Nghề đúc đồng Ngũ Xã qua thơ vịnh và địa chí Hà Nội

Hình ảnh trường đúc tiền Trúc Bạch trong thơ cổ

Hiện nay, trong kho sách cổ của Viện Nghiên cứu Hán - Nôm còn lưu trữ một số văn bản, tác phẩm thơ chữ Hán vịnh phong cảnh, di tích của thành Thăng Long xưa, trong đó có 2 bài thơ đều có nhan đề là Trúc Bạch tiền lô 竹帛錢爐(Lò đúc tiền ở Trúc Bạch).

Bài thứ nhất, chép trong sách Cựu Hàn lâm Đoàn Nguyễn Tuấn thi tập 舊翰林段阮俊詩集, ký hiệu A.598, tác giả là Đoàn Nguyễn Tuấn (Trịnh Khắc Mạnh, 2024, tr.130-131), sống vào thế kỷ XVIII. Chúng tôi phiên dịch như sau: 竹帛錢爐 (Lò đúc tiền ở Trúc Bạch).

九重瑾念裕民圖/錢貨流通竹帛爐/人在橋頭呼送岸/火從沙上出飛敷 /層層煙找龍硃寺/浩浩帛流馬勁湖/歲月方圓公課足/腰纏何必上楊州 (Trên cửu trùng (nhà vua) tính kế cho dân đầy đủ, đồng tiền lưu thông trong nước, từ lò Trúc Bạch mà ra/ Người trên đầu cầu gọi than đưa tới, lửa từ trên cát bắn lên như đàn ve bay/ Lớp lớp khói phủ lên chùa Châu Long, mênh mang suối chảy vào hồ Cổ Ngựa/ Năm tháng vuông tròn, thuế công nạp đủ, Lưng đeo tiền túi, hà tất phải đến Dương Châu).

Bài thứ hai, chép trong sách Hán Nôm Thăng Long thập cửu vịnh 昇龍十九詠, ký hiệu A.1640. Tập thơ gồm 19 bài vịnh về Thăng Long, được tập hợp vào năm Nhâm Thân niên hiệu Gia Long (1812), không ghi rõ tác giả là ai.

Dịch nghĩa: 竹帛錢爐 (Lò đúc tiền ở Trúc Bạch)

順天惟聖握乾符/鼓惆塲門竹帛湖/近水陶鎔開大冶/范金規矩出洪爐/裕民深得關輕重/利用泉通化有無/騷容莫愁囊裡蕊/十千時向酒家沽 (Trời thuận chỉ thánh giữ quyền cao, trống vỗ chốn này, là hồ Trúc Bạch/ Gần nước nung nấu lò luyện lớn, khuôn phép rèn vàng lửa đỏ bừng/ Giúp dân rõ chuyện nặng hay nhẹ, dùng tiền lưu thông hóa có không/ chớ lo túi nhỏ không hoa nở, mười nghìn vừa đủ chén rượu say).

Dù là sáng tác thơ văn, hai bài thơ này không chỉ tạo dựng cảnh sắc, mà còn phản ánh khá rõ hiện thực sản xuất ở khu vực lò đúc ở Trúc Bạch giai đoạn thế kỷ XVIII. Các hình ảnh than lửa, khói lò, khuôn đúc, suối nước, chùa tháp và nhịp vận chuyển nguyên liệu, thơ vịnh cho thấy lò đúc tiền Trúc Bạch là một không gian lao động quy mô lớn, hoạt động liên tục và gắn chặt với đời sống kinh thành. Đáng chú ý hơn, hai bài thơ đều không nhìn việc đúc tiền như một thao tác kỹ thuật đơn lẻ, mà đặt nó trong chỉnh thể trị quốc gia. Đồng tiền được sản xuất ở đây vừa là công cụ lưu thông, vừa là biểu tượng của trật tự, sự đủ đầy và năng lực tự chủ của nhà nước.

Từ góc độ văn hóa đô thị, lò đúc tiền Trúc Bạch hiện lên như một điểm nút, tạo cho kỹ nghệ, thương mại, quyền lực và cảnh quan cùng gặp nhau. Khói lò lan sang không gian chùa Châu Long hay mặt nước hồ Cổ Ngựa không chỉ gợi quy mô của hoạt động sản xuất, mà còn cho thấy nghề đúc đồng đã hiện diện như một phần hữu cơ của đời sống đô thị Thăng Long thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.

Vai trò của phường Trúc Bạch ghi chép trong sách Hà Nội địa dư

Nếu thơ vịnh cho thấy phương diện biểu tượng, thì tài liệu Hán Nôm Hà Nội địa dư cung cấp thông tin mang tính nhà nước rõ hơn. Sách do Dương Bá Cung thừa lệnh tỉnh thần vâng theo sắc chỉ của Tự Đức vào năm 1852 biên soạn (Trịnh Khắc Mạnh, 2024, tr.61-62). Sách có đoạn ghi về nghề đúc tiền đồng ở phường Trúc Bạch (tức làng Ngũ Xã) như sau: “Phường Trúc Bạch ở huyện Vĩnh Thuận là nơi đặt trường đúc tiền của triều Lê. Thợ đúc đều là người của năm xã thuộc các vùng như Đại Từ, Đồng Xá... nhờ được rèn rũa nên rất thạo nghề. Đây cũng là nơi tụ tập buôn bán đông đúc. Các đồng tiền nay còn thấy trên có khắc chữ Kinh đều là tiền do nơi đây đúc ra còn sót lại. Năm Gia Long thứ 7 (1808) quan triều Nguyễn ở thành vâng mệnh mở cục Bảo Hóa ở bên bờ hồ Thủy Quân chuyên nấu đúc tiền kẽm...” (Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên, 2007).

Ghi chép ấy giúp khẳng định rằng Ngũ Xã là nơi hội tụ một cộng đồng thợ thủ công từ nhiều làng khác nhau, như các làng thuộc tổng Đại Từ (thuộc Hưng Yên)… không chỉ nổi tiếng với đúc đồ đồng dân dụng và đồ thờ, mà còn từng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động tiền tệ của nhà nước, là nơi đúc tiền đồng của quốc gia. Thêm nữa, thông tin về việc năm Gia Long thứ 7 (1808), triều Nguyễn mở cục Bảo Hóa chuyên nấu đúc tiền kẽm bên bờ hồ Thủy Quân (hồ Hoàn Kiếm), càng cho thấy tính liên tục của truyền thống luyện kim tại khu vực này. Từ thời Lê sang thời Nguyễn, Trúc Bạch - Ngũ Xã vẫn duy trì vai trò là trung tâm kỹ nghệ kim loại gắn với nhu cầu quản lý tài chính và lưu thông hàng hóa sầm uất, nhất là sản xuất và buôn bán đồ đồng trong lịch sử.

Ngũ Xã trong mạng lưới các làng nghề đúc đồng

Không gian văn hóa của Ngũ Xã không khép kín trong phạm vi một địa bàn cư trú. Qua khảo cứu các nguồn tư liệu cho thấy, làng này tồn tại trong mối liên hệ chặt chẽ với một mạng lưới làng nghề đúc đồng ở đồng bằng Bắc Bộ, tiêu biểu là Đông Mai và Đào Viên.

Ở làng Đông Mai, thuộc xã Lạc Đạo tỉnh Hưng Yên từ xa xưa đã thờ tổ nghề Nguyễn Minh Không. Hiện nay, tại đình làng Đông Mai còn lưu giữ được cuốn văn tế bằng chữ Hán, biên soạn vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong đó có bài văn tế Đức Thánh Tổ nghề đúc đồng. Nhận thấy đây là tư liệu quý, chúng tôi giới thiệu toàn văn phần dịch nghĩa như sau: Văn tế Tổ sư

(Niên hiệu vua năm… can chi tháng… ngày… can chi.

Tế chủ (quan tước...) xã Đông Mai tổng Đại Từ huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên cùng trên dưới toàn xã kính cẩn dâng các lễ vật trầu cau, rượu nhạt, cỗ chay, tiền vàng kính cáo trước bài vị của:

Nam thiên Đệ nhất Tổ sư Thánh tổ Không Lộ Minh Không Đại Pháp Thiền sư Bồ Tát!

Kính nghĩ Thiền sư:

Đa tài đa nghệ

Biết trước mọi bề.

Khắp trong phạm vi trời đất chẳng đơn sai,

Tựu thành trọn vẹn muôn vật không bỏ sót).

Phép thuật diệu kỳ đúc thành An Nam tứ khí, Bồ Tát viên thành phúc quả; Truyền nghề cho dân làng Cầu Nôm, Ngũ Xã, tại Đông Mai hiển hách linh thiêng.

Nay làm lễ Thánh gặp đúng hội tiết lành

Việc báo công kính bày theo nghi thức.

Cúi nghĩ:

Đức lớn ngầm phù giúp

Phủ khắp cả muôn phương.

Nghề nghiệp mỗi vẻ tinh thông, việc nhỏ đến việc to, hết thảy đều thành tựu; Đồ vật mỗi đồ mỗi đẹp, cong vuông đều đúc được, mọi vật thành chuẩn quy.

Để cho dân ta của cải dồi dào, núi đồng tích lại cao ngất; Để cho quốc gia có đồ trọng dụng, vàng đúc thành vật tùy nghi.

Thực nhờ vào sự âm phù của đức Tổ sư vậy.

Cẩn cốc!

Lý triều Quốc sư Bồ Tát!

Quốc sư Không Lộ Vương Bồ Tát ở chùa Phổ Lại!

Phạm Quốc Tài Thiền sư ở phủ Thuận Thành!

Trần Lạc Thiền sư ở huyện Văn Giang!

Nội dung văn tế cho thấy mối quan hệ đặc biệt giữa tín ngưỡng và công việc của nghề đúc đồng. Đức Thánh tổ không chỉ được tôn vinh vì sự linh ứng, mà còn vì đã làm cho nghề nghiệp “mỗi vẻ tinh thông”, “đồ vật mỗi món mỗi đẹp”, đem lại của cải cho dân và vật dụng cho quốc gia. Như vậy, văn bản nghi lễ ở đây là tư liệu có giá trị, bởi không chỉ ca ngợi vị tổ nghề như một đấng linh thiêng “đa tài đa nghệ”, mà còn trực tiếp nhắc đến việc truyền nghề cho các làng Cầu Nôm, Ngũ Xã và Đông Mai. Từ đó có thể thấy trong nhận thức cộng đồng, nghề đúc đồng không phải là tài sản riêng của một làng, mà là di sản chung của một hệ thống làng nghề.

Truyền thuyết về Thiền sư Minh Không cùng hai chú tiểu Phạm Quốc Tài và Trần Lạc (được ghi trong bài văn tế) càng làm rõ hơn cấu trúc truyền nghề trong ký ức dân gian: từ một trung tâm thiêng, nghề lan tỏa ra nhiều làng, để rồi những làng đó lại hội tụ về Thăng Long. Nếu nhìn từ lịch sử di dân nghề nghiệp, Ngũ Xã có thể xem là điểm hội tụ, còn nếu nhìn từ tín ngưỡng tổ nghề, Ngũ Xã là một mắt xích trong mạng lưới văn hóa rộng lớn hơn. Chính tính chất vừa hội tụ vừa liên thông ấy đã làm nên chiều sâu của không gian văn hóa làng nghề.

Tục thờ tổ nghề và sự bền vững của ký ức cộng đồng

Thông tin trong Bản khai năm 1938 cho biết, nghi thức tế lễ ở đình Nam Tràng được cử hành hết sức trang trọng: chủ tế là người có hàm phẩm, chấp sự là các cụ kỳ mục và chức sắc; trước ngày tế phải tắm gội thanh khiết; khi hành lễ phải mặc phẩm phục, áo thụng; đồng thời có những kiêng húy nhất định trong xưng đọc (kiêng huý tên Thánh Tổ là Thành nên đọc thành Thiềng). Những ghi chép ấy chứng tỏ tục thờ tổ nghề ở Ngũ Xã không phải một thực hành dân gian đơn lẻ, mà đã được thể chế hóa thành nếp sinh hoạt cộng đồng bền chặt.

Không gian đình làng ở đây vì thế có chức năng kép. Một mặt, đó là nơi thờ phụng vị tổ nghề trung tâm thiêng của cộng đồng. Mặt khác, đó là nơi xác lập trật tự xã hội, củng cố luân lý nghề nghiệp và nhắc nhớ về cội nguồn chung của những người làm thợ. Trong cấu trúc ấy, nghề không đơn giản là phương tiện mưu sinh, nghề còn là một đạo lý, một hệ giá trị và một bản sắc được truyền từ đời này sang đời khác.

Đáng chú ý, ký ức liên làng vẫn tiếp tục được duy trì cả trong thế kỷ XX. Tài liệu ảnh tại đình Ngũ Xã ngày nay cho biết, trong các năm 1949-1952, thợ Đông Mai (Hưng Yên) cùng thợ Ngũ Xã và thợ phố Lò Đúc đã tham gia đúc pho tượng A Di Đà ở chùa Thần Quang tại Ngũ Xã. Sự kiện này cho thấy ngay trong bối cảnh hiện đại, các cộng đồng thợ đúc vẫn tiếp tục liên kết với nhau bằng tay nghề, bằng niềm tự hào nghề nghiệp và bằng sự tôn kinh, ghi nhớ về tổ nghề. Đây là một minh chứng sinh động cho sức sống bền bỉ của mạng lưới làng nghề đúc đồng truyền thống.

Ngũ Xã hiện nay và vấn đề bảo tồn không gian văn hóa làng nghề

Ngày nay, trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ, diện mạo vật chất của Ngũ Xã đã thay đổi đáng kể. Những xưởng đúc xưa dần nhường chỗ cho nhà ở, hàng quán và các cơ sở dịch vụ hiện đại. Tuy nhiên, sự biến đổi về mặt không gian không đồng nghĩa với sự đứt gãy hoàn toàn của truyền thống. Trên thực tế, thương hiệu “đúc đồng Ngũ Xã” vẫn còn hiện diện trong ký ức đô thị Hà Nội và trong các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đồ thờ, tượng đồng mang dấu ấn làng nghề.

Vấn đề đặt ra hiện nay là cần nhìn Ngũ Xã không chỉ như một làng nghề cũ hay một địa danh du lịch, mà như một không gian di sản văn hóa sống. Giá trị của Ngũ Xã nằm không chỉ ở sản phẩm đồng, mà còn ở toàn bộ hệ thống ký ức nghề, thiết chế thờ tự, văn bản Hán Nôm, truyền thuyết địa phương và mối liên hệ liên vùng giữa các cộng đồng thợ đúc. Bảo tồn Ngũ Xã vì thế không thể chỉ dừng ở việc giữ nghề theo nghĩa kinh tế, mà cần hướng tới việc nhận diện, sưu tầm, nghiên cứu và phát huy toàn diện các lớp di sản vật thể và phi vật thể của làng nghề.

4. Kết luận

Qua khảo cứu từ nguồn tư liệu cổ, có thể thấy Ngũ Xã là một trường hợp tiêu biểu của không gian văn hóa làng nghề trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Từ một địa vực mang tên Ngũ Xã - Nam Tràng, nơi đây dần được định hình thành một cộng đồng nghề nghiệp đặc thù gắn với sự hội tụ của thợ đúc đồng từ nhiều địa phương. Chính quá trình tụ cư ấy đã tạo nên định danh Ngũ Xã và làm nên bản sắc của một làng nghề thủ công nổi tiếng.

Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu và bảo tồn Ngũ Xã cần được đặt trong hướng tiếp cận liên ngành, coi đây vừa là di sản đô thị, vừa là di sản làng nghề, vừa là kho tư liệu văn hóa quý giá. Điều đó không chỉ góp phần nhận diện sâu hơn lịch sử thủ công nghiệp Thăng Long, mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa nghề truyền thống trước áp lực biến đổi của đời sống hiện đại.

______________________

Tài liệu tham khảo

1. Lưu Minh Trị (chủ biên). (2002). Đình và chùa Ngũ Xã trong Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam Thăng Long - Hà Nội. Nhà xuất bản Hà Nội.

2. 寧 平 省 嘉 遠 縣 大 有 總 各 社 神 蹟 (Ninh Bình tỉnh Gia Viễn huyện Đại Hữu tổng các xã thần tích). AE.a4/9. Viện Nghiên cứu Hán - Nôm.

3. Đại Việt sử ký toàn thư. (2012). (Tập 1). Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

4. Xem thêm: Kỷ yếu hội thảo Thân thế, sự nghiệp Nguyễn Minh Không. UBND tỉnh Ninh Bình phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức, năm 2019.

5. Đoàn Nguyễn Tuấn, tên hiệu Hải Ông, sinh năm 1750, quê làng Hải An, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (nay là xã Quỳnh Phụ, tỉnh Hưng Yên). Ông là con Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục, con rể Tiến sĩ Nhữ Đình Toản và là anh vợ Đại thi hào Nguyễn Du. Sinh thời, ông được bổ nhiệm nhiều chức quan và sáng tác nhiều thơ văn, vịnh cảnh, cổ tích. (Xem thêm: Trịnh Khắc Mạnh. (2024). Từ điển tác gia Hán Nôm Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. tr.130-131).

6. Dương Bá Cung (1795-1868), quê ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông (nay là xã Thường Tín, thành phố Hà Nội). Năm 1821, đời Minh Mạng, ông đậu Cử nhân, sau đó được bổ nhiều chức quan. (Xem thêm: Trịnh Khắc Mạnh. (2024). Từ điển tác gia Hán Nôm Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội).

7. Hà Nội địa dư 河內地輿. A.1154. Viện Nghiên cứu Hán - Nôm. Bản dịch tham khảo trong sách Địa chí Thăng Long Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên (chủ biên). Nhà xuất bản Thế giới, 2007.

8. Câu này trong sách Kinh Dịch, Hệ từ thượng Khúc thành vạn vật nhi bất di, nghĩa là: Tựu thành trọn vẹn muôn vật mà không bỏ sót.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 3/6/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/6/2026; Ngày duyệt đăng: 10/7/2026.

TS ĐỖ THỊ BÍCH TUYỂN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 651, tháng 8/2026