
Những ngày tháng Ba, nắng lên từ rất sớm. Không hiểu vì sao mỗi khi thấy cái nắng vàng ươm ấy trải dài trên mặt đường, lòng tôi lại bâng khuâng, cảm giác nhớ đến da diết, miệng tự nhiên muốn gọi tên ai đó, rồi lại thôi. Tôi biết mình đang nhớ chiếc áo xanh thiên thanh.
Chiếc áo màu xanh thiên thanh không phải màu xanh đậm kiểu quân phục, cũng không phải xanh lơ kiểu học trò mà cái màu xanh nhẹ, trong vắt như bầu trời buổi sáng sớm trước khi nắng lên. Lần đầu khoác vào người, tôi đứng yên một lúc trước gương, lạ thay tôi thấy mình trở thành một phiên bản mới hoàn toàn. Biết bao nhiêu màu áo tôi đã mặc qua trong đời nhưng không hiểu sao màu xanh ấy cứ đẹp mãi trong ký ức, sáng lấp lánh ngọt ngào. Sau này trưởng thành, mỗi lần nhớ lại cái dáng vẻ ngây ngô của mình năm ấy, miệng tôi lại tự nhiên mỉm cười, vì bản thân đã từng có một thanh xuân rực rỡ.
Buổi sáng ra quân, cả một vùng trời ngập tràn màu xanh. Hàng trăm bạn trẻ mặc cùng một màu áo, đứng thành hàng dài dưới nắng tháng Ba, nhìn từ xa trông như một dải lụa xanh khổng lồ vắt ngang bầu trời. Chúng tôi hát, cười, hô khẩu hiệu đến khản cổ. Xe chở đầy người, ba lô chất đầy gầm, mấy đứa ngồi chen chúc nhau, chân tê cứng sau hai tiếng đồng hồ đường núi quanh co dốc đứng mà vẫn cứ hát. Bài Thanh niên làm theo lời Bác hát đến lần thứ ba thì giọng đứa nào cũng khản đặc, vậy mà không ai chịu dừng. Tuổi trẻ kỳ lạ vậy đó. Nó khiến người ta có thể quên đi mọi thứ nặng nề, chỉ để nhớ mỗi một điều: mình đang được sống đúng nghĩa.
Những ngày ở bản, màu áo xanh nhanh chóng không còn xanh nữa. Bản làng nằm chênh vênh lưng chừng núi. Điện chưa có. Đường vào toàn đất đỏ, trơn trượt, đi phải cuốc bộ, chân không dám đi giầy hay dép. Nước sạch cũng phải đi bộ gần tiếng đồng hồ xuống khe suối mới lấy được, gánh về từng can một. Ngày đầu tiên đặt chân đến, cả nhóm đứng im nhìn quanh thật lặng. Rồi tự nhiên, không cần ai nhắc, từng đứa lần lượt xắn tay áo lên. Tôi nhớ những buổi trưa đào mương dẫn nước, lưng áo ướt đẫm dán vào da, bùn đất bắn lên tới cổ. Nhớ những bàn tay phồng rộp rồi chai dần, rỉ máu rồi lại lành. Có hôm trời đổ mưa bất chợt giữa lúc đang lợp mái, cả đội không ai chạy vào trú vì để kịp tiến độ. Chúng tôi làm dưới mưa, quần áo ướt sũng, mũ tai bèo cũng ướt. Làm mệt thấm mưa nhưng trên môi ai nấy đều nở nụ cười thật tươi.
Nhưng có lẽ ký ức về những lần dạy học làm tôi nhớ hơn cả. Lớp học dựng tạm trong Nhà văn hóa bản. Dưới ánh đèn dầu vàng vọt, dưới sự vận động của đội, bà con dân bản đã đến cùng các em ngồi ngay ngắn trên những chiếc ghế nhựa, rụt rè cầm bút nắn nót từng nét chữ. Kỳ lạ thay, chúng tôi chưa từng ai đứng trên bục giảng nhưng hôm đó ai cũng say sưa, như thể là một giáo viên thực thụ. Tôi nhớ một em bé đen nhẻm, tóc vàng hoe, là một trong những em chăm chỉ học nhất. Cuối buổi, khi nộp bài em thỏ thẻ hỏi tôi: “Cô ơi, mai cô còn dạy không ạ?”. Mắt tôi nhòe ướt, tôi ước chúng tôi có nhiều thời gian hơn, để những buổi học được diễn ra nhiều hơn.
Màu áo xanh thiên thanh, màu của cả một thế hệ những người trẻ một thời dám rời phòng trọ chật chội, dám leo lên những chuyến xe đường núi, dám cầm cuốc xẻng làm việc đến rỉ máu tay, rồi tối về lại cầm phấn đứng trước bảng đen. Màu áo ấy đã theo dấu bước tôi từ một người rụt rè thành người dám bước ra khỏi vùng an toàn của mình. Dạy tôi biết mở lòng, biết bao dung, biết rằng sống không chỉ là lo cho riêng mình.
Bây giờ mỗi bận tháng Ba tới tôi lại nhớ đến màu áo xanh thiên thanh. Bao nhiêu kí ức thân thương ùa về. Tôi thầm biết ơn cuộc đời vì mình đã từng được trẻ như thế, đã từng sống như thế, đã từng khoác trên người một màu áo xanh đẹp đến vậy!.
Tản văn của NINH LÊ
Nguồn: Tạp chí VHNT số 637, tháng 3-2026