Xa sung.jpg

Lâu nay, sá sùng vẫn được người miền biển Quan Lạn gọi vui là món ăn của “giới nhà giàu”. Cách nói nghe có vẻ hóm hỉnh nhưng phía sau đó là cả một câu chuyện về thứ đặc sản chẳng dễ gì có được. Từ lúc tìm bắt dưới những doi cát ven biển cho đến khi làm sạch, sơ chế rồi nấu thành món ăn, mỗi công đoạn đều đòi hỏi kinh nghiệm và sự kiên nhẫn của người có nghề. Bởi vậy, một bát sá sùng nấu chua giản dị đặt giữa mâm cơm gia đình đôi khi lại mang theo cả vị mặn mòi của biển đảo và công sức của những người quanh năm bám cát, bám triều.

Chẳng thế mà không ít người dân đã sống mấy chục năm trên đảo, khi được hỏi cách bắt sá sùng vẫn lắc đầu nguầy nguậy, thật tình trả lời: “Bắt sá sùng khó lắm, phải có nghề mới bắt được đấy em ạ”. Sá sùng sống sâu dưới lớp cát, thường chỉ để lại những dấu hiệu rất nhỏ trên mặt bãi, người không quen nghề gần như chẳng thể biết nơi nào có chúng. Người bắt sá sùng phải nhìn cát, nhìn con nước, nhớ từng doi bãi và biết thời điểm thích hợp để tìm kiếm. Có những hôm lặn lội ngoài bãi hàng giờ, chân tay lấm đầy bùn cát mà trở về chẳng được bao nhiêu.

Sá sùng bắt được đem về còn phải làm sạch thật kỹ, bởi bên trong thân chúng có phần đất cát cần được loại bỏ. Người có kinh nghiệm thường xử lý rất khéo để con sá sùng vẫn giữ được độ giòn, ngọt và không còn mùi tanh nồng. Sá sùng tươi nhìn có vẻ chẳng mấy bắt mắt, thậm chí với người lần đầu nhìn thấy còn dễ ngần ngại, vậy mà khi đi qua bàn tay người đảo lại trở thành một thứ nguyên liệu quý. Có lẽ chính những công đoạn âm thầm ấy đã làm nên giá trị của sá sùng, khiến món ăn này không chỉ quý bởi độ ngon mà còn bởi cái nghề khó nhọc phía sau.

Trong những cách chế biến sá sùng, nấu chua là món khiến tôi thích thú bởi sự mộc mạc. Sá sùng được làm sạch, cắt vừa miếng rồi nấu cùng cà chua, dứa và những thứ rau gia vị quen thuộc. Nước dùng có vị chua thanh của dứa, vị ngọt tự nhiên của sá sùng quyện với vị đậm đà của biển, nhìn qua đã thấy hấp dẫn bởi màu vàng trong của nước dùng, những miếng dứa vàng ươm và thân sá sùng trắng ngần nổi trên mặt bát. Món ăn không cầu kỳ về hình thức nhưng càng ăn càng nhận ra cái duyên riêng của nó.

Miếng sá sùng vừa chạm đầu đũa đã có độ giòn đặc trưng, nhai chậm một chút mới cảm nhận được vị ngọt đọng lại. Nước canh chua không quá gắt, vừa đủ để đánh thức vị giác, làm cho cái ngọt của sá sùng trở nên rõ ràng hơn. Ăn cùng cơm nóng, món ăn ấy có cái ngon rất thật, không cần nhiều gia vị, cũng chẳng cần bày biện sang trọng. Đôi khi chỉ một bát canh nóng giữa mâm cơm chiều, bên cạnh đĩa rau xanh và bát nước chấm, cũng đủ để người ta nhớ mãi một vùng biển.

Người Quan Lạn có lý khi gọi sá sùng là món ăn của “giới nhà giàu” nhưng có lẽ cái quý nhất của món ăn này không chỉ nằm ở giá tiền. Nó nằm trong những buổi người ngư dân lầm lũi ra bãi khi con nước vừa rút, trong đôi bàn tay chai sần lần tìm từng dấu vết nhỏ trên mặt cát, trong kinh nghiệm được truyền từ người này sang người khác qua bao mùa con nước lên rồi xuống. Một bát sá sùng nấu chua vì thế chẳng đơn thuần là một món đặc sản để khách phương xa tìm đến thưởng thức. Nó là một phần của đời sống Quan Lạn, nơi biển không chỉ cho người ta cá tôm mà còn giấu trong lòng cát những sản vật phải thật sự am hiểu biển mới có thể tìm thấy.

SONG NINH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 658, tháng 10/2026