Từ khóa: phát huy; bản sắc; đổi mới; xu hướng sáng tác tranh sơn mài.

Abtracts: The Party’s guidelines and viewpoints, international integration, the issue of promoting the value of national cultural identity, absorbing the essence of world art, and promoting innovation and creativity among Vietnamese artists have led to the adoption of lacquer painting as a medium used in handicrafts. Vietnamese artists have developed the use of lacquer, creating new trends in the creation of lacquer paintings. This article analyzes and affirms the value of Vietnamese lacquer paintings through the process of innovation in creative methods, expressive styles, brushstrokes, and materials, as well as expanding creative concepts to create new artistic trends. Simultaneously, it affirms the national identity, position, and role of lacquer painting in Vietnamese art, which is gradually adapting to the market economy and fulfilling its role in current economic development.

Keywords: promoting; identity; innovation; trends in lacquer painting.

Untitledmk.jpg
Mạch nguồn sự sống (2008) - Trương Bé - Nguồn ảnh: Họa sĩ cung cấp

1. Đặt vấn đề

Trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam, nền hội họa hiện đại chính thức ra đời năm 1925 sau khi Trường Mỹ thuật Đông Dương được thành lập, đi vào hoạt động và từng bước đã phát triển nhanh, mạnh, đa dạng trong các giai đoạn lịch sử. Dấu mốc đó đã hình thành đội ngũ họa sĩ sáng tác hội họa bằng chất liệu sơn mài. Từ nội dung, chủ đề đến hình thức nghệ thuật phong phú, đa dạng với chất liệu, kỹ thuật và tài năng của họa sĩ đã tạo ra những tác phẩm tranh sơn mài độc đáo mang bản sắc văn hóa dân tộc; chuyển biến kỳ diệu đó đã biến sơn mài từ một chất liệu truyền thống được sử dụng trong mỹ nghệ, trong đồ dùng sinh hoạt và trở thành một thể loại nghệ thuật. Chất liệu sơn mài được sử dụng trong sáng tác nghệ thuật là một trong những thành tựu đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

Trong sự đổi mới về xu hướng sáng tác hội họa Việt Nam nói chung, thể loại tranh sơn mài nói riêng, nhiều họa sĩ tìm cách thay đổi cách trình bày tạo ra bút pháp và quan niệm thẩm mỹ có sự tác động bởi đời sống đương đại. Tuy nhiên, sự thay đổi trong xu hướng sáng tác chỉ là phong cách riêng của từng họa sĩ; có những họa sĩ đã mạnh dạn đưa vào chất liệu sơn mài bằng xu hướng đối cách tân, phá cách so với xu hướng hiện thực. Người họa sĩ không quan tâm đến tỷ lệ, cũng như cách phối cảnh mà khai thác yếu tố trang trí nhằm tạo ra hiệu quả của sự ấn tượng về biểu hiện phá cách trong quan niệm về hình thể. Những xu hướng sáng tác này đã đem đến sự đánh dấu như vừa tiếp nối truyền thống vừa có lối nhìn tư duy mỹ cảm của thời đại. Xu hướng sáng tác mới mở cho chất liệu sơn mài dù đã đáp ứng được quan niệm thẩm mỹ của thời đại nhưng thực chất nó vẫn yêu cầu người họa sĩ phải theo đuổi và tuân thủ theo những kỹ thuật cơ bản. Điều đó gần với việc chất liệu sơn mài đã không cho phép họa sĩ dễ dãi với hội họa, nên những tác phẩm ấy vẫn mang đậm dấu ấn nghệ thuật dân tộc. 

Kể từ thập kỷ 80 cho đến nay, nghệ thuật sơn mài đã có sự vận động và chuyển hướng. Trên cơ sở chất liệu sơn truyền thống, nhiều họa sĩ với cách nhìn hiện đại đã khám phá phương pháp diễn đạt mới, áp dụng đường nét công nghiệp khỏe mạnh, dứt khoát trong tạo hình. Màu cổ truyền cũng được bổ sung thêm các sắc độ sáng và trung gian, qua đó tiếp tục hoàn thiện hơn ngôn ngữ biểu đạt của sơn mài. Nhiều tác phẩm tiêu biểu ở mỗi giai đoạn sáng tác của lớp lớp họa sĩ đã và đang góp phần xác lập diện mạo một nền nghệ thuật dân tộc và hiện đại. 

5 năm một lần, các triển lãm như triển lãm khu vực do Hội Mỹ thuật tổ chức, triển lãm chuyên đề, triển lãm nhóm, triển lãm cá nhân… đã góp phần thúc đẩy sự hình thành các xu hướng sáng tác mới. Nhiều thế hệ họa sĩ đã chứng tỏ khả năng sáng tác của mình với chất liệu sơn mài truyền thống, có điều kiện giao lưu với họa sĩ nước ngoài, kích thích khả năng sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển đa dạng của mỹ thuật Việt Nam. Chất liệu sơn mài được trưng bày ở nhiều cuộc triển lãm khác nhau, nhưng ở giai đoạn này đã ghi lại dấu ấn cá nhân, bộc lộ những cảm nhận của cá nhân nghệ sĩ như đang muốn cố gắng vượt lên chính mình thông qua một loạt đề tài được khai thác bắt nguồn từ cuộc sống hiện tại.

Những năm đầu thế kỷ XXI, đến nay, tranh sơn mài Việt Nam với xu hướng hội nhập thế giới, quan niệm thẩm mỹ và nghệ thuật có biến đổi, nhất là trong lớp họa sĩ trẻ. Chính vì vậy, xuất hiện nhiều tác phẩm sơn mài mang ngôn ngữ mới về chủ đề, xu hướng và kỹ thuật nhằm bắt nhịp với hiện thực cuộc sống, với thời đại. Sự xuất hiện với những xu hướng hiện đại đã chứng minh khả năng thể hiện mới, phi truyền thống, nhằm tạo ra hơi thở mới cho sơn mài, bằng thao tác kỹ thuật và bề mặt chất liệu mới phù hợp với ý đồ của tác giả. Bên cạnh đó, những nội dung chủ đề về lãnh tụ, phong cảnh sinh hoạt, lao động, sản xuất... các đề tài về môi trường, công nghệ, tâm thức… được các họa sĩ quan tâm phản ánh từ đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật sơn mài, cách thể hiện tạo nên một hình thức mới. Với tác động của làn sóng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, nhiều họa sĩ trẻ đã mượn chất liệu sơn mài để diễn giải nỗi lòng, tâm tư hay thái độ của người họa sĩ trước vai trò của mình đối với xã hội.

2. Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu về sự hình thành, bảo tồn phát huy giá trị tranh sơn mài Việt Nam mang bản sắc văn hóa dân tộc, tác giả áp dụng hướng tiếp cận liên ngành như lịch sử, văn hóa học, xã hội học và trọng tâm là mỹ thuật học.

Khoa học lịch sử cho tác giả một cách nhìn lịch đại, văn hóa học giúp cho tác giả nhìn nhận một cách sâu sắc về bản sắc văn hóa dân tộc, mỹ thuật học giúp cho tác giả tiếp cận một cách chuyên sâu về đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình cũng như các luận điểm về mỹ thuật Việt Nam từ truyền thống tới đương đại. Kết hợp đồng thời, tiến hành các phương pháp điều tra, khảo sát, chụp ảnh lấy tư liệu và phỏng vấn chuyên gia nghiên cứu, đồng nghiệp sáng tác chuyên về tranh sơn mài. Trên cơ sở đó tổng hợp, phân tích các tác phẩm nhằm xác định các xu hướng sáng tác mới của các họa sĩ vẽ tranh sơn mài Việt Nam.

3. Kết quả và thảo luận

Từ những đổi mới sáng tạo của các họa sĩ vẽ tranh sơn mài đã chứng minh khả năng thể hiện mới, phi truyền thống, nhằm tạo ra hơi thở mới cho sơn mài, bằng thao tác kỹ thuật và tạo bề mặt chất liệu mới phù hợp với ý đồ của tác giả trong tác phẩm của mình với những xu hướng sáng tác mà tranh sơn mài Việt Nam hiện đại có.

Xu hướng hiện thực, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc

Giai đoạn từ 1975-1986 là thời kỳ mà hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội còn nằm trong thiết chế xã hội có tính bao cấp nên điều này có thể lý giải vì sao mỹ thuật nói chung, những tác phẩm sơn mài nói riêng nằm trong bối cảnh của sự vận hành chung. Cho nên nhiều tác phẩm sơn mài đưa ra những chiêm nghiệm, hoài niệm cùng sự khát vọng của đổi mới. Những tư duy sáng tác thể hiện vai trò của người nghệ sĩ đối với xã hội, với những mảng đề tài chống văn hóa suy đồi, đề cao tinh thần tự cường của dân tộc. Tác phẩm Lính của Hoàng Trầm cũng có thể được xem là ví dụ. Một mặt quan trọng khác nữa là sự học tập và nghiên cứu các quy luật tạo hình của nước ngoài của các hoạ sĩ mà chủ yếu là của nghệ thuật tạo hình châu Âu. Những quy luật về không gian, xa gần, về bố cục và dựng hình, phần nào cả quy luật dùng màu, được các họa sĩ áp dụng sáng tạo vào chất liệu truyền thống này. Và chính việc áp dụng có ý thức các quy luật đó, ngược lại, đã thúc đẩy việc sáng tạo về kỹ thuật. Đồng thời, các họa sĩ vẫn phát huy cách nhìn truyền thống, vẫn dùng lối trang trí và cả lối bố cục theo “viễn cận tẩu mã”. Sự học tập có chọn lọc và sự khai thác truyền thống có gạn lọc về cả lý thuyết lẫn thực hành, đã tạo ra một phong cách sơn mài Việt Nam.

Ở những xu hướng này các tác giả tiêu biểu như: Huy Oánh, Lò An Quang, Trần Đốc, Nguyễn Lương Tiểu Bạch, Đoàn Văn Nguyên, Phạm Ngọc Sỹ, Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn Trường Linh…

Các tác phẩm như: Ngày xưa của Nguyễn Thị Loan Phương, hay tác phẩm Sưởi lửa của Phạm Ngọc Sỹ… đã thể hiện không gian hiện thực, sử dụng kỹ thuật và chất liệu sơn mài truyền thống, đầy chất lãng mạn, trữ tình. Tác phẩm Bác làm thơLớp học ở địa đạo của họa sĩ Đoàn Văn Nguyên đã nêu bật được nét đặc trưng của màu sắc, ánh sáng và không gian riêng biệt của sơn mài. Màu đỏ nâu được họa sĩ sử dụng bằng kỹ thuật nhấn, buông tạo ra sự tương phản giữa màu nền hòa cùng màu vàng và trắng trên nhân vật. Tác phẩm Lớp học ở địa đạo còn lột tả được một khoảnh khắc về không gian trong hầm với ánh sáng đèn le lói trong sự tập trung của học sinh. Tận dụng khả năng này, họa sĩ vẽ sơn mài có thể diễn tả được hiện thực bằng bút pháp đơn giản mà vẫn nói được bản chất của sự vật định miêu tả. Tác phẩm Sưởi lửa của Phạm Ngọc Sỹ có kỹ thuật sử dụng màu son đỏ rực của nền tranh, chính giữa tranh là nhà sàn đơn sơ, phía trước có nhóm người đang sưởi ấm bên bếp lửa. Khác với cách xử lý tông màu ấm thì họa sĩ Nguyễn Lương Tiểu Bạch lại dùng gam màu xanh làm chủ đạo để mô tả không gian của núi rừng gắn với hoạt động sản xuất nơi có những vẻ đẹp của ruộng bậc tháng, với tác phẩm Trên nương ngô. Vẻ đẹp riêng của tranh sơn mài chủ yếu vẫn là màu sắc, đặc biệt gắn với chất liệu bạc, son, cánh gián và then mỏng làm cho tác phẩm càng tăng thêm vẻ đẹp dung dị và sâu thẳm.

Với kỹ thuật sơn mài truyền thống, mặc dù không tả khối, chỉ hoàn toàn thể hiện mặt phẳng, nhưng kỹ thuật xử lý màu và hình rất nhuần nhuyễn, tạo sự bóng nhẵn, lung linh huyền ảo, màu vàng lộng lẫy, màu son đỏ tươi, màu trắng của vỏ trứng được mài nhẵn bóng, rồi màu xanh cũng được xử lý rất khéo. Một kỹ thuật sơn mài cổ điển thuần khiết. Chất liệu tạo hình sơn mài được áp dụng phổ biến, nhiều họa sĩ chuyển hẳn sang vẽ tranh sơn mài là sự khẳng định khả năng biểu đạt sáng tạo của hội họa Việt Nam. Ở các triển lãm trong và ngoài nước, tranh sơn mài Việt Nam ngày càng được dư luận chú ý.

Nguyễn Sáng cũng là một họa sĩ thể hiện tranh sơn mài thành công với việc tạo chất trên bề mặt, đặc biệt là việc đưa những đề tài sáng tác phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Ông vẽ nhiều tác phẩm sơn mài như: Kiều, Trong vườn chuối, Thiếu nữ áo dài, Cô gái, Đánh vật, Vũ trụ, Cô gái bên hoa sen… với kích thước lớn. Năm 1984, họa sĩ Nguyễn Sáng được Hội nghệ sĩ tạo hình (nay là Hội Mỹ thuật Việt Nam) phối hợp với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tổ chức một triển lãm cá nhân riêng với hơn 100 tác phẩm, mà chất liệu sơn mài là chủ yếu. Nhiều đề tài hướng về chiến tranh cách mạng ở những giai đoạn trước năm 1975, nhưng các tác phẩm được họa sĩ sáng tác khoảng sau năm 1975 lại là những lựa chọn về đề tài ca ngợi lao động sản xuất, niềm tự hào của quê hương đất nước. Tác phẩm nổi bật của họa sĩ Nguyễn Sáng giai đoạn này là Thanh niên thành đồng (130x240cm) với chất liệu sơn mài truyền thống. Đề tài này cho thấy họa sĩ đã thể hiện với niềm cảm xúc lớn lao và trân trọng cái đẹp. Với tranh nói chung, sơn mài nói riêng của họa sĩ Nguyễn Sáng là thể hiện tư duy nghệ thuật hiện thực sống động như được hòa làm một, tạo nên cấu trúc vững chắc, chuyển động trong hình thể và sắc độ. Các nhân vật trong tranh được ông xây dựng trên tinh thần của sự khỏe mạnh, vừa có cá tính vừa có tư chất riêng. Mảng tranh vẽ về các thiếu nữ được họa sĩ Nguyễn Sáng diễn tả với phom hình chắc khỏe, lối tạo hình đơn giản, hiện đại, nhưng trên hết là mảng đề tài mà họa sĩ Nguyễn Sáng muốn gửi đến các tác phẩm sơn mài là tình yêu Hà Nội, tình yêu con người và tình yêu cuộc sống, hòa bình cho nhân loại. 

Xu hướng tiếp biến nghệ thuật

Sự thay đổi mạnh về thẩm mỹ, về quan niệm nghệ thuật và tính quốc tế hóa thể hiện rõ hơn cả ở các hình thức nghệ thuật đương đại, xuất hiện lẻ tẻ vào nửa cuối thập kỷ 90, như nghệ thuật Đại chúng (Pop-art), nghệ thuật Sắp đặt (Installation), nghệ thuật Trình diễn (Performance art), nghệ thuật Video-art... Những hình thức nghệ thuật này có mặt ở Việt Nam thời kỳ Đổi mới như một lẽ tự nhiên của quá trình hội nhập toàn cầu trong xu hướng chung của nghệ thuật quốc tế, nhằm tiến tới xã hội hóa nghệ thuật, đồng thời qua đó cho thấy, những thay đổi, bức xúc của con người trước những vấn đề phức tạp mới của xã hội tiêu dùng, tin học, công nghệ cao... cuối thế kỷ.

Các triển lãm trao đổi, giao lưu với nước ngoài phát triển mạnh, có tính toàn cầu, đặc biệt là sau khi Mỹ bỏ cấm vận. Bắt đầu có sự hình thành các nhóm nghệ thuật trẻ tự do ở cả hai miền Nam Bắc.

Không khí đổi mới, hội nhập, các họa sĩ Việt Nam dần vươn ra thế giới, hợp tác đầu tư trong sáng tạo, đầu tư cho phát triển nghệ thuật. Đối với mỹ thuật, các nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa, các nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu, nhà sưu tầm mỹ thuật và đông đảo những người du lịch hiếu kỳ đã bắt đầu tới Việt Nam tìm “đối tác” là các nghệ sĩ, nhà phê bình, các nhà sưu tập và các chủ gallery Việt Nam. Sự gặp gỡ này khơi thông dòng chảy của mỹ thuật Việt Nam ra nước ngoài, cần kể tới hàng loạt các cuộc giới thiệu mỹ thuật Việt Nam khá quy mô và trân trọng ở nhiều nơi trên thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau. Hình ảnh văn hóa nghệ thuật Việt Nam đến với thế giới trước tiên là qua các tác phẩm mỹ thuật. Dòng chảy ra ấy, làm cho mỹ thuật Việt Nam hòa nhập vào mỹ thuật khu vực và quốc tế. Chỉ trong vài năm, không gian hoạt động của mỹ thuật Việt Nam đã mở rộng khắp thế giới, tạo ra một khái niệm Mỹ thuật Việt Nam hiện đại trong cộng đồng nghệ thuật khu vực và quốc tế.

Mỹ thuật cũng nhanh chóng vươn ra kinh tế thị trường, nghệ sĩ không còn ràng buộc với các thiết chế Nhà nước nữa. Đại bộ phận các hoạt động mỹ thuật do tư nhân và các tổ chức phi chính phủ đảm đương. Thị trường tuy nhỏ lẻ nhưng cũng đủ thay đổi cái nhìn, của công chúng đối với nghề mỹ thuật.

Trong quá trình hội nhập phát triển này, nổi lên lớp họa sĩ trẻ rất năng động đã nhanh chóng nhập cuộc. Họ được tự do sáng tác, công bố và tiêu thụ tác phẩm, họ nhanh nhậy tiếp thu những thành tựu của mỹ thuật thế giới. Có lẽ chưa bao giờ ở nước ta lại có nhiều triển lãm mỹ thuật, gallery được mở nhiều và liên tục như hiện nay. Điều này kết hợp với một lực lượng sáng tác trẻ đầy nhiệt huyết, với nhiều cách vẽ, khuynh hướng đã mở ra một xu hướng, phong cách mới cho nền mỹ thuật nước nhà. Không chỉ riêng với phong cách hiện thực mà tranh trừu tượng trên chất liệu sơn mài cũng như được thấy những nét biểu cảm đó. Tác phẩm Mạch nguồn sự sống của họa sĩ Trương Bé cũng sử dụng vẻ đẹp nguyên bản của màu nền son đỏ để triển khai nét ngẫu nhiên như vương vãi trên nền màu son đó.

Thực tế đã có những họa sĩ trẻ thể nghiệm bằng những kỹ thuật mới này nhằm tạo ra sự thay đổi cho chất liệu sơn mài. Đôi khi còn cho cảm giác như khá gần với kỹ thuật vờn khối của tranh sơn dầu phương Tây, để có thể cảm nhận được hiệu quả khi mài nhẹ trên mặt phẳng nhằm tạo không gian biểu hiện. Ví dụ như một số họa sĩ đã có những thể nghiệm mới như Đinh Quân, Nguyễn Văn Chuyên, Vũ Thăng, Bùi Hữu Hùng…

Xu hướng biểu hiện, lập thể, siêu thực

Ở những xu hướng này có các tác giả tiêu biểu như: Trương Bé, Thành Chương, Đinh Quân, Lê Quảng Hà, Vũ Thăng, Trịnh Quốc Chiến, Chu
Anh Phương…

Họa sĩ Đinh Quân với bức tranh Chân dung tự họa, đôi mắt đặt trên trán, khuôn mặt bị bóp méo trong hòa sắc vàng rực rỡ. Anh tự họa chân dung bằng bút pháp biểu hiện. Họa sĩ nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của trí tuệ. Tác phẩm Đêm dài - một bức sơn mài khổ lớn gồm 5 tấm vóc ghép lại, kích thước 100x350 cm, nhiều đôi mắt ẩn hiện khắp tranh, những cánh tay dài, mảnh của các cô gái, tay cầm quạt, tay thổi sáo, cầm đàn, cầm nậm rượu, những chiếc nón đỏ, hình những chiếc đồng hồ, những con hươu, dê cẩn vỏ trứng. “Đêm dài” - vật vã, trăn trở nhiều suy tư về cuộc sống hiện đại đa sắc diện. 

Xu hướng đồng hiện

Ở những xu hướng đồng hiện, có các họa sĩ tiêu biểu như: Đào Minh Tri, Hùng Khuynh, Lý Trực Sơn, Kim Quang…

Trong khi tranh sơn mài “cổ điển” trước đây nhiều tính hướng ngoại, thiên về các chủ đề sinh hoạt, lao động, phong cảch trữ tình, đề tài cách mạng, chiến đấu... với một tình cảm giản dị, trong sáng. Ở thập kỷ 90 của thế kỷ trước, cả dòng sơn mài “truyền thống” lẫn “hiện đại” đều hướng về phạm trù nội dung khác, đó là: tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa truyền thống, tình yêu và các ám ánh nội tâm, chủ quan chứa nhiều ẩn dụ phức tạp.

Họa sĩ Lý Trực Sơn là một trong những “tài năng lứa đầu của hội họa đổi mới”. Họa sĩ sinh năm 1949, được biết đến với vai trò là một họa sĩ sơn mài đầy kinh nghiệm tại Việt Nam. Lý Trực Sơn từng là giảng viên giảng dạy nghệ thuật sơn mài tại Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, từng có nhiều năm sáng tác mỹ thuật tại châu Âu. Lý Trực Sơn sáng tác trên nhiều chất liệu và đều ghi được dấu ấn riêng biệt. Tranh sơn mài của ông lấy đề tài và phong cách tạo hình mang đậm âm hưởng của nghệ thuật dân gian Việt Nam, bao trùm bởi một thứ hoài niệm vừa gần gũi vừa xa vời, tạo cho người xem cảm giác văn hóa lịch sử rõ rệt như ở thi ca và văn học. Mảng tranh trừu tượng trên chất liệu sơn mài và giấy gió của Lý Trực Sơn là sự kết hợp tuyệt vời giữa chất liệu, kỹ thuật truyền thống và sự chiêm nghiệm, tư duy siêu hình của một nghệ sĩ từng trải về cuộc sống, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo phương Đông và phương Tây. Ở ông, làm tranh sơn mài đòi hỏi sự công phu, tỉ mẩn trong các công đoạn chế tác, từ vẽ nhiều lớp, phủ sơn nhiều lần, mài nước, đánh bóng. Đồng thời, họa sĩ phải có sự bền bỉ trong cảm xúc và sự nhẫn nại trong lao động nghệ thuật. Thuận tay trong rất nhiều chất liệu như màu nước, sơn dầu, giấy dó... họa sĩ Lý Trực Sơn tìm lại sơn mài sau một cuộc viễn du trên nhiều miền phong cách để sáng tác một loạt tranh khổ lớn, luôn tuân thủ những quy tắc làm màu của nghề sơn với những màu sắc mạnh như xanh lá mạ, hồng cánh sen, lam ngọc, ghi bạc... Tác phẩm Quê ngoại - ông sáng tác năm 1980: nét độc đáo là bố cục tranh được chia ra làm 3 mảng sắc độ như muốn nói đến các tầng của ký ức con người và sự quyến rũ đầy tính tâm linh của màu sắc, mong muốn người xem nhớ lại những gì hiện tại đã trót bỏ quên; chỗ im lặng, chỗ thì xôn xao như những câu chuyện đồng quê. Tác phẩm mang khuynh hướng nghệ thuật đồng hiện tượng trưng với kỹ thuật sơn mài truyền thống, lối tạo hình hiện đại in đậm nét văn hóa dân gian.

Họa sĩ Hùng Khuynh với tác phẩm Cõi nhân gian, đạt Huy chương Bạc tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1995 ở Hà Nội. Trên con đường đi tìm cho mình một ngôn ngữ biểu cảm tượng trưng, Hùng Khuynh tỉnh táo và đắm chìm trong khốn khổ. Thế giới trong tranh của ông là hội hè, đình chùa, miếu mạ; những nghi trượng điện thờ, hoành phi câu đối trong nhà cho đến đầu đao rồng phượng chim hoa, mọi mô típ dân gian đều khai thác từ nhiều góc độ, khi giữ nguyên mốc, khi vuốt hình đổi sắc nhằm đẩy vật lên những yếu tố có tính nhân văn.

Xu hướng trừu tượng, ý niệm

Ở những xu hướng này có các họa sĩ tiêu biểu như: Trương Bé, Diệp Quý Hải, Lê Thừa Tiến, Đoàn Mỹ Hương, Nguyễn Thiện Đức…

Họa sĩ Lê Thừa Tiến là một họa sĩ tiêu biểu có hình thức biểu đạt mới. Sử dụng chất liệu sơn mài truyền thống của Việt Nam, một loạt các tác phẩm của Lê Thừa Tiến như những tấm gương chứa đựng nhiều lớp sơn mài, kết hợp với nhiều vật thể tạo hình khác như vải, lá, bạc, que hương, tạo ấn tượng về những mảng ký ức và thời gian. Tác phẩm Phản chiếu - tạo một hình thức và không gian tương phản giữa bề mặt tranh trong bóng, sâu của then và cánh gián phủ lên trên lớp vàng bạc chôn chìm, bên cạnh sự xù xì tượng trưng cho lớp thời gian và quá khứ. Bức tranh có tính phản chiếu qua bề mặt bóng nhưng lại được làm mềm đi bởi dư vị trong đường nét của những vật thể mang tính thời gian, tạo một không gian nghệ thuật mang tính ý niệm cao. Người xem như muốn nhìn ngắm kỹ hơn để khám phá ra ý nghĩa ẩn sâu trong bức tranh thông qua ký ức của bản thân mình.

Những họa sĩ vốn yêu thích xu hướng trừu tượng đã đưa vào chất liệu sơn mài một hơi thở mới, giá trị mới. Có lẽ họ đã cố gắng tạo nên những dấu ấn riêng. Qua nhiều tác phẩm sơn mài trừu tượng nhận thấy như họ có tinh thần chung đó là mong được vươn tới bắt kịp với thế giới đương đại. Từ chất liệu truyền thống, sơn mài cũng có những khả năng truyền đạt giá trị nghệ thuật thông qua kỹ thuật và xu hướng sáng tác. Họa sĩ Trương Bé được nhận định là họa sĩ biết vận dụng kỹ thuật thể hiện sơn mài truyền thống, để rồi sáng tạo sử dụng khả năng của nét, nghệ thuật dùng nét đưa vào tranh sơn mài bằng ngôn ngữ nghệ thuật trừu tượng. Tranh sơn mài trừu tượng của họa sĩ Trương Bé vừa dữ dội nhưng pha chút dịu dàng, tính nhịp điệu của yếu tố nét như vừa bất chợt thoáng qua trong tâm tư của người họa sĩ. Từ đó, tranh sơn mài của họa sĩ Trương Bé có tiếng nói riêng, gần gũi với ngôn ngữ của nghệ thuật đương đại.

Trong nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại, danh họa Nguyễn Gia Trí đã khiến cho chất liệu sơn ta trong các tác phẩm của ông trở nên bay bổng, thoát ra từ chính tính chất trang trí đơn thuần của nó, nâng tầm lên thành nghệ thuật với tư duy trừu tượng. Như nhà nghiên cứu Thái Bá Vân đã từng nhận định trong cuốn Tiếp xúc với nghệ thuật: “Nguyễn Gia Trí cho rằng trừu tượng chính là chất của sơn mài. Sơn mài không có cái gì thực cả. Ông đã hưởng ứng nghệ thuật trừu tượng từ khi mới làm sơn ở trường Mỹ thuật Đông Dương, vào những năm 1930, rồi kết thúc cuộc đời hội họa của mình cũng ở trừu tượng.” (1998, tr.87).

4. Kết luận

Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, các họa sĩ sáng tác tranh sơn mài hiện đại Việt Nam đã không ngừng khai thác, phát huy bản sắc văn hóa Việt, học tập tiếp thu tinh hoa nghệ thuật nước ngoài, trong sáng tác các họa sĩ đổi mới, sáng tạo, hình thành những xu hướng: biểu hiện, lập thể, trừu tượng… Sự bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống và sự đổi mới trong sáng tạo đã tạo nên những tác phẩm có giá trị về nội dung, về hình thức nghệ thuật góp phần dòng chảy của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Thể loại tranh sơn mài Việt Nam nói riêng nền hội họa Việt Nam nói chung đã dần dần lan tỏa trong khu vực châu Á và trên trường quốc tế.

______________________________

Tài liệu tham khảo

1. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. (2000). Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Nhà xuất bản Mỹ thuật.

2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2015). Vựng tập triển lãm mỹ thuật Việt Nam 2015. Nhà xuất bản Mỹ thuật.

3. Phạm Đức Cường. (2001). Kỹ thuật sơn mài. (Tái bản). Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.

4. Lê Thanh Đức. (1996). Nghệ thuật Mô Đéc và Hậu Mô Đéc. Nhà xuất bản Mỹ thuật.

5. Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinh- phu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan- thu-xiii-cua-dang-102288263.htm

Ngày Tòa soạn nhận bài: 10/1/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 20/1/2026; Ngày duyệt đăng: 30/1/2026.

Ths CHU ANH PHƯƠNG

Nguồn: Tạp chí VHNT số 633, tháng 2-2026