Từ khóa: khảm xà cừ; mô típ trang trí; đồ gỗ nội thất; trang trí nội thất; thiết kế nội thất.
Abstract: Mother-of-pearl inlay is a unique and highly applicable traditional art form. The decorative motifs of mother-of-pearl inlay carry cultural, historical, and artistic value, reflecting the life and worldview of the Vietnamese people. Today, older mother-of-pearl inlay motifs on furniture or interior components are still popular among a certain group of users. However, these themes are no longer suitable for younger customers with modern tastes. Based on the systematization and assessment of the value of traditional mother-of-pearl inlay motifs, the results of this paper predict new motif trends based on the principle of promoting the artistic values of traditional mother-of-pearl inlay while ensuring novelty and suitability to modern aesthetic tastes.
Keywords: mother-of-pearl inlay; decorative motifs; wooden furniture; interior decoration; interior design.

Nguồn: tác giả
1. Đặt vấn đề
Trong nghệ thuật tạo hình, việc cách điệu, tượng trưng hóa các đối tượng trong tự nhiên hoặc đời sống lao động, xã hội tạo thành các mô típ trang trí mang giá trị nghệ thuật. Những mô típ, chủ đề trang trí có khả năng biểu đạt tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ của một cộng đồng hoặc dân tộc tương ứng từng giai đoạn lịch sử mang bối cảnh văn hóa, xã hội khác nhau. Ở Việt Nam, khảm xà cừ là một nghề thủ công được khai thác trang trí trên các cấu kiện kiến trúc truyền thống, trên đồ đạc nội thất, đồ dùng hằng ngày và các đồ decor. Mô típ tạo hình trang trí là một trong những yếu tố góp phần làm nên giá trị nghệ thuật độc đáo của khảm xà cừ.
Trong bối cảnh hiện đại hóa, khảm xà cừ trên đồ đạc hoặc cấu kiện nội thất bằng các đề tài trang trí cũ vẫn được ưa chuộng ở những phân khúc nhất định nhưng không còn thực sự phù hợp với nhóm khách hàng có thị hiếu thẩm mỹ hiện đại. Không thể phủ nhận giá trị của các mô típ trang trí cũ nhưng cũng cần đề xuất những ý tưởng tạo hình mới để làm nổi bật giá trị của nghệ thuật khảm xà cừ trong đời sống hiện đại. Mục đích của bài báo là đề xuất nguyên tắc chung và dự báo xu hướng ứng dụng của khảm xà cừ trong nội thất hiện đại trên cơ sở kế thừa, phát huy và nâng cao ý thức kết nối nghệ thuật với truyền thống.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các nhóm phương pháp tối ưu để triển khai như thu thập tư liệu lịch sử về làng Chuôn Ngọ trong đó có các văn bản thần tích tổ nghề, các sách báo, công trình ngiên cứu liên quan đến nghệ thuật khảm trai xà cừ Việt Nam; phương pháp quan nghiên cứu thực địa về làng nghề đang hoạt động để tiếp cận trực tiếp, các quy trình tạo ra sản phẩm, ghi chép, chụp hình…và tổng hợp phân tích từng chi tiết kỹ thuật, cách tạo hình trang trí trên mỗi mặt phẳng chiều diện của các sản phẩm, phỏng vấn các nghệ nhân làng nghề để đi đến phân tích kỹ đặc thù loại hình nghệ thuật này. Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp liên ngành văn hóa để giải mã các ý nghĩa về văn hóa học, tâm linh và triết học đằng sau các hình ảnh và biểu tượng nghệ thuật khi đã được các nghệ nhân làng Chuôn Ngọ tạo hình trang trí trên các sản phẩm khảm xà cừ truyền thống.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả
Lịch sử ra đời và phát triển nghệ thuật khảm xà cừ truyền thống
Khảm xà cừ (hay còn được gọi là khảm trai, khảm ốc…) từ xưa là vật liệu trang trí cao cấp trên đồ thủ công mỹ nghệ. Ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực như Đài Loan (Trung Quốc), Trung Quốc, Singapore… nghệ thuật khảm xà cừ rất phát triển và đạt được nhiều thành tựu. Khảm xà cừ truyền thống của Việt Nam đạt đến độ tinh xảo và mang nét đặc trưng riêng nhờ vào kỹ thuật khảm và đề tài trang trí đặc sắc.
Làng nghề Chuôn Ngọ ở phía Nam thành phố Hà Nội được coi là cái nôi của nghề khảm xà cừ ở miền Bắc Việt Nam. Làng Chuôn Ngọ (Hạ Ngọ trước kia) truyền lại rằng, ông tổ nghề là nhà sư Trương Công Thành sau được tôn là Thành hoàng làng. Về sau dưới thời Vua Lê Hiến Tông (1740-1786), một người thợ thủ công tên Nguyễn Kim chạy loạn từ Đàng Trong đến làng đã dạy lại những bí quyết của mình và trở thành ông tổ thứ hai của làng nghề. Vào khoảng giữa TK XIX, một số thợ khảm trai trong xã đã xa xứ lập nghiệp tại Cửu Lâu - một làng cổ xưa của Hà Nội nhìn ra hồ Hoàn Kiếm (giờ là phố Hàng Khay, Hà Nội). Phố Hàng Khay được biết đến như là con phố của những người thợ khảm trai cho đến thời kỳ Pháp thuộc, phố Hàng Khay bị phá bỏ thay bằng con phố Tây Paul Bert, nơi những người thợ khảm không thể đến làm việc nữa. Sau năm 1986 ở miền Bắc nước ta có sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, đổi mới đất nước, khuyến khích doanh nghiệp ngoài quốc doanh khiến cho những làng nghề truyền thống phát triển trở lại với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu. Thợ khảm trai Chuôn Ngọ rời đến các vùng trong cả nước để phát triển nghề như Huế, Nha Trang, Đà Nẵng, Hội An… Nghề khảm trai được phối hợp cùng các nghề khác để tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của thị trường như nghề gỗ Đồng Kỵ, nghề gốm Bát Tràng, nghề sơn mài Bối Khê… Hiện nay, làng nghề vẫn duy trì với các mặt hàng mỹ nghệ và quà tặng lưu niệm dành cho khách du lịch.
Kỹ thuật khảm xà cừ truyền thống
Kỹ thuật khảm xà cừ truyền thống rất công phu. Để có được một sản phẩm khảm hoàn thiện, người nghệ nhân thực hiện nhiều công đoạn khác nhau, tạm chia thành năm bước, bao gồm: vẽ mẫu, cắt theo họa tiết mẫu, dán miếng cắt vào tấm cốt và đục theo các họa tiết, đến dán miếng xà cừ, dùng đá mài mài phẳng và dùng dao bằng thép tách tỉa ra các họa tiết nhỏ, dùng giấy ráp đánh cho nổi họa tiết lên. Cuối cùng toàn bộ sản phẩm được đánh bóng bằng véc-ni để nổi bật các họa tiết. Xuất phát từ đặc trưng riêng của nguyên liệu hoặc chất liệu cấu thành cũng như kỹ thuật đặc trưng của từng bước khảm trai góp phần tạo nên những đặc tính riêng của vật liệu này. Việc đánh giá những tính chất đặc trưng riêng biệt đó chính là tiền đề đề xuất những giải pháp khai thác giá trị của nghệ thuật khảm trai ứng dụng trong thiết kế đồ đạc nội thất hiện đại.
Nhà nghiên cứu Sylvie Fanchette (2020, tr.233) đã phân tích: “Đầu tiên cần phải dát mỏng các vỏ sò (chúng được đựng trong những túi sắt lớn và mang mùi vị của biển) bằng cách để chúng trong các mỏ cặp sau khi đã ngâm trong nước. Đôi khi các mảnh trai bị vỡ. Các công nhân cắt các vỏ sò đã dát mỏng ra thành nhiều miếng và tách phần đã dát mỏng với các mép ngoài, sau đó làm cho nhẵn bóng. Tiếp theo, người ta tinh luyện trong vòng 24 giờ các mảnh sò đã được mài nhẵn để trong mỏ cặp ngâm trong nước và cứ 15 phút lại khuấy tròn một lần. Sau đó, theo phương pháp truyền thống, người ta dán các mảnh trai lên mẫu giấy theo hình vẽ phải thực hiện rồi cắt bằng một chiếc cưa nhỏ xíu và một chiếc giũa. Những mảnh trai đã được cắt gọt được đặt lên bề mặt gỗ cần trang trí và đường viền của chúng được vạch trên mặt gỗ bằng một dụng cụ nhọn. Sau đó, với một cái đục và một chiếc dùi đục, người ta khoét một miếng gỗ đúng bằng thể tích và hình dạng của mảnh trai đặt vào đó. Nếu phần gỗ khoét đi lớn hơn, người ta phải lấp bớt nó lại bằng keo dính được làm từ sơn mài và gỗ vụn, nhưng toàn bộ nghệ thuật của người thợ khảm là giảm tới mức tối thiểu việc sử dụng biện pháp chắp vá này vì nó sẽ làm giảm chất lượng và giá trị của sản phẩm”.
Điều đó cho thấy, kỹ thuật khảm xà cừ truyền thống của Việt Nam khuyến khích các nghệ nhân/ người thợ công phu tỉ mỉ khiến cho họ tự do thực hiện các mô típ trang trí khác nhau. Sự độc đáo của các mô típ khảm xà cừ Chuôn Ngọ nhìn chung nhờ vào lối tạo hình tự nhiên, sáng tạo hầu như không lệ thuộc hoàn toàn vào bất kỳ quy ước, thủ pháp tạo hình nào. Bên cạnh đó, việc khéo léo tận dụng màu sắc và ánh xà cừ của nguyên liệu vỏ ốc, vỏ trai khiến cho những mô típ khảm xà cừ mang giá trị độc bản trên từng sản phẩm.
Những mô típ trang trí khảm xà cừ truyền thống làng nghề Chuôn Ngọ
Mô típ trang trí khảm xà cừ trên đồ gỗ nội thất Chuôn Ngọ rất phong phú từ những mô típ chủ đề thiên nhiên phong cảnh, con người, động thực vật hay những họa tiết mang ý nghĩa biểu tượng. Nhìn chung mô típ trang trí của khảm xà cừ Chuôn Ngọ trước đây có nhiều nét tương đồng với các mô típ trang trí truyền thống của ông bà ta xưa trên gốm, sứ, đồng… Tuy nhiên, do đặc điểm kỹ thuật chế tác khác nhau, nguyên vật liệu, chất liệu chế tác khác nhau nên cùng một mô típ trang trí nhưng vẫn có những điểm khác biệt. Theo khảo sát tại làng nghề khảm xà cừ Chuôn Ngọ, những mô típ trang trí phổ biến có thể phân loại như sau:
Mô típ thiên nhiên, phong cảnh
Trong nghệ thuật khảm xà cừ Chuôn Ngọ, mô típ thiên nhiên, phong cảnh xuất hiện với tần suất tương đối phổ biến. Các đề tài thường gặp là những danh lam thắng cảnh tiêu biểu của đất nước như hòn Trống Mái, chùa Một Cột… hoặc những hình ảnh quen thuộc, gần gũi của làng quê Việt Nam như cánh đồng lúa, cây đa, giếng nước, cảnh chăn trâu, cắt cỏ... Những mô típ này chủ yếu tái hiện các tiểu cảnh đời sống lao động sinh hoạt một cách mộc mạc, hồn nhiên, hoặc được thể hiện theo lối đồng hiện nhằm mô tả tổng thể các địa danh, công trình kiến trúc nổi bật, ít có sự sáng tạo hay cách điệu về mặt tạo hình. Do đặc điểm nội dung và bố cục, các mô típ phong cảnh thường được khảm trên những đồ gỗ có kích thước lớn như cánh tủ, mặt sập, tựa lưng ghế bộ trường kỷ.
Bên cạnh đó, mô típ phong cảnh còn được thể hiện dưới dạng phong cảnh ước lệ, mang tính công thức, chịu ảnh hưởng từ các tích truyện Trung Hoa như Ngư - Tiều - Canh - Mục, hoặc phong cảnh tả theo lối “tẩu mã”. Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Nho giáo, sự hiện diện của các đề tài này trong khảm xà cừ Chuôn Ngọ là điều dễ hiểu, tương đồng với nhiều loại hình mỹ nghệ truyền thống khác như gốm, sứ, thêu. Tuy nhiên, nhờ khai thác hiệu quả đặc tính ánh sắc của chất liệu xà cừ cùng kỹ thuật cắt, chạm tinh xảo và tư duy sáng tạo của nghệ nhân, các mô típ này vẫn tạo dựng được giá trị thẩm mỹ riêng, không hoàn toàn lệ thuộc vào thủ pháp tạo hình của nghệ thuật Trung Hoa.
Mô típ con người
Mô típ con người trong khảm xà cừ Chuôn Ngọ có thể chia thành 3 nhóm chính: nhóm các nhân vật huyền tích như thần tiên trong thần thoại, truyền thuyết; nhóm các nhân vật mang tính biểu trưng của tôn giáo, tín ngưỡng và nhóm hình ảnh con người trong đời sống hiện thực. Trong đó, nhóm mô típ con người trong đời sống hiện thực bao gồm các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa, hoặc hình ảnh con người lao động bình dị, thường xuất hiện trong các hoạt cảnh sinh hoạt thường ngày.
Mô típ con người thường được khảm trên các diện chính, dễ quan sát của đồ gỗ nội thất như cánh tủ, tựa lưng ghế bộ trường kỷ, mặt bàn. Trong giai đoạn phong kiến, tạo hình con người chịu ảnh hưởng rõ nét của tư duy biểu trưng, ước lệ trong nghệ thuật Trung Hoa, thể hiện qua các đề tài quen thuộc như Tam Đa Phúc - Lộc - Thọ, các cô tiên, Quan Công (Quan Vân Trường), hay các hình tượng Ngư ông, Tiều phu, Mục đồng. Ở giai đoạn muộn hơn, nghệ thuật khảm xà cừ Chuôn Ngọ ghi nhận sự xuất hiện của những đề tài sinh động hơn, phản ánh trực tiếp đời sống lao động, sinh hoạt của người dân làng quê Việt Nam như cấy lúa, đơm cá, thả diều.
Khi văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam, mô típ con người trong khảm xà cừ tiếp tục được mở rộng với sự xuất hiện của các hình tượng tôn giáo như Chúa Giê-su, Đức Mẹ Maria. Bên cạnh đó, các nhân vật lịch sử dân tộc cũng được khai thác, song chủ yếu mang tính trang trí thuần túy hơn là ứng dụng vào đồ nội thất sử dụng thường ngày. Trong thời kỳ hiện đại, một số mô típ mới như ả đào, thiếu nữ mặc áo dài, cô gái tân thời cũng được ghi nhận.
Mô típ động vật
Mô típ động vật trong khảm xà cừ đồ gỗ nội thất Chuôn Ngọ có thể phân chia thành 3 nhóm chính. Nhóm thứ nhất, các linh thú, thần thú mang ý nghĩa biểu trưng và tâm linh như rồng, lân, hạc. Nhóm thứ hai, bao gồm các loài động vật có đại bàng (biểu trưng cho sức mạnh và tự do), hổ (sức mạnh), rùa (trường thọ, may mắn), chim công (phú quý), hay mô-típ “mã đáo” biểu trưng cho sự thành công. Nhóm thứ ba là những loài vật quen thuộc, gần gũi với đời sống con người, thường xuất hiện như yếu tố phụ trong các hoạt cảnh, bao gồm cò, chuồn chuồn, bướm, chim, cá.
Về tạo hình, các mô típ động vật trong khảm xà cừ Chuôn Ngọ chịu ảnh hưởng nhất định từ nghệ thuật Trung Hoa, đặc biệt ở nhóm linh thú và thần thú. Do mang ý nghĩa trang nghiêm, các mô típ này thường được sử dụng trên đồ thờ, đồ nội thất đặt trong không gian tín ngưỡng. Ngược lại, những
mô típ động vật gần gũi, đời thường được khai thác rộng rãi trên các đồ dùng sinh hoạt hằng ngày như ghế, bàn, sập, tủ, góp phần tạo nên cảm giác sinh động, gần gũi cho không gian sống.
Mô típ thực vật, cây cỏ, hoa lá
Mô típ thực vật trong khảm xà cừ Chuôn Ngọ được chia thành 2 nhóm cơ bản. Nhóm thứ nhất là các loài thực vật mang ý nghĩa biểu trưng như bộ tứ quý Tùng - Cúc - Trúc - Mai, cây bồ đề, cây đa. Nhóm thứ hai bao gồm các loài cây, hoa, quả gần gũi với đời sống lao động sản xuất như hoa rau muống, hoa mướp, hoa hồng, hoa thị, chùm nho, quả bầu, quả na. Hai nhóm mô típ này có sự khác biệt rõ rệt về lối tạo hình. Nhóm thực vật mang tính biểu trưng thường được thể hiện theo lối ước lệ, tuân thủ những quy phạm tạo hình chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Hoa cổ đại. Ngược lại, các mô típ thực vật dân gian lại mang nét tả thực, tự nhiên, sinh động, phản ánh đời sống lao động và thế giới tinh thần phong phú của cư dân nông nghiệp Việt Nam.
Nhìn chung, mô típ thực vật được đánh giá là nhóm mô típ được khai thác nhiều nhất trong khảm xà cừ Chuôn Ngọ do không gắn trực tiếp với yếu tố tâm linh hay tôn giáo. Các họa tiết hoa lá tạo cảm giác nhẹ nhàng, vui mắt, có thể ứng dụng linh hoạt trên nhiều loại đồ đạc và ở nhiều vị trí khác nhau, từ chân bàn, chân tủ đến mặt ghế, mặt sập, mà không làm ảnh hưởng đến mỹ cảm tổng thể của không gian sử dụng.
Mô típ tích cổ, điển cố - điển tích
Các mô típ tích cổ, điển cố trong khảm xà cừ Chuôn Ngọ chủ yếu bắt nguồn từ hệ thống điển tích của Nho giáo, vốn có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa, giáo dục truyền thống Việt Nam. Việc đưa các điển tích này vào trang trí đồ gỗ nội thất không chỉ nhằm mục đích thẩm mỹ mà còn thể hiện nhân sinh quan, đạo lý và tinh thần hiếu học của người Việt. Một số điển tích thường gặp như Bảy mươi hai đạo hiếu, Lão Tử cưỡi trâu, “Võ Tòng đả hổ”. Do đặc điểm nội dung mang tính tự sự, các mô típ này thường được thể hiện trên những đồ gỗ có kích thước lớn, có khả năng phân chia không gian tạo hình hợp lý cho việc chuyển cảnh, chẳng hạn như bình phong, cánh tủ chè.
Mô típ học hỏi từ tạo hình tranh dân gian
Một đặc điểm đáng chú ý của mỹ nghệ thủ công truyền thống Việt Nam là sự giao thoa, tiếp biến giữa các loại hình nghệ thuật. Khảm xà cừ Chuôn Ngọ cũng tiếp thu và vận dụng nhiều mô típ, tạo hình từ các dòng tranh dân gian như tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống. Một số đề tài tiêu biểu được khai thác hiệu quả trong khảm xà cừ đồ gỗ nội thất có thể kể đến như “Hứng dừa”, “Thiếu nữ gội đầu”, “Cá chép trông trăng”. Trong thực tế, các mô típ này không chỉ được ứng dụng trên đồ nội thất mà còn được khảm thành tranh trang trí hoặc sử dụng trên các sản phẩm thiên về trang trí không gian như tranh treo tường, bình phong, đồ decor.
Mô típ đề tài tôn giáo
Làng nghề Chuôn Ngọ nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ, sản phẩm khảm xà cừ chủ yếu phục vụ thị trường trong nước và một số thị trường lân cận. Các mô típ đề tài tôn giáo trong khảm xà cừ Chuôn Ngọ phản ánh tín ngưỡng của 3 hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng chính: tín ngưỡng dân gian, Phật giáo và Thiên Chúa giáo.
Mô típ tôn giáo có thể chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất là các nhân vật tôn giáo như Phật Thích Ca, Quan Thế Âm Bồ Tát, Chúa Giê-su, Đức Mẹ Maria; nhóm thứ hai là các biểu tượng, pháp khí mang ý nghĩa tôn giáo như tịnh bình, cành dương liễu, chữ Vạn, biểu tượng âm, dương ngũ hành, thập tự giá. Do tính chất linh thiêng, các mô típ này thường không được sử dụng đại trà mà chủ yếu xuất hiện trên đồ gỗ nội thất đặt làm riêng cho không gian thờ tự, tín ngưỡng.
Các mô típ khác
Ngoài các nhóm mô típ nêu trên, khảm xà cừ Chuôn Ngọ còn sử dụng một số mô típ mang tính biểu tượng khác như bao gươm, hộp như ý, dây như ý, hộp quà, nơ trang trí, chữ Hán và thư pháp. Trong đó, mô típ chữ Hán có thể được khảm độc lập như chủ thể trang trí trên bình phong, cánh tủ, hoặc đóng vai trò như lời đề, góp phần diễn giải nội dung và ý nghĩa của tranh khảm. Trong phạm vi của bài viết, việc thống kê đầy đủ toàn bộ hệ thống họa tiết trang trí của khảm xà cừ Chuôn Ngọ là điều khó khả thi. Tuy nhiên, việc phân loại mô típ theo các nhóm như trên cho phép tiếp cận loại hình nghệ thuật này một cách có hệ thống, góp phần làm rõ đặc trưng tạo hình và giá trị thẩm mỹ của khảm xà cừ làng nghề truyền thống Chuôn Ngọ.
3.2 Thảo luận
Luận bàn về mô típ trang trí khảm xà cừ hiện đại
Quan điểm về việc khai thác mô típ trang trí khảm xà cừ: Trong những năm gần đây, việc tìm tòi kế thừa các giá trị truyền thống được nhấn mạnh là nhiệm vụ cấp thiết trong mọi lĩnh vực đặc biệt là văn hóa và nghệ thuật. Trong đó, giữ gìn và phát triển các làng nghề thủ công mỹ nghệ như khảm xà cừ Chuôn Ngọ luôn được ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, đứng trước những thay đổi của văn hóa, đời sống hiện đại và sự tiến bộ khoa học kỹ thuật của kỷ nguyên 4.0 thì sự kế thừa đơn thuần là chưa đủ. Những chất liệu nghệ thuật như khảm xà cừ muốn khẳng định vị trí trên thị trường cũng như trong đời sống văn hóa, ngoài việc kế thừa nguyên bản còn cần tính mới, tính sáng tạo được ứng dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả.
Có thể nhận định những mô típ trang trí khảm xà cừ Chuôn Ngọ truyền thống có giá trị nghệ thuật, văn hóa, lịch sử nhất định. Tuy nhiên, như đã phân tích, những yếu tố tác động đến mô típ trang trí khảm xà cừ luôn có sự vận động thay đổi. Bởi vậy, làng nghề cũng cần có định hướng tìm tòi những mô típ trang trí mới phù hợp với thị hiếu hiện đại. Điều này không chỉ phù hợp với xu hướng phát triển chung của văn hóa xã hội mà còn giúp nhấn mạnh vai trò của các mô típ trang trí khảm xà cừ Chuôn Ngọ, đó là góp phần quan trọng vào việc định hình, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan và quan điểm văn hóa nghệ thuật của chúng ta trong thời điểm hiện tại. Như vậy, xét về mặt nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật, những mô típ khảm xà cừ được đổi mới sáng tạo sẽ đóng góp những giá trị mới vào kho tàng giá trị văn hóa nghệ thuật của đất nước ta.
Trên thực tế, để tạo ra những mô típ trang trí khảm xà cừ trên đồ gỗ nội thất Chuôn Ngọ cần phải có nghiên cứu, tư duy bằng nhiều cách tiếp cận mới mẻ hơn, mở rộng hơn nữa phạm vi ứng dụng. Bước này cần sự thể hiện vai trò của các nhà thiết kế, họa sĩ design công nghiệp, nhà thiết kế nội thất - những người có tư duy thiết kế nhằm thúc đẩy sự sáng tạo được định hình một cách nhất quán và đạt thẩm mỹ tốt hơn, chinh phục thị hiếu hiện đại dễ dàng hơn so với việc các nghệ nhân của làng nghề tự đề xuất những đề tài, mô típ mới. Cần xét đến giải pháp kết hợp sao cho nhuần nhuyễn giữa người làm thiết kế và làng nghề sản xuất trực tiếp mới nâng cao được hiệu quả.
Luận bàn về xu hướng mô típ trang trí khảm xà cừ hiện đại
Khảm xà cừ trên đồ gỗ nội thất Chuôn Ngọ tiếp tục duy trì các mô típ trang trí cũ: nếu nhận định khảm xà cừ truyền thống trên đồ gỗ nội thất Chuôn Ngọ dưới góc nhìn nghệ thuật, văn hóa và lịch sử thì cần khẳng định những giá trị bền vững của nó trong việc đóng góp vào kho tàng chất liệu nghệ thuật truyền thống của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu đánh giá nó dưới góc nhìn của thị trường trong vai trò là một sản phẩm nội thất hay một sản phẩm của nghệ thuật ứng dụng mang giá trị kinh tế lưu thương, ngoài việc ghi nhận những giá trị cũ hiện vẫn đang được duy trì trên một nhóm khách hàng nhất định thì cần tìm tòi cái mới để sản phẩm khảm xà cừ đồ gỗ nội thất Chuôn Ngọ có được chỗ đứng mới trên thị trường.
Các mặt hàng đồ gỗ nội thất khảm xà cừ truyền thống Chuôn Ngọ hiện nay vẫn duy trì duy trì các mô típ cũ trên một nhóm khách hàng nhất định và vẫn đang chiếm tỉ trọng lớn. Những mặt hàng này phải kể đến các loại đồ gỗ được làm theo lối đồ Đồng Kỵ bao gồm các bộ kỷ, sập, đôn, tủ (tủ thờ, tủ chè, tủ quần áo, tủ rượu), bình phong, độc bình... Thường các loại đồ đạc dạng này được sử dụng trong không gian nội thất mang phong cách cổ điển hoặc các dạng nhà gỗ truyền thống, hoặc các gian điện thờ, ban thờ, tủ thờ trong phòng thờ.
Khảm xà cừ trên đồ gỗ nội thất Chuôn Ngọ đề xuất những mô típ trang trí mới hiện đại, sáng tạo
Dưới sự ảnh hưởng của đời sống hiện đại và du nhập văn hóa, các mô típ khảm xà cừ trên đồ gỗ nội thất làng nghề Chuôn Ngọ cũng đã có sự vận hành và thay đổi như một quy luật thích nghi. Sự thay đổi này thể hiện sự linh hoạt của làng nghề và góp phần phản ánh tiến trình đổi mới của các vấn đề văn hóa, đời sống xã hội. Việc ra đời những mô típ mới song song với những mô típ cũ chủ yếu được thực hiện trên hai nhóm. Thứ nhất, do đòi hỏi của phân khúc cao cấp trên thị trường hàng hóa, rõ nét nhất là trong bối cảnh hiện đại của nội thất và kiến trúc, các
mô típ mới có xu hướng là những sản phẩm trang trí độc bản, cá nhân hóa được đặt hàng bởi những chủ đầu tư có nhận thức cao về nghệ thuật. Nhóm thứ hai, là những sản phẩm được thiết kế bởi các thương hiệu thiết kế, decor trang trí ra những bộ sưu tập mới hàng năm và đưa hàng loạt vào thị trường. Nhóm sản phẩm này dễ được đón nhận và dễ được tiếp cận hơn nhóm thứ nhất.
Khảm xà cừ trên đồ gỗ nội thất Chuôn Ngọ có xu hướng trở thành vật liệu hoàn thiện trang trí trong nội thất: Thay vì sản xuất thủ công tại chỗ và trực tiếp trên các bề mặt cấu kiện nội thất, vật liệu khảm trai có thể được gia công dưới dạng các modul ghép sẵn. Bằng cách này, việc sử dụng các tấm modul khảm sẵn các mô típ trang trí gắn lên các đồ đạc cấu kiện nội thất sẽ tạo ra những họa tiết trang trí dạng đường diềm hoặc làm điểm nhấn trang trí cho một diện đồ đạc như mặt bàn, các mặt bên của bàn, mặt tủ, mặt sập, thậm chí là diện không gian nội thất (trang trí nhấn trên tường, trần, sàn) cũng có thể sử dụng các tấm khảm sẵn mô típ xà cừ để cẩn thận lên các diện. Cách làm này đặc biệt phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ hiện đại cũng như phương thức sản xuất hiện đại. Bên cạnh đó, có thể nhận định, xu hướng sản xuất tấm vật liệu khảm trai có thể tăng giá trị thành phẩm và mở rộng phạm vi ứng dụng so với khảm trai truyền thống do tính linh hoạt của nó. Điều này nhìn từ góc độ kinh tế là nâng giá thành sản phẩm phù hợp với giá trị lao động và thời gian sản xuất, cùng với câu chuyện bán hàng: tôn vinh truyền thống và gìn giữ phát huy làng nghề thủ công truyền thống. Sản phẩm phù hợp với thị trường hiện đại (về chất lượng, thẩm mỹ, tính ứng dụng) góp phần thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương.
4. Kết luận
Nhìn nhận đánh giá các giá trị của mô típ trang trí cũ của nghệ thuật khảm xà cừ trên đồ gỗ nội thất Chuôn Ngọ là rất tích cực cần thiết trong bối cảnh hội nhập của đất nước ta hiện nay. Việc khai thác nét truyền thống, tạo tiền đề cho người dân nâng cao nhận thức về những giá trị nghệ thuật truyền thống cũng như gia tăng sự kết nối tinh thần của con người trong đời sống hiện đại với quá khứ. Đó cũng là cơ sở đề xuất những góc nhìn mới, nhận định những xu hướng ứng dụng mới của các mô típ khảm xà cừ trên đồ gỗ nội thất sao cho phù hợp hơn với thị hiếu hiện đại. Làm được điều này là cơ bản giải quyết được hai vấn đề lớn của làng nghề: nhấn mạnh được giá trị nghệ thuật về mặt văn hóa và phát triển giao thương về mặt kinh tế. Bên cạnh đó, việc này góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại các làng nghề, phát huy hiệu quả kinh tế cho đất nước song song với phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề ở Việt Nam.
__________________________
Tài liệu tham khảo
1. Chu Quang Trứ. (2000). Tìm hiểu các nghề thủ công điêu khắc cổ truyền. Nxb Mỹ thuật.
2. Henri Gourdon (Trương Quốc Toàn dịch). (2017). Nghệ thuật xứ An Nam. Nxb Thế giới & Nhã Nam.
3. Ken Horner. (2015). Basic Marquetry and Beyond: Expert Techniques for Crafting Beautiful Images with Veneer and Inlay (Kỹ thuật khảm gỗ cơ bản và nâng cao: Các kỹ thuật chuyên nghiệp để tạo ra những hình ảnh đẹp mắt bằng gỗ dán và khảm). Linden Publishing.
4. James E Patterson. (2014). Pearl Inlay: An instruction manual for inlaying abalone and mother-of-pearl (Kỹ thuật khảm ngọc trai: Hướng dẫn chi tiết về cách khảm bào ngư và xà cừ ngọc trai). Stewart - MacDonald Publishing.
5. Sylvie Fanchette. (2020). Explore craft villages (Khám phá các làng nghề). Nicholas Stedman Publishing.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 11/11/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 2/12/2025; Ngày duyệt bài: 28/12/2025.
Ths LƯƠNG MINH THU
Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026