người là chủ thể xây dựng văn hóa và con người cũng là sản phẩm của một nền văn hóa. Việc xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay là trên cơ sở kế thừa tinh hoa giá trị văn hóa dân tộc truyền thống được hun đúc trong hơn 4.000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, tiếp tục xây dựng những thế hệ con người Việt Nam thời kỳ đổi mới có hệ giá trị chuẩn mực phù hợp với thời đại mới trong tổng thể hệ giá trị của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Việc xác định các chuẩn mực giá trị cụ thể nêu trên là một bước phát triển rất mới về lý luận văn hóa của Đảng để xây dựng văn hóa, con người Việt Nam, quyết tâm chấn hưng và xây dựng thành công nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc một cách sinh động, rõ ràng.

Hướng tới Đại hội XIV của Đảng, ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa nền tảng lý luận của các văn kiện và nghị quyết Đại hội XIII, Nghị quyết này đã nêu rõ năm quan điểm chỉ đạo có nhiều điểm mới như sau:

“1. Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới;

2. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Tạo lập môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Phát triển toàn diện văn hóa, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của Nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới;

3. Phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hóa, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sự nghiệp phát triển văn hóa vừa có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, đồng thời cũng là yêu cầu cấp bách, cần được tiến hành chủ động, tích cực, sáng tạo, kiên trì, thường xuyên và phù hợp với điều kiện thực tế khách quan;

4. Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc. Đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát triển văn hóa, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội, khu vực tư nhân là động lực quan trọng; thể chế đóng vai trò then chốt, nhất là cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho văn hóa, thu hút, trọng dụng nhân tài. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa;

5. Phát huy tối đa giá trị và sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới; nhận thức và xử lý hài hòa, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hóa: Giữa “xây” và “chống”; truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc tế; bảo tồn và phát triển; đại chúng và bác học; đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số”.

Điểm rất mới của Nghị quyết 80-NQ-TW là Đảng ta nhấn mạnh phát triển văn hóa, con người là “nền tảng”, “nguồn lực nội sinh quan trọng”, “động lực to lớn”, “trụ cột”, “hệ điều tiết” cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Theo đó, cần khẩn trương hoàn thiện thể chế, chính sách và phát huy tối đa các nguồn lực để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học, khơi dậy sức mạnh nội sinh, biến văn hóa thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững, đồng thời chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.

3. Kết luận

Quá trình đổi mới tư duy lý luận văn hóa của Đảng ta từ năm 1986 đến nay đã trải qua nhiều bước phát triển quan trọng, chuyển từ nhận thức văn hóa là lĩnh vực tư tưởng sang coi văn hóa là nền tảng tinh thần quan trọng của xã hội. Giai đoạn giữa những năm 1990 đến đầu những năm 2010, tại Nghị quyết T.Ư 4 khóa VII (1993), lần đầu tiên, Đảng đưa ra quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa là một mục tiêu của CNXH đồng thời văn hóa chính là một động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Tiếp tục phát triển luận điểm khoa học này, năm 1998, Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII đã nêu rất rõ về quan điểm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với năm quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ và bốn nhóm giải pháp lớn để đưa nghị quyết vào cuộc sống. Đến năm 2014, Nghị quyết T.Ư 9 khóa XI là một dấu mốc quan trọng, khẳng định vị trí, vai trò của văn hóa một cách toàn diện hơn. Nghị quyết đã nhấn mạnh việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam chính là xây dựng nguồn sức mạnh nội sinh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Từ năm 2021 hướng đến Đại hội XIV tháng 1/2026, Đảng ta tiếp tục phát triển tư duy lý luận về văn hóa, đặc biệt là đưa ra quan điểm nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (24/11/2021) Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về văn hóa trong bối cảnh mới, khẳng định quyết tâm chấn hưng, xây dựng thành công nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy khát vọng phát triển nhanh và bền vững đất nước. Trên nền tảng lý luận văn hóa, văn nghệ của Đảng, ngày 24/12/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm có bài phát biểu quan trọng tại buổi gặp mặt với đội ngũ văn nghệ sĩ, trong đó nhấn mạnh cần phải “… gia tăng mạnh mẽ đóng góp, cống hiến của đội ngũ văn nghệ sĩ trong thực hiện các mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập nước, với ba nội dung cụ thể: (i) Phấn đấu tạo ra bộ sưu tập mới những tác phẩm để đời, bổ ích, phản ánh sinh động hiện thực giai đoạn cách mạng mới; soi đường, chiếu sáng cuộc sống, có sức mạnh lay chuyển cảm xúc, hiệu triệu toàn dân, toàn quân thực hiện chủ trương của Đảng; khơi dậy, quy tụ lòng dân, nhân lên sức dân, cùng toàn Đảng, toàn dân toàn quân, tạo thành sức mạnh vô địch đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao mới; tích cực đóng góp xây dựng văn minh nhân loại. (ii) Tập trung xây dựng con người xã hội chủ nghĩa. Sứ mệnh cao cả nhất của đội ngũ văn nghệ sĩ cách mạng là kiến tạo nhân cách văn hóa, xây dựng con người XHCN. Qua các tác phẩm tốt để gieo vào trái tim người đọc, người xem những điều tốt đẹp, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, hoàn thiện nhân cách, đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh con người Việt Nam, hướng họ đến với những giá trị của chân, thiện, mỹ; bài trừ, thanh lọc những cái xấu, cái ác; định hướng, dẫn dắt nhân dân tới những giá trị cao quý, tương lai tươi sáng và khát vọng chân chính. (iii) Cơ sở để thực hiện các nội dung trên rất khả quan. Sự nghiệp đổi mới sau 40 năm với thế và lực, thời cơ, vận hội, kể cả nguy cơ và thách thức đang cung cấp cho văn nghệ sĩ những chất liệu quý giá, nguồn động lực mới, nền tảng cho những bước chuyển mình mạnh mẽ, cho sự ra đời những tác phẩm lớn có giá trị về tư tưởng, nghệ thuật, tính nhân văn, lôi cuốn công chúng…”.

Tại Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV, Đảng ta khẳng định: Văn hóa và con người: Nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực phát triển của đất nước. Phát triển bền vững trước hết phải dựa vào con người và văn hóa. Cần xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng vươn lên; nuôi dưỡng lòng nhân ái, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ luật; tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ, văn minh trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và trên không gian mạng”. Theo đó, cũng cần phải xây dựng đồng bộ thể chế phát triển văn hóa để tạo động lực nội sinh mạnh mẽ góp phần thúc đẩy phát triển nhanh - bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Tựu trung lại, nội dung cốt lõi về sự đổi mới tư duy lý luận văn hóa của Đảng từ 1986 đến nay được ghi nhận ở những điểm chính sau đây:

Thứ nhất, về nội hàm khái niệm văn hóa, cấu trúc của văn hóa, vai trò, chức năng, quy luật phát triển của văn hóa, Đảng ta luôn luôn bổ sung, làm rõ nội hàm khái niệm văn hóa và văn hóa Việt Nam. Năm 1998, Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII và các Nghị quyết sau đó đã nêu rõ vấn đề này.

Thứ hai, về mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong thời đại cách mạng, Đảng ta xác định rõ mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, lấy hạnh phúc của nhân dân làm cơ sở. Nền văn hóa Việt Nam trong thời đại mới này phải thấm đẫm các giá trị dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học.

Thứ ba, về chủ thể và đối tượng xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gần đây, trong Nghị quyết 80-NQ/TW, Đảng ta đã tổng hợp quan điểm lý luận văn hóa thời kỳ Đổi mới và nêu rõ: Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hóa, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo đó, trọng tâm của việc xây dựng và phát triển văn hóa chính là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế, phải thực sự coi văn hóa ngang hàng với kinh tế và chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Thứ tư, về phương thức lãnh đạo, quản lý văn hóa, Đảng ta khẳng định phương thức đó là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý văn hóa, văn học nghệ thuật nhằm phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của văn nghệ sĩ, đội ngũ trí thức, các nhà văn hóa, đảm bảo quyền tự do, dân chủ trong sáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật, tôn trọng tài năng, nhân cách của văn nghệ sĩ, đồng thời phải biết trọng dụng tài năng để phát triển văn hóa, văn học nghệ thuật.

Thứ năm, về vấn đề phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, sức mạnh mềm Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới, Nghị quyết 80-NQ/ TW đã nhấn mạnh sứ mệnh to lớn của văn hóa Việt Nam: Văn hóa phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển, đề cao giá trị nhân văn, chuẩn mực đạo đức xã hội. Do đó, cần phải nhanh chóng khơi dậy và phát huy mạnh mẽ truyền thống lịch sử, văn hóa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tự chủ chiến lược phát triển; tích cực chủ động phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam, quyết tâm xây dựng, chấn hưng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam - nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

______________________________

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2004). Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX. Thông tin Văn hóa và Phát triển. Số 1.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 28/11/1987 của Bộ Chính trị (khóa VI).

3. Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1987). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nhà xuất bản Sự thật.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1993). Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII. Bản lưu hành nội bộ.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1998). Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đảng toàn tập. (Tập 47). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

9. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

10. Nguyễn Phú Trọng. (2024). Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 2/1/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 12/1/2026; Ngày duyệt đăng: 30/1/2026.

PGS, TS NGUYỄN TOÀN THẮNG - Ths NGUYỄN VIỆT THÁI

Nguồn: Tạp chí VHNT số 633, tháng 2-2026