Từ khóa: sắc bùa; sắc bùa Quảng Ngãi; tín ngưỡng thờ nữ thần; tín ngưỡng tam giáo đồng nguyên.

Abstract: This artircle undertakes an in-depth analysis, synthesis, and systematization of the following issues: The ensemble organization and performance program of sắc bùa singing troupes in Quang Ngai; The historical and cultural dimensions embodied in sac bua of Quang Ngai. These dimensions include: the epic De dat de nuoc in relation to sac bua; sac bua reflects ancestor worship; sac bua reflects the worship of the Earth Deity; sac bua reflects female deity worship, including the Goddess Nuwa, the Queen Mother of the West, and the Ancestress of Xi Ling (Leizu); sac bua reflects Taoism; sac bua reflects Confucianism; sac bua reflects Buddhism; and sac bua reflects Three Teachings. Through the rituals and performances of the sac bua troupes in Quang Ngai, evidence of polytheism and belief in multiple faiths within the Vietnamese community, blended with the flow of national culture, has been demonstrated. The article contributes to elucidating the spiritual and cultural values and the traditional artistic significance of the nation throughout history, as manifested through the rituals and repertoire of sac bua singing troupes in Quang Ngai during the Lunar New Year.

Keywords: sac bua; sac bua Quang Ngai; female deity worship; belief in the syncretism of the three teachings.

Untitledpl.jpg
Rộn rã sắc bùa dịp Tết Nguyên đán - Ảnh: baoquangngai.vn

1. Đặt vấn đề

Quảng Ngãi là một vùng đất thuộc vùng Nam Trung Bộ, có điều kiện tự nhiên và môi trường sống đa dạng (có đồng bằng, rừng núi, trung du, ven biển và hải đảo), cũng như có sự giao lưu tiếp biến văn hóa trong quá khứ nên dân ca, dân nhạc rất phong phú, đặc sắc, chứa đựng nhiều giá trị tâm linh và nghệ thuật dân tộc. Các địa phương miền núi Quảng Ngãi là một phần của không gian văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên, đặc biệt là sau khi sáp nhập với tỉnh Kon Tum. Các dân tộc thiểu số nơi đây đều có vốn dân ca, dân nhạc rất phong phú và đa dạng, góp phần tạo nên những giá trị âm nhạc truyền thống rất quý báu cho một vùng đất. Chất liệu âm nhạc truyền thống chính là nguồn sữa mẹ tươi mát, trong lành nuôi dưỡng tâm hồn, nhân cách các thế hệ; là nguồn cảm hứng vô tận với văn nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh Quảng Ngãi.

Mỗi độ xuân về là lúc các sinh hoạt dân ca, dân nhạc ở Quảng Ngãi diễn ra bằng nhiều hình thức khác nhau, để chào đón một mùa xuân mới: Hát Lô tô, Hô Bài chòi; các địa phương thuộc miền núi có cồng chiêng, ra nghế, ta lêu… Song, chỉ có hát sắc bùa là rất khác biệt, các nghệ nhân đến từng gia đình để hát chúc Tết. Đây là loại hình ca nhạc dân gian, mang màu sắc của phong tục tín ngưỡng. Vào thời nhà Nguyễn, tục hát sắc bùa ở nước ta khá thịnh hành. Trong sách Gia Định thành thông chí, sử gia Trịnh Hoài Đức (1972, tr.7) chép rằng: “Đêm 28 tháng Chạp, Na - Nhân (tục danh nậu sắc bùa) đánh trống, gõ phách, một bọn 15 người đi theo dọc đường, trông nhà hào phú nào mở cửa ngõ thì vào dán lá bùa nơi cửa, niệm thần chú rồi nổi trống phách lên, ca xướng những lời chúc mừng, người chủ nhà dùng cỗ bàn chè rượu khoản đãi và gói tiền thưởng tạ. Xong nhà này lại qua nhà khác, cũng làm như vậy, cho đến chiều buổi trừ tịch mới thôi, ấy là có ý đuổi tà tống ma, trừ cũ rước mới vậy”.

Rải rác trên khắp đất nước ta đều có tục hát sắc bùa như ở các tỉnh: Phú Thọ (xã Mường Vang, Mường Bi…), Hà Tĩnh (xã Kỳ Anh, Can Lộc), Quảng Trị (phường Đồng Hới), Huế (phường Phong Điền), Đà Nẵng (xã Thu Bồn), Quảng Ngãi (phường Trà Câu, phường Sa Huỳnh, xã Lân Phong), Khánh Hòa (xã Tân Xuân)… Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy gốc tích của hát sắc bùa ở những bản của người Mường ở phía Bắc Việt Nam. Nơi đây, dân tộc Mường còn có cả chiêng sắc bùa, để xua “đuổi tà tống ma, trừ cũ rước mới” (Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Thiếu Hương, Nguyễn Đại Phúc, Lê Hải Đăng, 2000, tr.8-13).

Trong Sử thi Đẻ đất đẻ nước (Te tấc te đác) của người Mường có phản ánh đậm đặc các yếu tố tâm linh, huyền bí liên quan đến ma thuật, bùa chú, cõi thiêng, bao gồm cả việc tạo ra thế giới và con người. Có thể dễ nhận thấy vai trò của thày Mo Mường tương đương vai trò của Pháp sư trong nghi tục phạc mộc, trấn bùa, niệm chú của hát sắc bùa Quảng Ngãi.

Theo các nghệ nhân sắc bùa cao tuổi ở Quảng Ngãi thì các ông: Nguyễn Chạm, Nguyễn Lành, Trịnh Thiện, Văn Đắc Anh, Trần Hàm, Nguyễn Cữ (Nhơn), Lê Công Lịch là những người có công gìn giữ, truyền bá sắc bùa từ thời Pháp thuộc đến những năm sau này. Điều đáng tiếc là các nghệ nhân trên đều đã qua đời. Ngày ấy tuy chiến tranh mà các cụ vẫn tổ chức được một gánh hát sắc bùa, sắm sửa đầy đủ trang phục, đạo cụ, đờn, kèn, trống, sênh để đi chúc Tết trong các ngày đầu Xuân. Các xứ Quảng Nam (nay là Đà Nẵng), Bình Định (nay là Gia Lai) và Phú Yên (nay là Đắk Lắk) đã từng in dấu chân của các gánh hát sắc bùa xưa Quảng Ngãi đến chúc Tết. Mỗi đợt đi lưu diễn thường kéo dài khoảng một tháng trước trong và sau Tết Nguyên Đán.

Các gánh hát sắc bùa tiêu biểu ở Quảng Ngãi là: gánh hát Phổ An (phường Trà Câu) của cụ Trần Biểu; gánh hát Phổ Thạnh (phường Sa Huỳnh) của cụ Huỳnh Mạnh; gánh hát Đức Phong (xã Lân Phong) của cụ Lê Tân. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi sẽ đề cập nhiều đến gánh hát sắc bùa Phổ An, gánh hát tiêu biểu và có nhiều nghệ nhân xuất sắc nhất từ xưa tới nay.

2. Phương pháp nghiên cứu

 Đây là một nghiên cứu được thực hiện dựa trên kết quả từ nhiều đợt khảo sát điền dã của chính tác giả từ các thôn Hội An, An Thạch, An Thổ phường Trà Câu; thôn Văn Hà, Lâm Hạ, Thạch Thang của xã Lân Phong. Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành văn hóa dân gian, dân tộc nhạc học; cũng như các phương pháp khảo sát điền dã, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa tư liệu nhằm làm sáng rõ các vấn đề nghiên cứu. Các bài bản sắc bùa được trích dẫn trong bài viết này chủ yếu được tác giả ghi chép trực tiếp từ các nghệ nhân ở Quảng Ngãi: Nguyễn Cữ, Lê Công Lịch, Trần Biểu, Huỳnh Trần Bính trước đây.

3. Kết quả và thảo luận

Biên chế và chương trình của gánh hát sắc bùa Quảng Ngãi

Biên chế

Một gánh hát sắc bùa ở Quảng Ngãi thường có 10 người (bốn nam, sáu nữ). Bốn nam gồm: một ông cái hát chính (vỗ trống cơm), một ông chơi đàn cò, một ông chơi kèn tiểu, một ông chơi phách. Như vậy, khi trình diễn ban nhạc phải có ít nhất bốn người: một người gõ phách tre (giữ nhịp), một người kéo đàn cò (chủ yếu tấu giai điệu cùng cái quân), một người thổi kèn tiểu (không thổi khi mọi người hát, chỉ thổi trong những đoạn cuối của lớp diễn để tạo ra các cao trào trong diễn xướng) và một người vỗ trống giữ nhịp. Đây cũng là linh hồn của ban nhạc và gánh hát, khi thúc giục rộn ràng, khi nhẹ nhàng thành kính.

Như vậy, biên chế bốn nhạc cụ trong ban nhạc sắc bùa ngày nay rất khớp với một câu hát sắc bùa xưa ở Phổ An (phường Trà Câu), khi giới thiệu một ban nhạc: Ông Nhạn đánh phách/ Ông Đách kéo đờn/ Ông Nhơn đánh trống/ Ông Ôn thổi kèn.

Biên chế sáu nữ là những cô gái đồng trinh tuổi từ 14 đến 16, vừa hát múa vừa gõ sinh tiền. Tuy nhiên, có trường hợp biên chế nữ được cộng 2, tức 6 + 2 = 8.

Trang phục của các thành viên: ông Cái (người cầm trịch) mặc đồ bà ba, choàng khăn đỏ trên đầu. Theo các nghệ nhân cao tuổi, trang phục của ông Cái ngày xưa là bộ đồ màu đỏ, còn gọi là “ông Đỏ”. Các nhạc công còn lại mặc áo dài đen, bịt khăn đóng; các cô gái mặc áo dài màu khác nhau, đầu đội vương miện bằng giấy. Trước đây, trang phục nữ của các gánh sắc bùa ở Quảng Ngãi là áo trắng, quần đen, khi cầm đèn lồng khi cầm sinh tiền. Trang phục và đạo cụ do ông Cái chuẩn bị, còn nhạc cụ thì do nhạc công tự lo.

Chương trình

Hát sắc bùa Quảng Ngãi, từ xưa đã có hai dạng: sắc làng và sắc nhà. Sắc làng được tổ chức ở các nơi đình làng, chùa chiền, công cộng; còn sắc nhà là đến từng nhà để sắc bùa, phổ biến nhất là dạng này. Cũng như hát sắc bùa ở một số nơi, hát sắc bùa Quảng Ngãi cũng tuân theo một lề lối nhất định, đó là các phần: Mở ngõ, vào sân, mở cửa, vô nhà, ra sân, vô nhà lại và bước ra về.

Mở ngõ: ban nhạc nổi lên cùng bài hát Khai môn, chẳng hạn: Đêm khuya ngõ hỡi còn gài/ Không ra mà mở bọn sắc bùa chúng tôi vô.

Vào sân: ông Cái giới thiệu gánh sắc bùa và mục đích vào nhà gia chủ, chẳng hạn: Mở ngõ đã rồi, thiệt chúng tôi sắc bùa là hiệu/ Thày xưa dạy bảo hết năm bảy ngày/ Khắp hết Đông Tây đem bùa trừ dịch/ Khai phương, khai tịch chúc chủ nội nhà/ Mừng rước Xuân qua nhà người hưng thạnh/ Pháo kêu một tiếng khai tịch ngũ phương/ Chúc mừng năm mới thái bình âu ca… Sau đó, gánh sắc bùa thực hành nghi lễ cúng miếu thổ thần trước khi đến phần mở cửa.

Mở cửa: gánh hát bắt đầu chúc Tết gia chủ: Nhà cậu dênh dang/ Coi đà lịch sự/ Con trai hay chữ/ Con gái chữ trinh/ Cậu mợ hiền lành/ Mai sau đặng phước/ Nhà ông mơ ước/ Đặng chức công hầu/ Sức khỏe sống lâu…

Vô nhà: Gánh hát Tạ ông bà (chúc ông bà): Cháu con làm lễ từ đường/ Xin dưng con cháu Từ đường sống lâu… Tiếp theo là ông Cái lĩnh xướng hát trừ ma, dẹp quỷ và trấn bùa: Mục trúc nhất sinh trừ cựu tế/ Bùa đào vận hội canh tân niên… hoặc câu: Cây cao bóng thẳng/ vốn ở rừng cao/ ma quỷ hiện vào/ biến làm thần mộc/ Lỗ Ban ban dứt gốc/ thần khắp mọi loài/ mộc mới lạc loài/ về bên Đông Hải/ xưa thày truyền lại/ phạt mộc đá đinh (trích bài Phạt mộc, sắc bùa Quảng Ngãi).

Tiếp theo là hát Tạ Ông Táo, Tạ Tiên Sư, Tạ Quan Thánh (nếu gia chủ có trang thờ)… Rồi đến nghi thức hát phạt mộc, trấn bùa trừ tà cho gia chủ. Sau cùng là nghỉ ngơi, ăn uống (chủ nhà khoản đãi).

Tiếp tục là hát chúc Tết theo nghề nghiệp, gia chủ làm nghề gì thì gánh hát có bài bản chúc theo nghề tương ứng, như: nghề nông, nghề biển, nghề buôn bán, nghề trồng dâu nuôi tằm, nghề dệt vải, nghề mộc…

Ra sân: các tiết mục múa hát Bắt bướm, Ru con, Múa đèn Múa Lục cúng, cùng những bài Lý vẽ rồng, Lý vọng phu, Vè các lái, Vè cá biểnđược diễn ra trong một không gian nghệ thuật sôi nổi và ấm áp. Những bài lý có lời ca như sau: Chị em tui bắt bướm đậu hoa/ Bướm bay đâu mất bỏ hoa một mình… Rồi đến tiết mục múa hát ru con: ở đây sử dụng bài Ru con (dân ca Nam Trung Bộ): Hỡi anh chàng (là chàng) mình ơi/ Chi mà bạc (bạc) lắm chàng/ Chi mà tệ (tệ) lắm chàng/ Chừ nín (nín a) đi con/ Con ơi! Con hỡi là hời con hời… Tiếp theo là Múa đèn, có câu hát: Chừ là thương những dập dã trăm đường/ Cái mối tơ hường mai mốt về ta… hay: Tình ta (như) nghĩa bạn mà ra/ Liu líu công là liu líu xề, chứ líu xê líu xê xang xừ… Và sau đó, là tiết mục Múa lục cúng chuẩn bị cho kết thúc phần ra sân.

Vô nhà lại: gánh hát sắc bùa chúc Tết gia chủ và xin phép ra về: Có câu rằng (là) phước Tân niên/ Ông bà bình yên, cháu con (mà là) đường vui vẻ (í i)/ Anh danh khách quý điều ra/ Chúc cho nội nhà (a) sức khỏe (a) sống lâu/ Ông giàu thêm ruộng thêm trâu/ Tử tôn phước nối công hầu quần phong.

Bước ra về: ông Cái xướng: Chúc ông bà chủ ở lại bình yên/ chúng tui ra về. Quân xô: Đi ra đi ra/ có kiểng trồng hoa/ trong nhà có khách/ khách ra có lợi/ chủ ở bằng yên/ hòa yên như phước. Ông Cái xướng: Xuân mới chúng tui tới vui/ chúng tui ra về/ lễ tạ dời chưn (chân)/ chúng tui lui, quới (quý) khách cũng lui. Quân xô: Tết này Tết nữa/ chúng tui lại vào (a) chúng tui lại vào…

Đến đây, ông Cái, các trinh nữ và ban nhạc cùng trình diễn rộ lên thật sôi nổi và kết thúc để chào gia chủ xin phép cáo lui.

Sắc bùa Quảng Ngãi chứa đựng lịch sử văn hóa dân tộc

Sử thi Đẻ đất đẻ nước trong mối liên hệ với sắc bùa

Đẻ đất đẻ nước là một bộ sử thi lớn, thuộc loại hình văn học dân gian của dân tộc Mường. Nội dung kể về sự hình thành đất đai, sông nước, vũ trụ, muôn loài và sự phát triển của cộng đồng người Mường. Sử thi này gắn liền với những phép thuật, trấn bùa, trừ ma quỷ để mang lại cuộc sống tốt đẹp, bình yên cho cộng đồng, được các ông mo (thày cúng) thực hành trong các nghi lễ quan trọng. Các yếu tố phép thuật, trấn bùa, trừ ma quỷ, có liên quan đến tục hát sắc bùa của người Mường và sắc bùa Quảng Ngãi trong vai trò gốc rễ. Kể từ đó trong diễn trình lịch sử của đất nước, tục hát sắc bùa vẫn được cha ông ta gìn giữ, trao truyền cho đến hôm nay. Nó chứa đựng bề dày lịch sử văn hóa dân tộc trong phương thức trình diễn và bài bản, cho dù có sự đậm nhạc khác nhau trong từng thời kỳ và từng địa phương. Ví dụ như: Hát phạt mộc, Hát trấn bùa, Hát dán bùa trong sắc bùa Quảng Ngãi.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, sử thi Đẻ đất đẻ nước ở dạng ban đầu, chỉ là sự kết nối các thần thoại mang tính suy nguyên có cùng nguồn gốc Mường - Việt cổ, cũng như có trước thời đại Hùng Vương trong lịch sử dân tộc. Đến thời các Vua Hùng, sử thi này dần được hoàn thiện và kết nối với huyền sử thời Hùng Vương, phản ánh rõ nét đời sống, văn hóa và tín ngưỡng của người Mường - Việt cổ.

Sắc bùa phản ánh đạo Ông Bà

Những bài bản của sắc bùa Quảng Ngãi có liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên như: Bài Chúc Tết ông bà, Mừng tuổi thầy mẹ, Chúc Gia tiên. Ví dụ: Minh niên năm mới chơi xuân/ Minh niên năm mới rượu dưng ông bà/ Trước thời mừng tuổi ông bà/ Sau thời mừng tuổi chủ gia sang giàu. (Chúc Tết ông bà, sắc bùa Phổ An). Tín ngưỡng thờ cúng ông bà, hay gọi là Đạo Ông Bà ở Việt Nam thuộc loại bản địa.

Sắc bùa phản ánh việc thờ cúng Thổ thần

Sắc bùa Quảng Ngãi có bài Hát cúng Thổ thần được sử dụng ở phần Vào sân (sau phần Mở cổng). Ví dụ: Mấy lời tạ ông Thổ thần/ Trăm quan bổn vị phò trì chủ gia/ Chủ gia tươm tất lòng thờ/ Bỗng giây phút thấy/ Thấy ngài vong linh/ Ban cho gia chủ phước, lộc, khang, ninh lâu dài… Thổ địa là vị thần đất, vị thần bản địa của người Việt, cai quản đất đai xóm làng, có lịch thờ cúng lâu đời. Sau này được phối thờ với vị Thần Tài gốc Trung Hoa thành tín ngưỡng Thần tài thổ địa.

Sắc bùa phản ánh các tín ngưỡng thờ cúng Nữ thần

Thánh Nữ Oa (Nữ Oa Nương Nương): là nữ thần thủy tổ trong thần thoại Trung Hoa, có hình đầu người mình rắn đại diện cho sự sáng tạo, sinh sản, hôn nhân và được xem là một trong Tam Hoàng. Thánh Nữ Oa được nhắc đến với vai trò Tiên sư nghề rèn trong bài sắc bùa Quảng Ngãi: Nữ Oa thuở trước/ luyện thạch bổ thiên/ nối đời thiên diên/ noi theo rèn thổi/ dạy dân đào núi/ tìm quách nấu gang /lò bể dựng lên/ sắt rèn chan chứa/ mượn hơi thổi lửa/ phá sắt nên gang/làm thành mọi vật/ để cho dân dùng/ ấy là (rèn) thợ rèn (trích bài Thợ rèn, sắc bùa Quảng Ngãi).

Tín ngưỡng thờ Tây Vương Mẫu: là một nữ thần cổ xưa trong Đạo giáo. Có thể tìm thấy dấu vết tín ngưỡng này trong một số bài bản sắc bùa Quảng Ngãi: Nhớ xưa Vương Mẫu mơ thấy nhệ giăng/ dạy dân làm ăn/ lưới săn lưới cá/ sắm thuyền cùng dã/ nò rớ đáy đăng/ mặc sức biển sâu/ giàu lòng bủa kéo/ Hôm mai gió dịu/ cá chở đầy thuyền/ ông bà cho ăn/ biển sông giúp vận (trích bài Chúc nghề biển). Vương Mẫu được xem là nữ thần cai quản núi Côn Lôn ở phía Tây, có vườn đào tiên, có quyền năng ban phát phúc lộc thọ. Bà có nhiều danh xưng khác nhau: Vương Mẫu Nương Nương, Địa Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Kim Mẫu Nguyên Quân, được tôn thờ như một vị thần quyền năng đứng đầu các nữ thần.

Tín ngưỡng thờ Tây Lăng Tổ Nữ: có thể tìm thấy dấu vết của tín ngưỡng thờ Tây Lăng Tổ Nữ, một nữ thần quyền năng trong Đạo giáo trong các bài sắc bùa Quảng Ngãi. Ví dụ bài Để tằm có các câu: Tây Lăng Tổ Nữ/ Bạch mã đào nương/ Tiết xưa còn ở chốn Non Đoài/ giữ một lá phù tang ăn hết/ ăn rồi lại chin làm ổ trên cây/ Đức Nữ Bà lấy giống về đây/ Ươm làm chỉ cho Tây Lăng dệt gấm/ Tây Lăng nói: Tằm kia chơn thật cả/ Lý Ngư gẫm thật/ lấy giống mang về/ Đâu đó xa gần đều để tằm thay thảy. Hay câu: Tây Lăng buổi trước/ Người chốn Bồng lai/ đôi tằm non Đoài/ giữ một lá buồm/ tang dâu ăn hết/ ăn rồi lộn kiếp/ làm ổ trên cây/ lấy giống về rày/ ươm làm chỉ thêu/ thêu hoa dệt gấm…/ Tây Lăng nghe được/ cho xuống hạ trần/ rao dân phàm đâu đó xa gần/ đều bắt giống để tằm thay thảy (trích bài Chúc gia đình chăn tằm) (Tài liệu sưu tầm điền dã của tác giả). Ngoài ra, tín ngưỡng nữ thần ở Quảng Ngãi còn có Ngũ hành thượng giới, Linh Sơn Thánh Mẫu (gốc Trung Hoa)… mà chúng tôi chưa tìm thấy trong nghi thức và bài bản của sắc bùa trong suốt quá trình khảo sát điền dã.

Sắc bùa phản ánh Đạo giáo

Trong nội dung hát sắc bùa Quảng Ngãi có các nghi thức: Hát phạt mộc, Hát dán bùa, Hát Lễ ông Táo, Hát cúng Thần Tài có nguồn gốc từ Đạo giáo của Lão Tử. Ví dụ hát phạt mộc (trích) có lời ca: Vâng bùa Thượng đế/ Chiếu chỉ Ngọc Hoàng/ Bùa này xuống trấn dương gian/ Cấm chúa quỷ tà ma ngoại đạo. Tuy nhiên, câu hát dán bùa sau đây lại cho thấy ảnh hưởng của cả Phật giáo trong phép thuật này. Đó là câu Án ma ni bát di hồng/ Bùa dán vào mộc tử mộc tôn/ Bùa dán vào tà ma tẩu tán/ Thái thượng lão quân/ Bố chi gia trấn đủ ngũ phương (trích sắc bùa Quảng Ngãi). Trong Hát Lễ ông Táo có câu: Sắc phong cho tam vị táo quân/ để cho thiên hạ phàn hương phụng tự/ cúi đầu làm lễ táo quân/ rót ba (là ba) chén rượu lễ dưng (là dưng) lên bàn.

Ngoài ra, trong bài Lên hè cũng có câu nhắc tới ngài Thái Thượng Lão Quân (còn gọi là Đạo Đức Thiên Tôn), hóa thân của ngài được cho rằng chính là Lão Tử. Đó là các câu: Cây nêu dựng làm bùa Thái Thượng/ ngọn mía dựng làm lao/ ông bà trừ quỷ/ tiếng pháo kêu ra ma quỷ tránh xa/ chúng tui xuân nhựt/ tới trừ tà năm mới.

Riêng Thần Tài là vị thần cai quản tiền bạc, tài lộc, được nhiều người thờ phụng, đặc biệt hằng năm vào ngày 10 tháng Giêng có Vía Thần Tài. Việc thờ Thần Tài trong dân gian ở Quảng Ngãi hiện nay được phối thờ cùng Thần Thổ Địa, gọi là thờ Thần Tài - Thổ Địa.

Sắc bùa phản ánh Nho giáo

Có những phương thức, bài bản của hát sắc bùa Quảng Ngãi liên quan mật thiết và sâu sắc đến Nho giáo của Đức Khổng Tử, là sự pha trộn và hợp thành giữa yếu tố văn hóa bản địa và du nhập. Đó là các nghi thức cúng gia tiên, tạ ông bà (mừng tuổi thày mẹ)… trong sắc bùa ở đây. Ví dụ bài Hát chúc Tết: Có ca rằng (là) phước tân niên/ Ông bà bình yên, cháu con (mà là) đường vui vẻ (í ì)/ Anh danh khách quý điều ra/ Chúc cho nội nhà (a) sức khỏe (a) sống lâu/ Ông giàu thêm ruộng thêm trâu/ Tử tôn phước nối công hầu quần phong. Nho giáo du nhập vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ I (thời kỳ Bắc thuộc lần 1). Lúc này, châu Giao Chỉ và châu Lĩnh Nam do nhà Tây Hán đô hộ. Nho giáo sau này đã góp phần hệ thống hóa việc thờ cúng ông bà tổ tiên của người Việt (đạo Ông Bà). Đó là góp phần đề cao chữ hiếu và bổn phận con cháu đối với ông bà tổ tiên, giúp tín ngưỡng này phát triển mạnh mẽ, như lập gia phả, xây Văn Miếu, giỗ chạp thờ cúng nhiều đời.

Sắc bùa phản ánh Phật giáo

Có một số nghi thức, bài bản sắc bùa Quảng Ngãi có liên quan đến Phật giáo, như: Lễ Phật Tổ, Lễ Phật Bà, Hát cúng cô hồn. Ví dụ bài Lễ Phật Tổ: Nhớ Phật Tổ xưa, còn ở nơi trần/ Ngài gắng sức ra công hoằng hóa/ nên đại đạo lưu thông khắp cả/ Bậc tiền hiền đều trọng Phật Gia/ rèn dân bằng giáo thuyết bình hòa/ Đạo Phật chính thiệt phân minh/ Mọi điều đạo đức dân tình mến yêu… Phật giáo du nhập vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ I qua nhiều con đường truyền đạo. Do giáo lý và chủ trương có nhiều điểm tương đồng với một số tín ngưỡng bản địa và văn hóa Việt Nam (kể cả Trung Hoa), nên Phật giáo đã hòa quyện và trở thành một tôn giáo lớn. Trong bài Hát cúng cô hồn của gánh hát sắc bùa đã cho chúng ta thấy điều đó. Thực ra, việc cúng cô hồn cát đẳng ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Hoa, gắn với Rằm tháng 7 Lễ Vu Lan của Phật giáo, nhằm phát hạnh bố thí cho những cô hồn không nơi nương tựa, để họ không quấy nhiễu người sống.

Sắc bùa phản ánh Tam giáo

Tam giáo (Nho giáo - Phật giáo - Đạo giáo) có triết lý ảnh hưởng rất sâu sắc với cộng đồng, cũng như cả nước và trong văn hóa Đông Á. Điều này thể hiện rõ nét nhất qua nghi lễ và bài Hát Tạ Quan Công (Lễ Quan Thánh) của các gánh hát sắc bùa Quảng Ngãi. Việc thờ Quan Công không thuộc tín ngưỡng cụ thể nào, là sự phối thờ giữa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, còn gọi là Tam giáo đồng nguyên. Trong Nho giáo, Quan Công là biểu tượng của trung - hiếu - nghĩa - dũng; trong Phật giáo ông được tôn làm Già Lam hộ pháp và trong Đạo giáo ông được tôn làm Đế Quân, dẫn dắt chân linh. Tín ngưỡng thờ Quan Công du nhập vào nước ta thế kỷ XVII, thời nhà Hậu Lê (Lê Trung hưng) qua các nhân sĩ, trí thức Trung Hoa. Nếu Bà Chúa Tiên Huyền Nữ chuyên độ mạng nữ giới, thì Quan Thánh chủ yếu độ mạng cho nam giới.

4. Kết luận

Trong cuộc hành trình của tục hát sắc bùa từ phương Bắc, trong những giai đoạn khác nhau trong lịch sử Nam tiến của người Việt và cả người Mường, hát sắc bùa Quảng Ngãi chịu ảnh hưởng giao lưu tiếp biến khá sâu sắc. Đến hôm nay âm nhạc sắc bùa mang tính chất của vùng Nam Trung Bộ, có âm hưởng của điệu hô bài chòi, điệu xuân nữ, điệu thức oán, điệu cung, tuồng. Nhiều bài dân ca rất nổi tiếng từ vùng đất này, như: Lý Thương nhau, Lý Kéo chài, Lý Tang tít, Lý Vọng phu, Hò Giựt chì, Hò Giã gạo, Hò Giã vôi, Hò hụi, Hò Kéo lưới, Hát ống, Hát Nhân ngãi, Hát Bài chòi (Hô thai), Hát Sắc bùa, Ru em (dân ca Xơ Đăng), Bên dòng suối, Cô gái đẹp (dân ca H’rê)…

Qua các nghi thức và bài bản của các gánh hát sắc bùa ở Quảng Ngãi đã minh chứng cho sự phối thờ và niềm tin vào đa thần giáo của người Việt trong suốt diễn trình lịch sử dân tộc. Ngoài việc phản ánh việc thờ cúng ông bà tổ tiên (Đạo Ông Bà) và Thổ thần mang tính bản địa ra, sắc bùa Quảng Ngãi còn phản ánh các tín ngưỡng thờ cúng nữ thần. Sắc bùa Quảng Ngãi còn phản ánh Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo và cả Tam giáo đồng nguyên. Các nghi thức và bài bản hát sắc bùa Quảng Ngãi đã chứa đựng các giá trị văn hóa tâm linh và nghệ thuật truyền thống trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

Nội dung sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường đề cập đến việc tạo ra trời đất, sinh ra con người từ đất, nước, gắn liền với các lực lượng siêu nhiên, các nghi lễ tạo hồn, tạo vía. Nó chứa đựng các yếu tố liên quan đến bùa chú, phép thuật dân gian, cũng như có liên quan trực tiếp đến tục hát sắc bùa của người Mường và người Việt trong vai trò gốc rễ. Trong sử thi của nhiều quốc gia trên thế giới: Phần Lan, Ấn Độ (Mahabharata Ramayana), Trung Hoa (Manas và Jangar)... đều có yếu tố huyền bí, ma thuật, bùa phép, đặc biệt sử thi
Kalevala của Phần Lan chứa đựng rất nhiều yếu tố ma thuật, phép thuật, các vị thần, sinh vật huyền bí và những cuộc phiêu lưu kỳ diệu xoay quanh việc tạo ra thế giới. Điều này, cho chúng ta thấy hát sắc bùa đã mang những giá trị văn hóa của phương Đông, phương Tây và nhân loại như một giá trị phổ quát và hằng xuyên.

________________________________

Tài liệu tham khảo

1. Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Thiếu Hương, Nguyễn Đại Phúc, Lê Hải Đăng. (2000). Đặc khảo về hát sắc bùa. Sở Văn hóa Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Hồng Nhân (chủ biên). (1997). Quảng Ngãi, đất nước - con người - văn hóa. Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ngãi.

3. Phan Huy Chú. (1960). Lịch triều hiến chương loại chí (Tập I). Nhà xuất bản Sử học.

4. Phan Kế Bính. (1990). Việt Nam phong tục. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Ngô Đức Thịnh. (1999, tháng 1). Đạo Mẫu, từ nhận thức đến thực tiễn. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.

6. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng. (1991). Lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

7. Quốc sử quán triều Nguyễn. (1970). Đại Nam nhất thống chí (Tập 2, quyển 6,8), Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

8. Tô Ngọc Thanh. (1984). Nguồn gốc nghi lễ của hát sắc bùa. Tạp chí Văn hóa dân gian. Số 1.

9. Tocarev, X.A,. (1994). Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng (người dịch: Lê Thế Thép). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

10. Trịnh Hoài Đức. (1972). Gia Định thành thông chí. (bản dịch của Nguyễn Tạo). Mục Phong tục chí. Tập hạ.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 15/12/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 20/1/2026; Ngày duyệt đăng: 30/1/2026.

PGS, TS NGUYỄN THẾ TRUYỀN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 633, tháng 2-2026