Từ khóa: Ngũ Xã; nghề đúc đồng; Nguyễn Minh Không; tư liệu Hán Nôm; không gian văn hóa làng nghề.
Abstract: Ngũ Xã, formerly known as Nam Tràng and located in the Trúc Bạch area, now part of Ba Đình Ward, Hanoi, was one of the most representative bronze-casting craft villages of old Thăng Long. Drawing on Hán-Nôm materials preserved in collections of ancient texts, together with local records, this article examines the formation, development, and cultural characteristics of the village. The study focuses on three main aspects: first, the historical origins and naming of Ngũ Xã in connection with the convergence of artisans from different localities; second, the role of the Buddhist monk Nguyễn Minh Không as the tutelary founder of the craft, as well as the conflation of the names Không Lộ and Minh Không in local communal belief; and third, representations of Ngũ Xã bronze casting in encomiastic poetry, geographical records, ritual orations, and related sources. Through these materials, the article highlights the close relationship between bronze-casting techniques, sacred spaces, and networks of craft villages in the Red River Delta. The findings indicate that Ngũ Xã was not only an important handicraft centre of the imperial capital, but also a distinctive occupational cultural space in which craft memory, founder worship, and communal cohesion were preserved over many centuries.
Keywords: Ngũ Xã; bronze casting; Nguyễn Minh Không; Hán-Nôm documents; craft cultural space.

1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử đô thị Thăng Long - Hà Nội, các làng nghề ven kinh thành không chỉ giữ vai trò cung ứng sản phẩm thủ công cho triều đình và dân cư đô thị, mà còn góp phần kiến tạo nên những không gian văn hóa nghề nghiệp bền vững. Trong số đó, Ngũ Xã là một địa danh tiêu biểu. Từ lâu, làng nổi tiếng với nghề đúc đồng và được dân gian ghi nhớ qua câu ca: “Thợ tiện Nhị Khê, đúc đồng Ngũ Xã”. Câu ca không chỉ là lời ngợi ca tay nghề, mà còn phản ánh sự định vị xã hội của làng nghề trong cấu trúc kinh tế và văn hóa của Thăng Long xưa.
Điểm đáng chú ý ở Ngũ Xã là sự kết hợp giữa hai phương diện tưởng như tách biệt nhưng thực chất gắn bó hữu cơ với nhau: một bên là kỹ nghệ đúc đồng với trình độ tổ chức và kỹ thuật cao; một bên là hệ thống ký ức cộng đồng, tín ngưỡng tổ nghề và quan hệ liên kết giữa các làng nghề cùng chung truyền thống. Vì thế, nghiên cứu về Ngũ Xã không thể chỉ dừng ở lịch sử nghề thủ công, mà cần đặt trong chỉnh thể rộng hơn của không gian văn hóa làng nghề, tức một không gian trong đó hoạt động sản xuất, thiết chế thờ tự, truyền thuyết nghề, văn bản lễ nghi và mạng lưới cư dân cùng tham gia tạo nên bản sắc cộng đồng.
Từ góc độ tư liệu, Ngũ Xã xuất hiện trong nhiều loại văn bản khác nhau như Bản khai Thần tích Thần sắc làng Nam Tràng (Ngũ Xã) (còn gọi là Bản khai năm 1938), sắc phong, thư tịch lịch sử, thơ vịnh, địa chí và văn tế. Những nguồn tư liệu này cho phép phục dựng khá rõ ba lớp vấn đề. Thứ nhất, là lịch sử hình thành làng nghề, trong đó nổi bật yếu tố tụ cư của thợ thủ công từ nhiều địa phương. Thứ hai, là vị trí của Thiền sư Nguyễn Minh Không trong vai trò tổ nghề đúc đồng, cùng hiện tượng đồng nhất hoặc dung hợp với danh xưng Không Lộ trong thực hành tín ngưỡng dân gian. Thứ ba, là sự kết nối của Ngũ Xã với các làng nghề đúc đồng khác như Đông Mai, Đào Viên, qua đó cho thấy một mạng lưới văn hóa - nghề nghiệp rộng lớn hơn phạm vi một làng.
Từ những gợi mở trên, bài viết hướng tới việc làm rõ sự hình thành làng Ngũ Xã trong lịch sử Thăng Long; giá trị của thư tịch cổ phản ánh vai trò nghề đúc đồng và khẳng định Ngũ Xã là một không gian văn hóa nghề nghiệp đặc thù, trong đó chứa đựng các yếu tố kỹ nghệ, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng gắn kết chặt chẽ với nhau.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp văn bản học và phương pháp lịch sử so sánh. Về thao tác nghiên cứu, bài viết tiến hành đối chiếu nhiều loại tư liệu khác nhau để nhận diện những điểm trùng hợp, dị biệt và các lớp diễn ngôn lịch sử, tín ngưỡng xoay quanh làng nghề Ngũ Xã. Với tư liệu Hán Nôm, bài viết ưu tiên cách đọc theo hướng văn hóa học lịch sử, nghĩa là không chỉ khai thác nội dung thông tin trực tiếp, mà còn chú ý tới cách văn bản kiến tạo hình ảnh làng nghề, vị tổ nghề và quan hệ giữa các cộng đồng thợ thủ công. Ngoài ra, bài viết cũng sử dụng phương pháp liên ngành giữa sử học, văn hóa học và nghiên cứu Hán Nôm nhằm tiếp cận Ngũ Xã như một chỉnh thể vừa mang tính vật chất, vừa mang tính biểu tượng.
3. Kết quả và thảo luận
Ngũ Xã - Nam Tràng: sự hình thành một định danh làng nghề
Theo tài liệu Bản khai năm 1938, ký hiệu TTTS.3779, hiện lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội, ghi lời kê khai của Ban Hội đồng trị sự đình Nam Tràng (ở phố Mạc Đĩnh Chi số 15 và đường 103 số 16 Hà Nội), làng Ngũ Xã vào thời điểm năm 1938 gọi là làng Nam Tràng, đình gọi là đình Nam Tràng, thờ Thần Thành hoàng Nguyễn Chí Thành, hiệu Minh Không, hay còn gọi là Lý triều Quốc sư. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội và ký ức nghề nghiệp, định danh Ngũ Xã lại trở nên nổi bật hơn, phản ánh một quá trình tái cấu trúc cộng đồng dựa trên yếu tố nghề nghiệp.
Theo những ghi chép trong Đình và chùa Ngũ Xã, trong Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam Thăng Long - Hà Nội, đình, chùa Ngũ Xã thuộc địa phận phường Ba Đình, Hà Nội. Vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII có một số thợ đúc đồng quê ở 5 xã: Đông Mai, Châu Mỹ, Long Thượng, Đào Viên (hay Thái Ty) và Điện Tiền (có tên nôm là làng Hè, Me, Rồng, Dí trên, Dí dưới) đều thuộc huyện Siêu Loại (nay là vùng Thuận Thành, Bắc Ninh và Văn Lâm, Hưng Yên) cùng nhau ra bán đảo hồ Trúc Bạch lập làng Ngũ Xã Tràng mở lò đúc. Người dân Ngũ Xã đã xây dựng đình để thờ tổ nghề đúc đồng là Nguyễn Minh Không (Lưu Minh Trị, 2002, tr.176-177).
Như vậy, tên gọi “Ngũ Xã” gắn với sự hội tụ của thợ đúc đồng từ năm xã khác nhau đến cư trú, lập nghiệp tại khu vực bán đảo Trúc Bạch. Cách giải thích này phù hợp với ghi chép trong sách địa chí Hà Nội địa dư biên soạn thế kỷ XIX, cho biết phường Trúc Bạch là nơi đặt trường đúc tiền từ thời Lê và lực lượng thợ đúc phần lớn là người của nhiều xã vốn tinh thông nghề luyện kim (Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên, 2007). Như vậy, tên Ngũ Xã không đơn thuần là tên một đơn vị cư trú, mà là sự kết tinh của một hình thức liên kết nghề nghiệp liên làng có tính tổ chức cao. Đây là một hiện tượng đáng chú ý trong lịch sử đô thị Thăng Long, phản ánh cách các nhóm thợ thủ công nhập cư đã tạo lập bản sắc tập thể mới ngay trong lòng kinh thành.
Nguyễn Minh Không trong ký ức nghề và thiết chế thờ tự ở Ngũ Xã
Theo Bản kê khai năm 1938, đình Nam Tràng thờ Nguyễn Chí Thành, hiệu Minh Không, Thánh tượng bằng gỗ sơn son thếp vàng. Đình thờ Đức Minh Không nguyên xưa là bãi, dân làm đình thờ Ngài từ đời Vua Gia Long (1802-1819). Trong Hậu cung bằng gạch, ngoài tiền tế bằng lá. Đến năm 1910 thì dân làm đình mới bằng gạch, lợp ngói tất cả.
Về nhân vật Nguyễn Minh Không, bản thần tích làng Đàm Xá (Ninh Bình) ghi rất cụ thể về thân thế và sự nghiệp của ông, trong đó có nhấn mạnh về quê quán và thời đại sinh sống: “Thiền sư Nguyễn Minh Không sống vào thời Lý, người làng Đàm Xá, huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên”. Văn bản viết bằng chữ Hán, hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm. Về một số sự kiện liên quan đến hành trạng nhân vật này, sách Đại Việt sử ký toàn thư (2012, tr.314) ghi: “Năm 1131, triều đình nhà Lý dựng nhà cho Đại sư Minh Không; năm 1136, sư chữa khỏi bệnh cho Vua Lý Thần Tông, được phong làm Quốc sư”. Sự kiện Quốc sư Minh Không qua đời cũng được ghi chép rõ ràng trong Quốc sử: “Tân Dậu, (Đại Định) năm thứ 2 (1141), (Tống Thiệu Hưng năm thứ 11). Mùa Thu, tháng 8, quốc sư Minh Không chết (sư người xã Đàm Xá, huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên) rất linh ứng, phàm khi có tai ương hạn lụt, cầu đảo đều nghiệm cả. Nay hai chùa Giao Thủy và Phả Lại đều có tượng thờ”.
Trong tín ngưỡng dân gian, Nguyễn Minh Không được các làng nghề đúc đồng suy tôn là ông tổ của nghề đúc đồng. Ông chính là người góp phần tạo nên “Tứ đại khí” nổi tiếng ở nước Việt thời nhà Lý là tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng phật Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh. Những địa phương có nghề đúc đồng lâu đời như các làng nghề Yên Xá, Tống Xá ở Ý Yên (Ninh Bình); phố Lò Đúc, phố Ngũ Xã (Hà Nội); làng Đông Mai ở Lạc Đạo, làng Đình Ngũ, Điệp Nông, Hưng Hà (Hưng Yên), làng Đào Viên ở Thuận Thành (Bắc Ninh)... đều thờ ông làm tổ nghề.
Ở đây cần lưu ý rằng trong các sắc phong, văn tế và truyền thuyết địa phương, ngoài danh xưng Nguyễn Minh Không thì danh xưng Không Lộ nhiều khi được sử dụng đan xen. Chẳng hạn, văn tế làng Đông Mai (xem mục dưới) ghi là: Nam thiên Đệ nhất Tổ sư Thánh tổ Không Lộ Minh Không Đại Pháp Thiền sư Bồ Tát, ghi cả hai danh xưng Không Lộ và Minh Không nhập làm một. Sắc phong do vua triều Nguyễn ban cho đình làng Nam Tràng (Ngũ Xã) phụng thờ Không Lộ Đại Pháp Thiền sư chi thần (niên hiệu Duy Tân thứ 5 (1911), và sắc phong niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) phong cho Lý triều Không Lộ Đại pháp Thiền sư Tôn thần, đều ghi là Không Lộ.
Nội dung sắc phong niên đại Khải Định được dịch nghĩa như sau:
“Sắc ban cho đình phố Nam Tràng, Đệ nhất hộ, Hà Nội theo trước phụng thờ Lý triều Không Lộ Đại pháp Thiền sư Tôn thần, nguyên tặng là Đại giác Thông tuệ Viên tĩnh Đoan túc Dực bảo Trung hưng Cao Lỗ Tôn thần, cứu nước giúp dân, tỏ rõ linh ứng, từng được ban cấp sắc phong, cho phép thờ phụng. Nay đúng dịp mừng thọ Trẫm tứ tuần, nên ban chiếu báu ân lớn, theo lễ xứng nâng bậc, nên gia tặng là Quang ý Trung đẳng thần. Đặc chuẩn cho thờ phụng như cũ, để ghi nhớ ngày vui của nước và nối dài điển lễ thờ tự.
Kính thay!
Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)”.
Dẫn liệu trên cho thấy, cả hai đạo sắc phong tại đình Nam Tràng (Ngũ Xá) đều ghi phong cho Thần là “Không Lộ Đại Pháp Thiền sư”, trong khi nhiều văn bản và ký ức dân gian lại đồng nhất vị này với Nguyễn Minh Không (Kỷ yếu hội thảo Thân thế, sự nghiệp Nguyễn Minh Không, 2019). Ngay trong Bản khai năm 1938 của chính làng Nam Tràng cũng kê khai là đình thờ Nguyễn Minh Không. Hiện tượng này phản ánh một quá trình dung hợp tín ngưỡng kéo dài trong dân gian, trong đó nhân vật lịch sử, thiền sư linh ứng và tổ nghề được hội tụ vào một biểu tượng thiêng chung. Từ góc độ văn hóa, chính sự dung hợp ấy tạo cho hình tượng tổ nghề trở nên đủ sức bao trùm đời sống tinh thần của cộng đồng thợ thủ công.
Việc đình Nam Tràng được ban tặng sắc phong, cho phép phụng thờ Lý triều Không Lộ Đại pháp Thiền sư Tôn thần cũng cho thấy, tín ngưỡng thờ tổ nghề ở đây đã được nhà nước quân chủ thừa nhận và hợp thức hóa trong hệ thống thờ tự chính thống. Đó không chỉ là sự công nhận về mặt nghi lễ, mà còn là dấu ấn cho thấy vị trí xã hội của làng nghề trong đời sống kinh thành.