
Trong năm 2025, toàn ngành Văn hóa đã nỗ lực triển khai đồng bộ từ trung ương đến địa phương, từ khâu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hoạch định chính sách, chiến lược, quy hoạch, đến cải cách thủ tục hành chính, phân cấp - phân quyền, sắp xếp tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số.
Trước hết, có thể thấy rõ bước chuyển về chất trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của ngành văn hóa. Năm 2025, Bộ VHTTDL chủ trì xây dựng 14 văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một khối lượng công việc rất lớn, nhất là trong bối cảnh nhiều lĩnh vực đang chờ được “cập nhật thể chế” sau những thay đổi mạnh mẽ của đời sống thực tiễn, từ di sản, nghệ thuật biểu diễn, xuất bản, báo chí đến gia đình, thiết chế văn hóa cơ sở, hoạt động quảng cáo, du lịch văn hóa, thể dục thể thao. Điểm đáng chú ý là hệ thống văn bản năm 2025 được đặt trong một “bản đồ thể chế” thống nhất, gắn với các đạo luật nền tảng đã được ban hành như Luật Di sản văn hóa (sửa đổi), Luật Điện ảnh, Luật Thư viện, Luật Thể dục thể thao, Luật Báo chí (sửa đổi), Luật Quảng cáo và các nghị định quan trọng liên quan đến nghệ thuật biểu diễn, xuất bản, gia đình. Trên cơ sở đó, các quy định về phân cấp, giao quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước được điều chỉnh để bảo đảm mỗi cấp chính quyền - từ trung ương đến địa phương - đều có đủ thẩm quyền và công cụ pháp lý trong quản lý lễ hội, cấp phép biểu diễn, quản lý quảng cáo, vận hành thiết chế văn hóa, thanh tra chuyên ngành.
Điểm đặc biệt quan trọng là toàn bộ quá trình xây dựng văn bản năm 2025 được định hướng bởi tinh thần của Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam (CNVH VN) đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Lần đầu tiên, hệ thống pháp luật về văn hóa được thiết kế không chỉ để “quản lý” các hoạt động văn hóa - nghệ thuật theo cách truyền thống, mà để chủ động kiến tạo môi trường, hệ sinh thái cho công nghiệp văn hóa phát triển. Sáng tạo được nhìn nhận như một động lực phát triển quốc gia, thị trường được coi là công cụ điều tiết, còn công nghệ số trở thành hạ tầng lan tỏa các giá trị văn hóa. Chiến lược phát triển các ngành CNVH VN xác lập 10 ngành công nghiệp văn hóa ưu tiên, từ điện ảnh, mỹ thuật - nhiếp ảnh - triển lãm, nghệ thuật biểu diễn, phần mềm và trò chơi điện tử, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo, truyền hình - phát thanh, đến xuất bản; đồng thời đưa ra các chỉ tiêu cụ thể về đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GDP, việc làm, xuất khẩu dịch vụ, cũng như những yêu cầu pháp lý mới liên quan đến tiêu chuẩn nghề nghiệp, bảo hộ bản quyền, ưu đãi thuế, số hóa tài nguyên sáng tạo, phát triển các nền tảng số quốc gia. Chính vì vậy, sự ra đời của Chiến lược phát triển các ngành CNVH VN đã kích hoạt một “làn sóng điều chỉnh thể chế” trong toàn bộ khung pháp luật về văn hóa năm 2025. Từ thiết kế quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa, sửa đổi Luật Báo chí và Luật Điện ảnh, đến định hình cơ chế liên kết công - tư, phân bổ nguồn lực, phát triển hạ tầng sáng tạo, các văn bản pháp luật mới không chỉ nhằm đảm bảo kỷ cương quản lý, mà còn hướng tới giải phóng và khơi thông các nguồn lực sáng tạo trong xã hội, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng sáng tạo.
Trong bức tranh ấy, lĩnh vực di sản văn hóa nổi lên như một điểm sáng đặc biệt khi năm 2025, UNESCO chính thức ghi danh quần thể Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Vườn quốc gia Hin Nam Nô vào Danh mục Di sản văn hóa thế giới. Đây không chỉ là vinh dự cho một vùng đất, một di sản hay một địa phương, mà còn là minh chứng thuyết phục cho nỗ lực hoàn thiện thể chế về di sản văn hóa của Việt Nam trong suốt nhiều năm, đặc biệt là trong giai đoạn gần đây. Thông qua các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Di sản văn hóa và các nghị định liên quan, Bộ VHTTDL đã chú trọng chuẩn hóa quy trình kiểm kê, lập hồ sơ, xếp hạng, tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị di tích trên cơ sở tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về tính minh bạch, đánh giá rủi ro, yêu cầu sử dụng vật liệu truyền thống và vai trò giám sát của cộng đồng. Nếu trước đây, việc bảo tồn di sản nhiều nơi vẫn mang nặng tính “tu bổ theo dự án” thì đến năm 2025, tư duy quản lý di sản đã chuyển sang “quản trị theo vòng đời”, gắn với đánh giá sức chịu tải của điểm đến, lồng ghép yếu tố biến đổi khí hậu, thiết kế cơ chế huy động nguồn lực xã hội và trách nhiệm cùng chia sẻ lợi ích giữa Nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức tôn giáo, xã hội.
Song song với việc chuẩn hóa về kỹ thuật bảo tồn, quá trình số hóa di sản cũng được đẩy nhanh, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 57 về khoa học - công nghệ - đổi mới sáng tạo và đường hướng của Chiến lược phát triển các ngành CNVH VN. Cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản được xây dựng và kết nối với các địa phương, cùng với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ 3D, thuyết minh đa phương tiện, vé điện tử, bản đồ số… đã mở ra những khả năng mới trong bảo tồn, giáo dục, truyền thông và khai thác giá trị di sản. Vì vậy, di sản không còn chỉ nằm trong không gian vật lý của các quần thể, di tích, mà còn hiện diện trong không gian số, tiếp cận với đông đảo công chúng trong nước và quốc tế, đặc biệt là giới trẻ. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả bảo tồn mà còn tạo nền tảng để di sản tham gia sâu hơn vào các ngành công nghiệp sáng tạo như du lịch văn hóa, thiết kế, trò chơi điện tử, nội dung số.
Năm 2025, chính sách dành cho nhân lực văn hóa, đặc biệt là nghệ sĩ biểu diễn, đã có bước chuyển khá nổi bật khi Bộ VHTTDL tiến hành rà soát toàn diện Quyết định 14/2015/QĐ-TTg về chế độ phụ cấp nghề. Sau gần một thập niên triển khai, những hạn chế như mức phụ cấp thấp, chưa tương xứng với đặc thù lao động nghệ thuật; phạm vi đối tượng còn hẹp; chính sách chưa theo kịp mức lương cơ sở mới; chưa tạo đủ động lực cho nghệ sĩ trẻ gắn bó với nghề… đã bộc lộ ngày càng rõ. Trên cơ sở đó, việc đề xuất sửa đổi theo hướng nâng mức phụ cấp, cải thiện điều kiện tập luyện - biểu diễn, mở rộng đối tượng thụ hưởng, cho phép địa phương có cơ chế đãi ngộ đặc thù phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội… cho thấy nỗ lực tôn trọng giá trị sáng tạo và tính đặc thù nghề nghiệp của người làm văn hóa - nghệ thuật.
Đáng chú ý, lần đầu tiên chính sách đối với nghệ sĩ và nhân lực văn hóa được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với Chiến lược phát triển các ngành CNVH VN. Nghệ sĩ không còn được nhìn nhận như chủ thể sáng tạo trong không gian thuần túy nghệ thuật, mà là lực lượng sản xuất trong nền kinh tế tri thức, tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Điều này mở ra những hướng đi mới liên quan tới bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan, tạo điều kiện để nghệ sĩ tham gia thị trường sáng tạo toàn cầu, cũng như thúc đẩy các mô hình hợp tác công - tư trong đầu tư cho nghệ thuật, sáng tạo. Nhân lực văn hóa vì thế đang dần trở thành một trong những “động cơ” quan trọng nhất của CNVH VN trong giai đoạn tới.
Cùng thời điểm đó, việc sắp xếp lại đơn vị hành chính từ 63 xuống 34 tỉnh, thành phố đã kéo theo sự điều chỉnh sâu rộng trong tổ chức bộ máy và phương thức quản lý nhà nước về văn hóa. Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đòi hỏi một hệ thống thể chế mới, rõ thẩm quyền, minh bạch trách nhiệm, nhất là trong những lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp như cấp phép sự kiện, quản lý thiết chế văn hóa, kiểm soát hoạt động biểu diễn và quảng cáo, bảo vệ gia đình, tổ chức lễ hội, dịch vụ du lịch văn hóa.
Việc sắp xếp, kiện toàn hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Kết luận 210 của Tổng Bí thư cũng là điểm nhấn quan trọng trong năm 2025. Nhiều đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, bảo tàng, thư viện, trung tâm văn hóa… được rà soát lại chức năng, nhiệm vụ; sắp xếp, sáp nhập, giải thể nơi cần thiết; điều chỉnh mô hình quản trị theo hướng tự chủ hơn, linh hoạt hơn, gắn với chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động. Đi cùng với đó là việc chuẩn hóa cơ chế phối hợp liên ngành, đặc biệt trong các lĩnh vực mà văn hóa giao thoa mạnh với các ngành khác như du lịch, quy hoạch đô thị, an ninh mạng, giáo dục, khoa học - công nghệ. Khi cơ chế phối hợp dần rõ ràng và ổn định hơn, hiệu quả quản lý trong những lĩnh vực phức tạp như lễ hội, di sản, quảng cáo, hoạt động văn hóa cơ sở cũng được nâng lên.
Trên nền tảng ấy, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa bước sang giai đoạn thực chất hơn. Năm 2025 chứng kiến những bước tiến nổi bật trong xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa quốc gia, hệ thống thống kê trực tuyến, các nền tảng điện tử phục vụ cấp phép, quản lý biểu diễn, quản lý di sản, thống kê quảng cáo, giám sát thiết chế cơ sở. Chuyển đổi số không chỉ góp phần giảm thời gian, chi phí và nguy cơ phát sinh tiêu cực trong thực thi công vụ, mà còn tạo điều kiện để đưa quản lý văn hóa vào kỷ nguyên dữ liệu lớn, nơi các quyết định được đưa ra nhiều hơn trên cơ sở bằng chứng, dự báo và phân tích khoa học. Đồng thời, chuyển đổi số cũng mở rộng không gian sáng tạo, không gian tiếp cận, tương tác của công chúng với các sản phẩm văn hóa - nghệ thuật, giúp văn hóa Việt Nam hiện diện mạnh mẽ hơn trong không gian số toàn cầu.
Bên cạnh những lĩnh vực nói trên, báo chí, truyền thông , xuất bản, quảng cáo, gia đình và văn hóa cơ sở cũng là những mảng có bước tiến quan trọng về thể chế trong năm 2025. Với báo chí, truyền thông, việc Luật Báo chí (sửa đổi) được Quốc hội thông qua đánh dấu một bước điều chỉnh lớn, nhằm đưa báo chí thích ứng với môi trường truyền thông số, đấu tranh với xu hướng tư nhân hóa trá hình, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và bảo đảm an ninh truyền thông quốc gia. Luật Báo chí (sửa đổi) không chỉ quan tâm tới nội dung, tôn chỉ, đạo đức nghề nghiệp, mà còn chú ý tới mô hình tòa soạn hội tụ, cơ chế Nhà nước đặt hàng - đấu thầu sản phẩm báo chí công, quyền và trách nhiệm của Hội Nhà báo Việt Nam, quản lý văn phòng đại diện, phóng viên thường trú trong bối cảnh thông tin lan truyền với tốc độ chưa từng có. Công tác quy hoạch báo chí giai đoạn 2023-2025 bước vào giai đoạn 2 với mục tiêu vừa siết chặt kỷ cương hệ thống báo chí, vừa tạo điều kiện để các cơ quan báo chí phát triển lành mạnh, chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại hơn, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số.
Trong lĩnh vực xuất bản, in, phát hành, các biện pháp thanh tra, xử lý in lậu, phát hành trái phép được tăng cường, trong khi các quy định pháp lý liên quan tới sách điện tử, sách nói, xuất bản số, bảo vệ quyền tác giả trên môi trường mạng được rà soát, bổ sung. Xuất bản dần chuyển dịch sang mô hình kinh tế tri thức - sáng tạo, không chỉ là hoạt động “in và phát hành” truyền thống, mà là một hệ sinh thái lan tỏa tri thức, thông tin, giá trị văn hóa bằng nhiều định dạng, trên nhiều nền tảng, với những yêu cầu pháp lý mới về minh bạch, chuẩn mực và hội nhập.
Trong lĩnh vực quảng cáo, năm 2025 là năm quan trọng để điều chỉnh chính sách theo hướng tăng trách nhiệm của các nền tảng xuyên biên giới, quản lý quảng cáo liên quan đến KOLs, người nổi tiếng, siết chặt xử lý quảng cáo sai sự thật, “thổi phồng công dụng”, gây tổn hại đến sức khỏe, niềm tin của người dân. Quảng cáo - vốn là một cấu phần không thể thiếu của hệ sinh thái truyền thông - văn hóa hiện đại - được nhìn nhận trong thế cân bằng hơn giữa quyền tự do kinh doanh, quyền sáng tạo và trách nhiệm xã hội.
Gia đình và văn hóa cơ sở - những lĩnh vực đôi khi ít được chú ý trong bức tranh thể chế lớn - năm 2025 đã có những bước tiến rất quan trọng. Nghị định 110/2025/NĐ-CP về phòng, chống bạo lực gia đình, cùng với cơ chế phối hợp trong Nghị định 137/2025/NĐ-CP, đã tạo ra một hành lang pháp lý mạnh hơn cho việc bảo vệ gia đình, giảm thiểu bạo lực, tăng cường hỗ trợ, can thiệp sớm. Gia đình được đặt lại đúng vị trí “tế bào của xã hội”, là điểm tựa của chính sách văn hóa và an sinh. Ở cấp cơ sở - nơi chính sách văn hóa chuyển hóa thành đời sống hằng ngày - các quy định về thiết chế văn hóa - thể thao, quản lý lễ hội, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được hoàn thiện, nhằm bảo đảm người dân trên mọi vùng miền đều có quyền và cơ hội tham gia, thụ hưởng văn hóa trong điều kiện tương đối bình đẳng.

Điểm nhấn cuối cùng, nhưng có lẽ là một trong những dấu mốc thể chế quan trọng nhất của năm 2025, là việc Bộ trưởng Bộ VHTTDL ký ban hành Quyết định 3399/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, với giai đoạn 1 từ 2025 đến 2030. Lần đầu tiên, chương trình mục tiêu quốc gia văn hóa ngang tầm với giáo dục, y tế, nông thôn mới, giảm nghèo bền vững. Điều đó có nghĩa là văn hóa đã được đặt vào vị trí mới trong hệ thống ưu tiên chính sách: không chỉ là “nền tảng tinh thần” về mặt tuyên ngôn, mà là một lĩnh vực có lộ trình đầu tư dài hạn, có cơ chế huy động nguồn lực rõ ràng, có mục tiêu và tiêu chí đánh giá cụ thể.
Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa thiết lập một cơ chế đầu tư hoàn toàn mới, trong đó Nhà nước không phải là chủ thể “bao cấp” duy nhất, mà đóng vai trò dẫn dắt, định hướng, tạo ra khung pháp lý và cơ chế hỗ trợ để huy động sức mạnh của toàn xã hội và cả cộng đồng quốc tế. Văn hóa được tiếp cận như một hệ sinh thái phát triển, với các cấu phần tương tác chặt chẽ: di sản, lễ hội, thiết chế văn hóa - thể thao, bảo tàng, thư viện, nghệ thuật biểu diễn, môi trường văn hóa, công nghiệp văn hóa, năng lực sáng tạo của cộng đồng, quyền tiếp cận văn hóa của người dân. Chương trình nhấn mạnh nguyên tắc bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng văn hóa, ưu tiên vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nhằm thu hẹp khoảng cách thụ hưởng, tăng công bằng xã hội trong lĩnh vực văn hóa.
Đặc biệt, việc đưa công nghiệp văn hóa vào như một trụ cột của Chương trình cho thấy tư duy mới trong phát triển: văn hóa không chỉ tạo ra giá trị tinh thần, mà còn đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế, việc làm, sức cạnh tranh quốc gia, quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể nói, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 là một dấu mốc thể chế mang ý nghĩa lịch sử. Nó tạo ra khung pháp lý và cơ chế đầu tư để văn hóa thực sự trở thành một lĩnh vực có tính chiến lược, ngang hàng với kinh tế - xã hội - quốc phòng, đồng thời mở ra một không gian phát triển mới cho văn hóa Việt Nam trong tầm nhìn 2030-2045.
Nhìn tổng thể, năm 2025 không chỉ là năm của những văn bản mới, những nghị định, quyết định quan trọng, mà sâu xa hơn, là năm của một sự chuyển dịch tư duy trong xây dựng và vận hành thể chế văn hóa. Văn hóa đang bước ra khỏi vai trò “phụ trợ” để đứng vào trung tâm của chiến lược phát triển, từ “quản lý” chuyển sang “kiến tạo”, từ “bảo tồn” chuyển sang “phát huy giá trị”, từ “chi tiêu ngân sách” chuyển sang “đầu tư sinh lợi” cho cả kinh tế, xã hội và con người. Đó là nền tảng để chúng ta bước tiếp vào giai đoạn 2026-2035 với một tâm thế mới, một hệ thống thể chế ngày càng hoàn chỉnh hơn, hiện đại hơn, nhân văn hơn, đưa văn hóa trở thành trụ cột thực sự của sự phát triển bền vững đất nước.
PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội
Nguồn: Đặc san "Dấu ấn Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2025"