Tôi về quê trong một buổi sớm cuối thu, khi những ngọn gió heo may khẽ lướt qua. Bến sông quê vẫn đó, hiền hòa gợn sóng như đang chờ đợi tôi. Và ngay bên bến sông ấy, tôi gặp lại mấy người bạn cũ. Bên cây cừa cổ thụ họ đang thả hồn vào li cà phê sáng của không khí thanh bình nơi góc quán quê nhà.

Tay nâng ly cà phê bạn mời mà lòng cứ xốn xang nhìn về rặng bần cuối làng. Sau những giọt cà phê đăng đắng như ghi vào ký ức một dấu lặng, chúng tôi cùng nhau lên chiếc xuồng máy của bạn đi về phía bãi bần sau xóm Sáo. Càng đến gần bãi bần, mùi thơm chua chua của bần chín, mùi thơm thanh khiết của hoa bần đang nở, tất cả quyện vào trong làn gió thoảng nhẹ, phảng phất đầu sóng mũi như hương quê nhà. Con sông Long Đại vẫn êm trôi; rặng bần vẫn rậm rì bên sông. Nhưng gương mặt mấy đứa bạn bây giờ đã in hằn những vết chai sạn sương gió của thời gian.

Bao nhiêu năm xa quê, đi qua biết bao miền đất, tôi vẫn không quên được mùi hương ngai ngái của mùa bần chín bên sông. Cái mùi vừa ngọt vừa chua, lẫn trong gió sông và mùi bùn đất quê nghèo, cứ âm thầm bám riết lấy ký ức như một phần máu thịt.

Ngày ấy, lũ trẻ chúng tôi coi rặng bần ven sông như cả một thế giới riêng. Mỗi mùa nước lên, những gốc bần già lại đâm bộ rễ khí tua tủa như chông. Mùa nước ròng, dưới gốc bần là vô số hang hốc cho cua, cá, tôm trú ngụ. Thường vào độ giữa thu là bần chín rộ. Những buổi trưa sau khi trốn ngủ, chúng tôi rủ nhau ra sông hái bần. Trái bần chín vàng lẫn trong màu lá xanh, chen lẫn bông hoa màu trắng ngà đang nở. Chỉ cần rung mạnh cành là quả rơi lộp bộp xuống nước.

Trái bần sần sùi như chính cuộc đời người quê nhưng cái vị chua thanh pha chút ngọt dịu ấy lại khiến đứa nào cũng mê. Có hôm tôi hái nhiều quả đã già, mẹ đem nấu canh cá lóc, cá ngạnh… mùi thơm lan khắp bếp quyện với mùi khói rơm cay xè. Có những món ăn dân dã mà người dân quê tôi thường hay dùng là: bần xắt lát hoặc xẻ tư kho chung với cá. Vị chua ngọt của bần thấm vào thịt cá giúp thịt săn chắc và bớt tanh; bần sống xắt lát chấm ruốc biển hay mắm cáy ăn kèm cơm nóng; thịt heo luộc bóp bần non và rau thơm. Những món ăn xưa ấy chừng như ngon hơn cả sơn hào hải vị bây giờ.

Dưới những gốc bần um tùm còn là thiên đường của lũ cua dèm nhỏ như quả trứng ngỗng bò lổm ngổm. Mỗi lần nước ròng, bọn trẻ chúng tôi lại lom khom mò ngao, bắt ốc… Có đứa lấm cát bùn tới tận đầu gối vẫn cười toe toét vì vừa thò tay vào hang đã túm được con cá bống to như cán dao. Tuổi thơ quê nghèo, chiến tranh thiếu thốn đủ điều nhưng niềm vui cứ theo chúng tôi bằng những ngày bình yên như thế.

Ký ức về rặng bần không những là nơi lưu giữ tiếng cười trẻ nhỏ mà còn là nơi cất giấu cả một thời bom đạn đau thương nhưng hào hùng. Những năm chiến tranh, dòng sông Long Đại là mạch máu giao thông quan trọng. Máy bay Mỹ thường quần thảo suốt ngày đêm. Mỗi khi nghe tiếng động cơ gầm rú từ phía xa, cả xóm lại hốt hoảng chạy vào hầm trú ẩn. Lũ trẻ chúng tôi khi ấy còn nhỏ, chưa hiểu hết chiến tranh là gì, chỉ nghe tiếng bom máy bay Mỹ dội xuống, tiếng đạn pháo cao xạ của bộ đội bủa vây quạ sắt; chỉ biết lao xuống những chiếc hầm chữ A để ẩn nấp. Rồi tiếp đó là tiếng hét nhà cháy, tiếng rên la của người bị thương, tiếng khóc thảm thiết của ai đó khi có người thân chết…tàn khốc và ác liệt.

Những tán bần rậm rì che kín mặt sông, từ trên cao nhìn xuống chỉ thấy một màu xanh um tùm. Nhờ vậy mà máy bay địch không phát hiện thuyền bè vận tải, ca nô chở lương thực, đạn dược của bộ đội đang ẩn náu dưới bãi bần bên sông, âm thầm chờ đợi đêm về xuất bến...

Lũ trẻ chúng tôi nhiều khi đi hái bần, lượm củi bần xong lại tò mò, mon men lại gần xem những chiếc ca nô trên sông được phủ một lớp vải dù hoa. Gặp các chú bộ đội, ai cũng gầy nhưng ánh mắt sáng và nụ cười hiền lắm. Có chú còn chia cho bọn tôi vài chiếc kẹo Hải Châu quý như vàng thời ấy.

Chiến tranh đi qua đã lâu. Dòng sông Long Đại hôm nay đã yên bình trong không khí vui tươi. Những chiếc ca nô quân sự năm nào không còn nữa. Tiếng bom đạn cũng chỉ còn trong ký ức. Nhưng rặng bần ven sông vẫn còn đó, âm thầm soi bóng xuống mặt nước như đang giữ nét đẹp cho hồn quê.

Tôi cùng đám bạn già đi dọc bờ sông. Đứa tóc đã bạc, đứa lưng đã còng, vậy mà vừa nhìn thấy trái bần chín là lại chỉ trỏ, xuýt xoa như đánh thức những kỷ niệm thời trẻ nhỏ. Chúng tôi không còn trèo bần như ngày xưa, vì không dám. Đã U70 cả rồi lỡ rời tay ngã xuống thì chỉ khổ thân, khổ con cháu. Chúng tôi chỉ nhặt mấy quả chín rụng, đưa lên mũi hít hà như đánh dấu những hoài niệm.

Con người rồi ai cũng lớn lên, cũng đi xa, cũng đổi thay theo năm tháng. Chỉ có dòng sông quê và mùa bần là vẫn vận theo quy luật tự nhiên. Nhưng nó như chờ đợi chúng tôi trở lại. Đến để nhắc rằng mình đã từng có một tuổi thơ đẹp đến nhường nào.

NGUYỄN ĐẠI DUẪN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 655, tháng 9/2026